4.2.1. Liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và nhiễm vi rút viêm gan B
Bảng 3.4 cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở đối tượng nghiên cứu (p>0,05).
Nghiên cứu Kwang Huh và cộng sự cũng cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính và tình trạng HBsAg (+) [47]. Ngược lại nghiên cứu Phạm Văn Lình (2006) [26], nghiên cứu Phạm Ngọc Thanh (2019) [25] cho thấy có mối liên quan giữa giới tính và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B.
Bảng 3.5 cho thấy có mối liên quan giữa nhóm tuổi và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B của đối tượng nghiên cứu (p<0,05). Tỷ lệ HBsAg (+) chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 15-29 và 30-44 (100,0%), giảm dần ở nhóm tuổi 45-59, giảm mạnh ở nhóm tuổi ≥60 (67,9%).
Nghiên cứu Kwang Huh và cộng sự cũng cho thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, tỷ lệ HBsAg (+) cao nhất nhóm tuổi 41- 50 [47].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân ung thư gan nguyên phát ở nhóm tuổi 15-29 và 30-44 hầu hết 100,0% nhiễm vi rút viêm gan B. Điều đó cho thấy nhiễm vi rút viêm gan B có thể là bệnh nguyên quan trọng dẫn đến ung thư gan nguyên phát ở lứa tuổi trẻ.
Bảng 3.6 cho thấy không có mối liên quan giữa nghề nghiệp và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở đối tượng nghiên cứu (p>0,05).
Nghiên cứu của Phạm Văn Lình và cộng sự (2006) lại cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao nhất ở nhóm lao động chân tay [26], nghiên cứu của Phạm Ngọc Thanh (2019) cũng cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và nghề nông có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao hơn các ngành nghề khác [25].
Bảng 3.7 cho thấy không có mối liên quan giữa trình độ học vấn và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở đối tượng nghiên cứu (p>0,05).
Nghiên cứu của Phạm Văn Thức và cộng sự (2011) cũng cho thấy không có sự liên quan giữa trình độ học vấn và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B [33].
Bảng 3.8 cho thấy có mối liên quan giữa nơi ở và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B (p<0,05). Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở nông thôn cao hơn thành thị
(84,4% so với 60,0%).
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Cường (2017) cũng cho thấy có mối liên quan nơi ở và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B ( nông thôn có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao gấp 1,47 lần so với những người sống ở thành thị) [2].
4.2.2. Liên quan giữa tiền sử can thiệp y tế và nhiễm vi rút viêm gan B
Bảng 3.9 cho thấy không có sự liên quan giữa tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B của đối tượng nghiên cứu với tiền sử can thiệp y tế như: Phẫu thuật, xẻ nhọt khâu da, châm cứu chích lễ, tiêm truyền dịch, chữa nhổ răng, truyền máu (p>0,05).
Trần Thị Minh Diễm và cộng sự (2006) cho thấy sự liên quan giữa tỷ lệ HBsAg (+) và tiền sử có sử dụng các dịch vụ y tế (truyền máu, tiêm truyền, chữa răng, chích lễ) là chưa rõ ràng. Mặc dầu tiền sử có phẫu thuật và các thủ thuật như xẻ nhọt khâu vs các vết thương có OR là 1,36 và 1,16 nhưng khoảng tin cậy chưa cho phép kết luận về các yếu tố nguy cơ này [27]. Nghiên cứu của Phạm Văn Thức và cộng sự (2011) cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B với tiền sử truyền máu hoặc phẫu thuật [33]. Ngược lại nghiên cứu của Phạm Minh Khoa (2014) lại cho thấy có mối liên quan giữa truyền máu và tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B [12].
Các can thiệp y tế đều tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm vi rút viêm gan B qua đường máu. Tuy nhiên hiện nay do sự phát triển của nền y tế, các vật tư y tế được sử dụng
1 lần. Mặt khác do ý thức của nhân viên y tế cũng tăng lên, việc hiểu biết về bệnh cũng ngày càng được hiểu rõ, các dụng cụ dùng trong thủ thuật phẫu thuật được khử trùng, đảm bảo vô trùng tốt hơn, hạn chế việc lây truyền các bệnh truyền nhiễm.
4.2.3. Liên quan giữa hành vi nguy cơ và nhiễm vi rút viêm gan B
Bảng 3.10 cho thấy có mối liên quan giữa dùng chung dao cạo với trình trạng nhiễm vi rút viêm gan B của đối tượng nghiên cứu (p<0,05). Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B với các thói quen và hành vi nguy cơ như: dùng chung dụng cụ làm móng tay chân, xâu lỗ tai, xăm da (p>0,05).
Nghiên cứu Ngô Viết Lộc (2011) cũng cho thấy có mối liên quan giữa thói quen dùng chung dao cạo và tình trạng HBsAg (+), không tìm thấy mối liên quan giữa các thói quen dùng chung bàn chải răng, dùng chung dụng cụ làm móng tay chân, xăm da [14].
Thói quen dùng chung dao cạo tiềm ẩn nhiều rủi ro lây nhiễm vi rút viêm gan B vì vi rút viêm gan B có thể tồn tại ít nhất 7 ngày ngoài cơ thể và có thể phát hiện thấy vi rút với tải lượng cao mặc dù không nhìn thấy máu trên những vật dụng đó.
Ngoài ra việc da bị tổn thương do dao cạo dẫn đến vi rút dễ dàng xâm nhập vào cơ thể. Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số là nam giới nên thường tiếp xúc nhiều với dao cạo râu, vì vậy cần có biện pháp tuyên truyền cho đối tượng về đường lây truyền này để có các biện pháp phòng ngừa thích hợp để tránh lây nhiễm cho gia đình và cộng đồng.
4.2.4. Liên quan giữa tiền sử gia đình có người nhiễm vi rút viêm gan B với nhiễm vi rút viêm gan B
Bảng 3.11 cho thấy có mối liên quan giữa tiền sử gia đình có người nhiễm vi rút viêm gan B với tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B của đối tượng nghiên cứu (p<0,001).
Một số nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B với tiền sử gia đình mắc bệnh gan như Phạm Ngọc Thanh và cộng sự (2019) (OR=2,43, KTC 95%=1,54-3,84) [23], Phạm Văn Thức và cộng sự (2011) (OR=2,12, p<0,05) [33].
Có nhiều khả năng lây nhiễm khi nói về lây nhiễm vi rút viêm gan B trong gia đình cụ thể như: lây nhiễm qua quan hệ vợ chồng, lây nhiễm từ mẹ sang con cả
theo chiều ngang lẫn chiều dọc do đó khả năng lây nhiễm này rất lớn, lây nhiễm khác qua sinh hoạt cá nhân. Theo nghiên cứu Trần Thị Minh Diễm và cộng sự (2006) cho thấy tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B trong gia đình có người HBsAg (+) là
77,4% [27], điều đó chứng tỏ khả năng lây nhiễm cao ở người có tiền sử gia đình nhiễm vi rút viêm gan B. Vì vậy cần có các biện pháp tuyên truyền nâng cao ý thức phòng bệnh của người dân, đặc biệt nếu có người thân có tiền sử nhiễm vi rút thì
nên kiểm tra tất cả các thành viên còn lại để phát hiện người mang vi rút nhằm điều trị kịp thời hoặc tiêm phòng vắc xin cho những người chưa bị nhiễm vi rút.
4.2.5. Liên quan giữa tiêm phòng vắc xin viêm gan B và nhiễm vi rút viêm gan B Bảng 3.12 cho thấy có mối liên quan giữa tiêm phòng vắc xin viêm gan B và
tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B của đối tượng nghiên cứu (p<0,05).
Nghiên cứu Phạm Ngọc Thanh và cộng sự (2019) cho thấy nhóm đã tiêm vắc xin viêm gan B có nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan B thấp hơn nhóm chưa được tiêm vắc xin (OR=0,39, KTC 95%=0,23-0,70) [25], nghiên cứu của Ngô Viết Lộc (2011) cũng cho thấy có sự liên quan giữa nhiễm vi rút viêm gan B với việc tiêm phòng vắc xin viêm gan B tỷ lệ HBsAg (+) ở nhóm chưa tiêm phòng cao hơn so với nhóm tiêm phòng đầy đủ 3 mũi vắc xin viêm gan B [14].
Các bằng chứng tại Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan cho thấy tầm quan trọng của việc tiêm chủng rộng rãi. Tỷ lệ người mang HBsAg tại Trung Quốc khi bắt đầu chương trình tiêm chủng cho trẻ sơ sinh năm 1992 là 9,8%. Năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 7,2%, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi chỉ còn 1% [51].
Chương trình tiêm chủng viêm gan B quốc gia được thực hiện ở Đài Loan năm 1984 đã giảm tỷ lệ mang vi rút ở trẻ 6 tuổi từ 10,5% năm 1989 xuống 1,7% năm 1999 [46]. Tại Hàn Quốc, tỷ lệ người mang HBsAg giảm từ 10% năm 1980 xuống 3,8% năm 2007 [55]. Ở Thái Lan, năm 2004 sau 12 năm thực hiện tiêm chủng rộng rãi, tỷ lệ này giảm xuống còn 4,0% trong 6.213 đối tượng nghiên cứu [43].
Ở Việt Nam, tiêm phòng vắc xin viêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1997, các đối tượng hiện tại đã được tiêm chủng vắc xin
viêm gan B chủ yếu là các đối tượng có tuổi từ 24 trở xuống, còn các đối tượng có
tuổi cao hơn chưa tiêm vắc xin và chưa được bảo vệ chính là những đối tượng có
khả năng truyền nhiễm cao nhất. Việc các đối tượng chưa nhiễm vi rút viêm gan B có ý thức đi tiêm vắc xin sẽ làm giảm một tỷ lệ đáng kể các đối tượng lây nhiễm và làm giảm tỷ lệ lưu hành của HBsAg trong cộng đồng. Từ đó giảm gánh nặng cho ngành y tế.