" Trong 224 BN của nghiên cứu này, tuổi trung bình là 73,906 + 8,689 (từ 60 — 103 tuổi). Tuổi trung bình của BN trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn tuổi trung bình ở nghiên cứu năm 2007 của Trương Thị Hà Lam là 72,5 + 7,3 tuổi (tir 60 — 95 thổi) với p < 0,001. Điều này cho thấy BN cao tuổi XHTH có tuổi càng Cao ngày càng
tăng.
Theo kết quá của Biểu đề 3. 1, phân bố BN có ở các nhóm tuổi nhưng ở nhóm tuổi 70 — 79 chiếm tỷ lệ cao nhất 42 ,4%;. nhóm tuổi 60 — 69 cũng chiếm tỷ lệ cao 32,6%. Nhóm > 80 tuổi ít hơn hai nhóm trên, chỉ 25% do nhóm tuổi này vốn đã ít vì số
người sống thọ trên 80 tuổi là ít.
So sánh với các nghiên cứu có phân chia nhóm tuổi tương tự như trong nghiên cứu của chúng tôi
Bảng 4.1. Tỷ lệ BN theo nhóm tuổi của một số nghiên cứu
Nhóm tuôi | Hà Văn Quyết | Đặng Minh Phú Trương Thị Hà Của chúng
: 1994 [23] 1999 [21] Lam 2007 [9] tôi 2010
60 — 69 68,89 63,2 39,05 32,6
70 _ 79 26,67 26,3 43,81 | 43,81
30 1.44 10,5 17,14 25,0
Ta nhận thây ở các nghiên cứu trước năm 1994, 1999 tỷ lệ BN ở nhóm tuổi 60 ~ 69 đều trên 60%, tỷ lệ BN > 80 tuổi rất thấp. Nhưng với nghiên cứu gần đây của Trương Thị Hà Lam tỷ lệ BN nhóm tuổi trên 70 đã tăng cao hơn so với các nghiên cứu trước và trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ BN nhóm tuổi > 80 da cao hơn nữa đạt
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học sọ
đến 25%. Điều này phù hợp với sự thay đổi trong cơ cầu dân số của nước ta là số người cao tuổi ngày cảng tăng, số người sống thọ ngày càng nhiều.
Ngoài ra ở bệnh nhân cao tuổi, do có nhiều bệnh kèm theo trong đó có bệnh lý cơ xương khớp (47,69%), bệnh tim mạch (13,52%) đã sử dụng nhiều các thuốc ảnh hưởng đến niêm mạc DD gây viêm loét và XH [8]. Theo Thai Thi Phuong Lién, Thanh Thi Thu Ha, Nguyén Dang Sang nghiên cứu NSAIDs, aspirin va nguy co XHTH &
người lớn tuổi, yếu tố nguy cơ do ding NSAIDs tăng dần theo tuổi: < 60 tuổi 15%, 60
— 75 tudi 71,6%, > 75 tuổi 13 3% [11].
Theo Hasen 1996, nguy co XHTH do dùng NSAIDs tăng theo tuổi [dẫn theo
Ll}:
—— -<60tuổi:l lần.
- 6] — 75 tuổi: 3,5 lần, - > 75 tuổi tăng 12,5 lần,
' Bién chứng XHỈTH sau dùng thuốc kháng viêm xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân lớn
tuổi > 60 tuổi = 76,5% [19]. Điều này giải thích bệnh nhân cao tuổi nguy cơ XHTH
ngảy càng tăng. ì
.4.1.2. Giới
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ XHTH ở nam nhiều hơn nữ. Nam chiếm 57,6%, nữ chiếm 42,4%, tỷ lệ nam/nữ là 1,36 lần. Các nghiên cứu -trong và
ngoài nước cũng đều có tỷ lệ nam nhiều hơn nữ.
Trong nghiên cứu của Hà Văn Quyết (1994) nghiên cứu ứng dụng nội soi trong cấp'tứu XHTH trên tại BV Việt ~ Đức và BV Xanh - Pôn, tỷ lệ nam/nữ là 2,45 lần [23]
Theo Đặng Minh Phú ( 1999) nghiên cứu XHTH cao tại BV 354, tỷ lệ nam/nữ là 5 lần [21].
Theo Trần Văn Huy nghiên cứu XHTH cao tại BV trung ương Huế (2002), tỷ lệ nam/nữ là 4,5 lần [6].
— Theo Trương Thị Hà Lam (2007) nghiên cứu XHTH cao ở người cao tuổi tại BV trung ương Huế, tỷ lệ nam/nữ là 2 ,09 lần [9].
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học 5]
Các nghiên cứu ngoài nước về XHTH trên có tỷ lệ nam/nữ lần lượt là 3 lần [33], 2, ‘81 lần [91], 2,5 lần [ 92], 1,79 lần [38], 1,65 lần [79], 1,63 lần [89], 1,5 lần [97], 1,33 lần [78].
Qua số liệu của các nghiên cứu trong nước ta thấy ở các nghiên cứu XHTH trên gần đây có tỷ lệ nam / nữ không chênh lệch nhiều so với các nghiên cứu trước kia, có thể do người cao tuổi có tỷ lệ nữ nhiều hơn nam [8]. Tuy nhiên tỷ lệ nam/nữ vẫn còn >
-ẽ cú thể do liờn quan một phần với sự trội hơn của nam giới trong bệnh loột DDTT, ung thu DD, xơ gan...nam gấp 2 — 3 lần nữ [24], và một phần do tỷ lệ nghiện rượu cao
"hơn: ở nam gidi. Ngoai ra nam nhiều hơn nữ còn có thể do nam giới dễ bị tác động bởi yếu tố môi trường và xã hội như thói quen Hút thuốc lá, lao động nặng nhọc..
Với bảng 3.3 phân bố theo nhóm tuổi và gidi cdc đối tượng nghiên cứu ta thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo nhóm tuổi và giới, từ 60 — 69 tuổi nam > nit, nhung từ 70 tuổi trở lên nữ nhiều hơn nam. Kết quả này phù hợp với tỷ lệ nữ ngày cảng tăng trong dân số [8].
4.1.3. Địa chỉ
Tỷ lệ cao tại Cần Thơ 40,6% và Hậu Giang 32,6%, các tỉnh khác có tỷ lệ thấp.
Các ty lệ này phù hợp với vị trí địa lý của các tỉnh, Hậu Giang nằm cạnh sát Cần Thơ, là tỉnh vừa tách ra từ Tỉnh Cần Thơ; với các tỉnh khác cho thấy BN đến là do chuyển viện nên mức độ XHTH vốn là nặng.
4.1.4,:Ngay nam vién
ngày (từ 2 ~ 42 ngày). | Ngày năm viện của BN trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 9,299 + 5,198 +__ Theo nghiên cứu của Romagnuolo thời gian năm viện ở nhóm bệnh nhân XHTH trên có điểm số nguy cơ < 1 điểm là 2 ngày (từ I — 4 ngày), nhóm > 1 điểm là 4 ngày : (2- 7 ngày) [79]. Còn ở nghiên cứu của Thomas F.Imperiale thời gian nằm viện đa số trong khoảng 3 — 5 ngày [57]. Các nghiên cứu khác cũng có thời gian nằm viện thay đổi như sau: Theo George J.Theocharis la 6,9 + 4,1 ngày ở nhóm bệnh XHTH trên từ 65 ~ 80 tuổi, còn nhóm > 80 tuổi là 8,1 + 5,5 ngay [91], theo T. A. Rockall ngày nằm
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học 53
cuu.cia M.J.S.Langman XHTH do loét DD vào các tháng mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 cao hơn số BN nhập viện vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 ( p < 0,001), còn với loét TT cũng có sự khác biệt như vậy với p < 0,05 [66].
ị Trong nghiên cứu của chúng tôi khi phân chia tỷ lệ bệnh theo tháng, theo mùa, theo giới vẫn chưa thấy sự khác biệt (p = 0,08); có thể do mẫu chưa đủ độ lớn hoặc thời tiết tại vùng đồng bằng sông Cửu Long không có nhiều khác biệt qua các tháng trong
năm. |