CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
3.4. Đánh giá chung về công tác quả n lý thi công xây dựng công trình c ủa Công ty
3.4.1. Những kết quảđạt được
- Chất lượng công trình: Với năng lực hiện tại, Công ty Cổ phần Xuân Sơn trong những năm qua luôn hướng nhiệm vụ tạo ra những công trình có chất lượng tốt với thời gian hoàn thành sớm nhất và chi phí bỏ ra là nhỏ nhất nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho Công ty và sớm đưa công trình vào sử dụng, đem lại lợi ích cho xã hội.
- Về quản lý và sử dụng máy móc thiết bị: Công ty đã từng bước sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị thi công, đồng thời hàng năm đầu tư tăng cường mua sắm thiết bị thi công cơ giới hiện đại phục vụ cho nhu cầu cấp thiết và phục vụ cho sản xuất trong những năm tiếp theo. Ngày càng có nhiều công trình đưa máy móc thiết bị vào thi công thay thế cho việc thi công bằng lao động phổ thông. Chính vì vậy, đã tiết kiệm được chi phí thi công và rút ngắn được thời gian thi công. Mang lại lợi nhuận không nhỏ trong việc sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị.
- Khối lượng: Phần lớn các dự án mà Công ty đã thi công đều đảm bảo được khối lượng theo như thiết kế. Công ty luôn cố gắng để thực hiện thật đúng và đủ, giám sát chặt chẽ quá trình thi công đểđảm bảo được khối lượng.
- Thời gian: Trong các dự án mà Công ty đã thực hiện, có tới 85% dự án đã thi công hoàn thành đúng tiến độ. Một số dự án do điều kiện khách quan mà bị chậm so với tiến độ được phê duyệt. Đó cũng một điều rất đáng khen ngợi của Công ty.
3.4.2. Những tồn tại, hạn chế
Thiết kế tổ chức thi công: Việc thiết kế tổ chức thi công nhìn chung Công ty đã đảm bảo được nguyên tắc cơ bản của việc thiết kế tổ chức thi công. Việc xác định khối lượng, các hạng mục công trình; thời gian thi công; số lượng lao động và ca máy phục vụ thi công đã được lưu ý thực hiện.
Biện pháp tổ chức thi công công trình Công ty cũng đã có giải pháp trước khi
63
thực hiện, nhưng chưa được chặt chẽ và áp dụng đúng. Theo từng giai đoạn thực hiện, vẫn chưa có đội ngũ kiểm tra thường xuyên và giám sát việc thực hiện đúng theo các biện pháp đã được đề ra. Cách thực hiện các biện pháp vẫn chưa được linh hoạt theo từng công trình cụ thể.
Quản lý chất lượng công trình: Việc triển khai hệ thống quản lý chất lượng công trình từ Công ty đến các ban đội thi công không được đồng bộ và thống nhất.
Nhiều công trình do chạy theo tiến độ, tỷ lệ giao khoán định mức cố định đã làm cho các đội thi công chạy theo lợi nhuận và bớt xén nguyên vật liệu đầu vào, thay thế vật tư không đúng tiêu chuẩn chất lượng quy định.... Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư kiểm tra giám sát từ cấp Công ty đến ban đội thi công còn yếu, thiếu không được bố trí đầy đủ phương tiện cũng như trình độ chuyên môn.
Về sử dụng máy móc thiết bị: Số lượng, chủng loại máy móc của Công ty còn nhiều hạn chế, hệ thống máy móc chưa đồng bộ và tỷ lệ máy móc trong những năm tới chuẩn bị hết khấu hao. Công nghệ lạc hậu, chi phí vận hành, sửa chữa lớn.
Còn phụ thuộc quá nhiều vào máy móc đi thuê, điều này làm cho việc chủ động thi công, tiến độ của công trình bị ảnh hưởng, chi phí đi thuê lớn.
Quản lý nguyên vật liệu: Không chặt chẽ hoặc có quản lý thì chỉ kiểm tra kiểm soát trên chứng từ chứ không có kiểm tra trước vào sau khi cho chủ nhiệm ứng trả tiền mua vật tư. Việc bố trí, kho bãi ở công trường cũng như công tác bảo quản chưa được quan tâm sát sao. Không ít những công trình phải ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu do công tác tổ chức cung ứng không được lên kế hoạch và việc sử dụng nguyên vật liệu chưa được hợp lý và tiết kiệm.
Về quản lý nguồn nhân lực: Đội ngũ cán bộ công nhân viên trên cấp quản lý công ty và các đội trưởng, chủ nhiệm công trình, đội ngũ kỹ sư có trình độ chuyên môn cao về số lượng quá mỏng; về trình độ chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật thi công hiện đại hiện nay. Bởi vì, hầu hết tầng lớp quản lý, kỹ sư ở công ty đều qua đào tạo hệ tại chức hoặc cao đẳng ra. Về độ tuổi lao động trung bình trên 40 tuổi do đó sức ì quá lớn không dễ dàng chấp nhận sự thay đổi, phong
64
cách làm việc mới. Đội ngũ cán bộ, kỹ sư có trình độ bị thiếu trầm trọng nhưng hàng năm công ty cũng không tổ chức tuyển dụng mà việc tuyển dụng căn cứ vào nhu cầu của các ban đội tự tuyển dụng hoặc ký hợp đồng lao động ngắn hạn. Không có đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, có kỷ luật gắn bó với công ty.
+ Đối với các công trình đòi hỏi có kỹ thuật thi công khó, quy mô lớn, khối lượng công việc nhiều, công nghệ thi công phức tạp và cần nhiều vốn thì việc giao khoán cho Ban, đội thi công các công trình đó thì tiến độ không hoàn thành và chất lượng công trình kém như hiện nay là điều không thể tránh khỏi.
+ Bộ máy quản lý của Công ty bao gồm Ban giám đốc; phòng kế hoạch – thi công;
phòng kế toán – tài chính chưa thực hiện hết vai trò, chức năng nhiệm vụ của mình.
Cụ thể:
Thứ nhất: Ban giám đốc chưa đi sâu, đi sắt năm bắt được thực lực về năng lực tổ chức thi công của ban, đội trước khi ra quyết định giao khoán. Trong những năm qua, có rất nhiều công trình bị chậm tiến độ thi công nguyên nhân chính là các chủ nhiệm công trình cùng một lúc nhận 2,3 công trình do tự tìm được việc. Mà năng lực thực thế chỉ thi công được một công trình và có công trình gối đầu tiếp theo.
Thứ hai. Ban giám đốc không tổ chức, đề ra kế hoạch cụ thể cho việc giám sát, điều hành hoạt động quản lý tổ chức thi công cho từng công trình. Chưa sát sao, đôn đốc tiến độ từng hạng mục công trình.
Thứ ba: Việc quản lý vốn tổ chức thi công các công trình không rõ ràng minh bạch. Công nợ các công trình của chủ nhiệm bị kéo dài không thanh toán dứt điểm, nợ được gối đầu từ công trình này sang công trình khác. Tiền về của công trình này lại không được sử dụng vào thi công công trình đó mà chủ nhiệm công trình ứng ra để trả nợ cho công nợ ở công trình cũ. Do đó, vốn dành cho thi công công trình mới đang thi công bị thiếu và bị động trong tổ chức thi công. Có nhiều công trình bị dừng thi công do không có tiền để mua, thuê các yếu tốđầu vào.
3.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 3.4.3.1. Nguyên nhân bên trong.
Công ty không đi sâu tìm hiểu các yếu tố thực tế ảnh hưởng trực tiếp đến
65
hoạt động thiết kế tổ chức thi công. Cụ thể: điều kiện tự nhiên khí hậu, địa hình, khả năng sử dụng mặt bằng thi công, khả năng khai thác vận chuyển nguyên vật liệu trên thị trường, hệ thống giao thông trong vùng, nguồn cung cấp lao động phổ thông và các điều kiện khác.
Mặt khác, công tác quản lý giám sát quản lý thi công của cấp quản lý Công ty và chủ nhiệm công trình còn lỏng lẻo dẫn đến vẫn còn tồn tại một số công trình bị thất thoát nguyên vật liệu và đặc biệt là việc sử dụng tiền ứng thi công không đúng mục đích, không đưa vào chi phí thi công công trình mà sử dụng vào mục đích cá nhân hoặc thi công các công trình gửi bên ngoài Công ty.
Trong quá trình thi công xây lắp, Công ty không tìm hiểu kỹ về năng lực thực sự của các chủ nhiệm công trình về tài chính, năng lực tổ chức thi công, năng lực về máy móc thiết bị và năng lực vềđội ngũ kỹ sư giúp việc một cách cẩn thận và cặn kẽ. Nhiều cán bộ chủ nhiệm công trình năng lực tổ chức thi công kém, không có người giúp việc cũng được Công ty bố trí làm chỉ huy trưởng công trình và giao khoán khối lượng công việc.
Đặc biệt công tác nghiên cứu và lập kế hoạch tổ chức thi công công trình của các hạng mục chính không được đầu tư triển khai cụ thể và khoa học.
Công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị chưa được tính toán cụ thể về yêu cầu máy móc thiết bị cho việc thi công các công trình đã trúng thầu hàng năm và các năm tiếp theo. Bị động trong việc điều hành và huy động máy móc thiết bị, Công nghệ máy móc thiết bị thi công lạc hậu, chế độ bảo dưỡng, định kỳ không được quan tâm, tỷ lệ hỏng hóc vặt xảy ra thường xuyên làm giảm tiến độ thi công.
Việc tính toán nguồn vốn và nhu cầu cần dùng của nguyên vật liệu đầu vào của Công ty không được các phòng ban quan tâm giám sát chặt chẽ. Việc ỉ lại cho việc giao khoán hết cho chủ nhiệm công trình đã làm cho cấp quản lý bị động trong kế hoạch sử dụng vốn và quản lý vật liệu đầu vào.
Công tác đào tạo và sử dụng lao động của Công ty chưa được chú trọng nâng cao trình độ cán bộ quản lý và đội ngũ kỹ sư công nhân lành nghề. Năng lực thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Chính sách thu hút nguồn
66
lao động có trình độ cao không được quan tâm và cầu thị. Có rất nhiều cán bộ, kỹ sư sau khi công tác 3 đến 4 năm đã xin chuyển đơn vị. Đội ngũ quản lý, giám sát chất lượng công trình còn mỏng và yếu. Không thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm của mình dẫn đến những sai sót trong quá trình thi công.
Cơ sở vật chất và công cụ hỗ trợ quản lý của Công ty không được hoàn chỉnh và hiện đại như: vận dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý tiến độ, quản lý khối lượng trong quản lý thi công....
3.4.3.2.Nguyên nhân bên ngoài.
Do đặc điểm của ngành có liên quan rất nhiều đến các chủ thể khác nhau tham gia vào quá trình thi công, nên có rất nhiều các nguyên nhân, nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình quản lý thi công công trình.
Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài nguyên nhân sau đây:
-Do điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình nơi công trình thi công làm cho việc thiết kế, tổ chức thi công công trình bịảnh hưởng và giãn đoạn.. Đồng thời làm cản trở việc vận chuyển nguyên vật liệu vào thi công do địa hình thi công hiểm trở trên sườn núi và chỉ có một con đường độc đạo....
-Môi trường xã hội địa phương nơi công trình đi qua: địa phương có người dân, cán bộ địa phương có trình độ, hệ thống giao thông phát triển và ý thức người dân nhận thức về lợi ích lớn lao mà giao thông, thuỷ lợi mang lại cho họ thì việc tổ chức thi công ở địa phương đó rất thuận tiện. Ngược lại, chính quyền địa phương, nhân dân không ủng hộ có những hành động cản trở hay ăn trộm vật tư, vật liệu và cản trở giao thông đi lại làm ảnh hưởng không nhỏđến tổ chức thi công. Mặt khác đối với lao động địa phương mà dồi dào và trình độ lao động nghề xây, thợ nề cao ở địa phương đó thì không ảnh hưởng nhiều về công tác thuê khoán nhân công và phụ thuộc vào thời vụ.
- Thị trường nguyên vật liệu, nhân công, chi phí máy biến động làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thi công. Giá vật tư như sắt, thép, cát, đá, sỏi đột ngột tăng giá, chủ hàng kìm hàng không xuất vật tư như trong hợp đồng đã ký và tạo ra sự khan hiếm. Hoặc thị trường lao động biến động khi nhà nước có chính sách điều chỉnh tiền lương cũng làm cho công tác quản lý thi công gặp khó khăn. Thị trường
67
máy móc thiết bị thi công hiện đại không đáp ứng được nhu cầu thực tế của công trình thi do nhà nước cấm nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng.
- Mặt khác do cơ chế quản lý của Nhà nước không được đồng bộ, chồng chéo giữa các ban ngành. Sự khác biệt văn hoá, cơ chế chính sách của mỗi địa phương cũng có nét riêng biệt làm ảnh hưởng đến việc thanh toán, quyết toán công trình. Công tác triển khai dự án còn nhiều vướng mắc đặc biệt là giải phóng mặt bằng, đến khi Nhà thầu thi công thì bị vướng mắc mà Nhà thầu muốn thi công nhanh và thu hồi vốn nhanh thì phải tự tổ chức phối hợp với chính quyền địa phương giải phóng mặt bằng làm ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ thi công và tài chính của DN.