Nhóm nhân t ố khách quan

Một phần của tài liệu (Luận Văn Thạc Sĩ) Đề Xuất Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Thi Công Xây Dựng Công Trình Ở Công Ty Cổ Phần Xuân Sơn.pdf (Trang 31 - 35)

2.4.1.1. Cơ chế chính sách của Nhà nước và môi trường kinh doanh:

Chính sách kinh tế vĩ mô, cơ chế quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Đặc biệt là hoạt động xây dựng cơ bản. Chính sách quản lý của Nhà nước tác động trực tiếp đến các vấn đề quản lý chất lượng công trình, quản lý chi phí, nhân công, chi phí

24

 

máy, hay các vấn đề về tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp xây dựng, độc quyền, hỗ trợ, luật bảo vệ môi trường,..., Các chính sách này có thể tạo cơ hội, hoặc nguy cơ và thách thức cho các doanh nghiệp xây dựng.

Nếu thị trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi cho tất cả các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực thì nó tạo ra một khoản lợi nhuận đáng kể trong việc giảm bớt chi phí quản lý do không phải sử dụng nhiều biện pháp đối phó kịp thời do sự thay đổi này.

Chính sách lãi suất, tỷ giá hối đoái, tín dụng dành cho doanh nghiệp xây dựng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vốn của doanh nghiệp. Nếu các tỷ số này tăng và việc hạn chế tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp thì làm tăng chi phí xây dựng của doanh nghiệp và ngược lại.

Chính sách ưu tiên, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp trong vùng, ngành làm cho môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, từ đó làm cho các doanh nghiệp phải tăng cường chi phí cho việc tạo ra ưu thế đặc biệt hơn hẳn các đối thủ trên do đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thi công.

2.4.1.2. Sự hiểu biết vềđối thủ cạnh tranh:

Đối thủ cạnh tranh là nhân tố trực tiếp nhất đối với khả năng trúng thầu của doanh nghiệp xây dựng. Việc nắm bắt được thông tin về số lượng các đối thủ và năng lực của từng đối thủ đó là điều hết sức quan trọng trong công tác dự thầu. Từ những thông tin, hiểu biết này, doanh nghiệp mới đưa ra các thông tin về năng lực, biện pháp thi công tối ưu và nổi trội hơn so với đối thủ.

Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng các nhà thầu tham gia cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của ngành, sự đa dạng hoá cảu các đối thủ cạnh tranh, hàng rào cản trở sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn.

Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng trong nước đang phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh là các công ty nước ngoài có trình độ phát triển công nghệ thi công cao. Việc tranh thủ thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài và công nghệ tiên tiến thâm nhập vào thị trường đòi hỏi các nhà quản lý tranh thủ cơ hội nắm bắt thời cơ làm tăng cường khả năng cạnh tranh củ doanh nghiệp mình.

25

 

2.4.1.3.Sự biến động của yếu tố đầu vào:

Giá thành của phẩm xây lắp chiếm khoảng 60% đến 70% là chi phí nguyên vật liệu đầu vào như sắt, thép, xi măng và các máy móc thiết bị ngoại nhập..giá nhân công, chi phí máy. Do đó khi có thay đổi nhỏ về giá cả những nguyên vật liệu này thì chi phí cho xây dựng công trình sẽ tăng lên 15% đến 20% giá trúng thầu, tuỳ thuộc vào kết cấu từng loại công trình. Chẳng hạn như năm 2008 giá thép cho xây dựng đang được phê duyệt khoảng là 11 nghìn đồng /kg nhưng chưa đầy một năm cuối 2008 đến 2010 giá thép đã lên khoảng 16-17 nghìn đồng/kg. Năm 2011 tất cả chi phí nhân công, chi phí máy đều tăng do ảnh hưởng của lạm phát kinh tế vĩ mô.

Do đó gây tổn thất lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh xây dựng, thiếu hụt vốn thi công, công trình đình trệ, ứđọng vốn ở nhiều khâu.

Vì vậy các doanh nghiệp xây dựng phải có biện pháp dự báo rủi ro về giá cả cũng như sự biến động khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong tất cả các tình huống xảy ra đều phải có biện pháp đối phó và dự phòng làm cho việc sản xuất kinh doanh diễn ra ổn định và bền vững.

2.4.1.4. Điều kiện tự nhiên địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông liên lạc:

Sản phẩm xây dựng công trình thường là ở ngoài trời, và có mặt bằng trải dài và rộng trên địa lý hành chính. Do đó, các điều kiện tự nhiên về địa hình, khí hậu, thời tiết ở vùng, địa phương ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý tổ chức thi công các công trình, cụ thể là việc thiết kế tổ chức thi công, biện pháp thi công trên điều kiện tự nhiên đó.

Hệ thống giao thông, thông tin liên lạc cũng ảnh hưởng đáng kểđến công tác quản lý, điều hành công trình. Giao thông thuận tiện, làm cho việc vận chuyển, tổ chức mặt bằng thi công được tối đa, tiết kiệm được thời gian, chi phí trong vận chuyển,… dẫn đến giảm chi phí quản lý. Ngược lại, hệ thống giao thông quan vùng và điều kiện thời tiết không thuận tiện sẽ làm cho chi phí quản lý thi công tăng lên cụ thể:

Thiết kế có thể thay đổi theo yêu cầu của chủđầu tư về công năng hoặc biện pháp thi công, kỹ thuật, vật tư thay đổi cho phù hợp với sự biến đổi thực tếđó. Nếu

26

 

sự thay đổi thiết kế đó đáng kể thì nó nằm ngoài kế hoạch của doanh nghiệp nên phát sinh chi phí thay đổi thiết kế, mua sắm, dự trữ nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển đến công trường.

Hệ thống giao thông không thuận lợi, doanh nghiệp phải mất thêm chi phí do phải vận chuyển, tìm nguồn vật tư gần chịu chi phí giá cao, chi phí làm đường tạm cho tổ chức thi công,..., tất cả nhân tốđó làm ảnh hưởng đến quyết định trong quản lý thi công.

Điều kiện thời tiết không ủng hộ, mưa nhiều, thiên tai, lũ lụt làm thất thoát hoặc hư hỏng công trình, hay sản phẩm dở dang chưa được nghiệm thu, tiến độ thi công bị giãn đoạn.

2.4.1.5.Các đơn vị cộng tác thi công quanh vùng:

Đây cũng là nhân tố quan trọng góp phần tạo sự thành công trong doanh nghiệp xây dựng, bởi vì quá trình thi công một sản phẩm xây dựng không chỉ có đơn vị chủđầu tư, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công mà còn rất nhiều các đơn vị cộng tác, hợp tác thi công khác ngoài ngành như: Chính quyền địa phương, các đơn vị cung cấp vật tư, vật liệu, độ ngũ công nhân lao động phổ thông giản đơn đến các tổ ,đội công nhân xây dựng chuyên nghiệp của các đơn vị khác trong địa bàn ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn cũng như cộng tác tham gia tổ chức thi công.

Nếu ởđịa phương, vùng đó có nguồn cung cấp vật tưổn định, phong phú thì việc bố trí lưu trữ, kho phân phối vật tư trở lên dễ dàng và giảm bớt chi phí lưu kho và vận chuyển. Ngược lại.

Nếu nguồn lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật giản đơn có trình độ chuyên cao thì việc bố trí lao động và chất lượng sản phẩm được tạo ra đúng với yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật như thiết kế là rất cao. Ngược lại số lượng, chất lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu sẽ gây cản trở, khó khăn trong công tác điều hành và quản lý thi công đảm bảo chất lượng cũng như tiến độ thực hiện.

Chính quyền địa phương cũng như người dân sống quanh khu vực có công trình đi qua ủng hộ, tạo điều kiện cho đơn vị thi công thì việc triển khai tổ chức, quản lý thi công rất thuận tiện không bị giãn đoạn vì các yếu tố bên ngoài này cản trở và ngược lại

27

 

nếu chính quyền địa phương, người dân không ủng hộ, hợp tác thì nó gây ra không ít những khó khăn, trở ngại khi triển khai tổ chức thi công công trình.

Một phần của tài liệu (Luận Văn Thạc Sĩ) Đề Xuất Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Thi Công Xây Dựng Công Trình Ở Công Ty Cổ Phần Xuân Sơn.pdf (Trang 31 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(107 trang)