4.5.1. Mức độ xuất huyết
"_ Đa số trong nghiên cứu của chúng tôi là XHTH ở mức độ vừa với, ty lệ 37,9%
và nặng với tỷ lệ 41,1%, cho thấy tầm quan trọng trong điều trị cũng như tiên lượng BN. Tỷ lệ này cho thấy BN trong nghiên cứu của chúng tôi mức độ nặng cao hơn nhiều so với các nghiên cứu khác kể cả nghiên cứu của Trương Thị Hà Lam ở BN cao tuổi tại THuế, Tỷ lệ mức độ nặng chỉ thấp hơn nghiên cứu của Hà Văn Quyết, Trong nghiên cứu này “ty lệ XHTH nang 14 65%, nhưng nghiên cứu này thực hiện từ trước 1994 trên
| BNXHTH gồm BN trẻ và cao tuổi.
Bảng 4.7. Mức độ XH 6 một số nghiên cứu
Nhẹ (%) Vừa (%) ẽ Nặng (%)
Nguyễn Thị Hoà Bình [2] 58,8 36,1 5,1
Truong Thi Ha Lam [9] ~ 36,19 46,67 _ 17,14
Kha Hữu Nhân [18] 40,73 31,64 27,63
Hà Văn Quyết [23] 12 - 23 _ 65
' | Tran Viét Thanh [25] 52,29 33,95 13,76
"| Trdn Th] Khanh Twong [28] 25,5. 27,1 47A
Của chúngtô —- OT _ 37,9 41,1 |
Ở bảng 3.30. chúng tôi thây liên quan mức độ XH và tuôi dù chưa có sự khác biệt về thống kê (p=0,339), nhưng ở BN nhóm tuổi > 80, XH nặng chiếm tỷ lệ lên đến
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học 61
50%, Tỷ lệ này khác với nhận định của Trương Thị Hà Lam là mức độ XH nặng gặp
nhiều ở nhóm 70 — 79 tuổi.
! Xem xét về liên quan mức độ XH và giới, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ XH ở nam và nữ. Mức độ XH nặng ở nàm có tỷ lệ lên đến 50,4% so với 28,4% ở nữ, trong khi ở mức độ XH vừa ở nữ có tỷ lệ 51,6% cao hơn ở nam là:
27,9%. ˆ
Về liên quan mức độ XH và nguyên nhân XHI, chúng tôi thấy rằng ở mức độ XH nặng các khối u có tỷ lệ cao 50%, rồi đến loét 45,1%. Ở mức độ vừa u và GTMTQ
có tỷ lệ cao XH nặng. TT.
;_ Đối chiếu với vị trí XH, chúng tôi thay rang XHTH nang gap nhiều ở BN loét tá tràng với tỷ lệ 54,7%. Tại tá tràng, mặt sau hành tá tràng là vị trí gay XH nặng dé tai phat, với mạch máu có đường kỉnh 0,1 — 3,45 mm mà trong đó 30% là > 1,5 mm, kích thước mà khó kiểm soát chảy máu bằng nội soi. Trong khi ở DD, đường kính của mạch máu thì nhỏ hơn chỉ từ 0,1 — 1,8 mm ( trung bình 0,7mm) và chỉ 20% là > 1mm [72].
Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê.
4. 5.2. Mire d6 suy gan
Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 26 BN XHTH do vỡ GTMTQ, chúng tôi . thấy rằng nhóm Child B có tỷ lệ cao 57,7%, nhóm Child C chi 7,7%. Xem lại về độ giãn TMTQ của các BN này thì tỷ lệ cao 69,6% là giãn độ 3. Như vậy không có sự
tương quan giữa mức độ giãn tĩnh mạch và mức độ suy gan.
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học 6
4.5.4, 2. Phẫu thúật cấp cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 9 BN phải phẫu thuật cấp cứu chiếm 4%, Khuynh hướng hiện nay phẫu thuật cấp cứu mục đích là cầm máu, thực hiện nếu không ồn định XH sau điều trị nội soi. Vì vậy tỷ lệ này là thấp, gần như khuyến cáo của Hội Khoa học tiêu hoá Việt Nam. Tương tự trong nghiên cứu của Đào Xuân Lam tai BV nhân dân Gia Định năm 2010 tỷ lệ phẫu thuật chỉ 1% [10]. Trong nghiên cứu của G.J.
Theocharis tỷ lệ phẫu thuật là 2 „6% và 2,7% ở 2 nhóm 60 — 80 tuổi và trên 80 tuổi [91].
Nhưng nếu xem các nghiên cứu trước ta sẽ có tỷ lệ phẫu thuật cao hơn. Theo C.S.
Anand (1983) tỷ lệ phẫu thuật cấp cứu là 29% [33] và theo R. A. E. Holman (1990) ty i † phẫu thuật cấp cứu là 21,6% [S3].
Với chọn lọc như thế tỷ lệ tử vong sau phau thuật ở nhóm nghiên cứu của chúng ° tôi chỉ 1 BN trong số 9 BN phau thuật chiếm tỷ lệ là 11,11%. Do số BN ít nên khó đánh giá được khi so sánh với tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật của các nghiên cứu khác.
Theo Steven C. Elerding (1980) tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật là 27% [46]. Theo A. E.
Clason (1986) tỷ lệ này là 23% [44]. Theo Gregory A. Thomas (1992) tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật chỉ 5,2% [92]. ‘Nhung J. B. Y. So (2000) tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật là 17%
[86].
(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học
( › 69