III. VỀ KĨ NĂNG ĐỌC - HIỂU
3. Phương pháp làm bài
3.1. Nắm vững 3 mức độ câu hỏi 3.2. Phương pháp chung
- Bước 1: Đọc thật kỹ văn bản;
- Bước 2: Đọc hết các câu hỏi một lượt, đồng thời gạch chân dưới trọng tâm mỗi câu hỏi;
- Bước 3: Lần lượt trả lời từng câu.
3.3. Phương pháp cụ thể với mỗi mức độ câu hỏi a. Câu hỏi nhận biết:
- Dạng 1: Nhận biết phương thức biểu đạt: Cần lưu ý một số dấu hiệu: chính, chủ yếu, các, những, một, một số…
+ VD: Chỉ ra PTBĐ chính/chủ yếu thì đáp án chỉ có một và phải chính xác.
+ VD: Chỉ ra các/ những/ một số PTBĐ thì đáp án phải từ hai trở lên, chính xác.
+ Cần phân biệt rõ các khái niệm: phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ, phép (hình thức) lập luận, cách triển khai văn bản (hình thức văn bản) để tránh nhầm lẫn.
- Dạng 2: Tìm chi tiết, hình ảnh, sự việc, hành động, câu văn.
+ Tránh việc chép cả đoạn, có thể trình bày bằng cách gạch đầu dòng cho từng ý.
+ Tránh chủ quan vì cho là câu hỏi dễ nên đọc qua loa và trình bày sót ý, khi đó sẽ bị mất điểm, ảnh hưởng đến những nhận xét suy luận ở những câu sau như câu rút ra thông điệp...
+ Nếu yêu cầu nhận biết từ ngữ, hình ảnh: Cần đọc kĩ xem từ ngữ, hình ảnh đó hướng tới nghĩa gì.
VD: Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thuộc chất liệu văn học dân gian; chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh nhằm nhấn mạnh và khẳng định chủ quyền; chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh mang đặc trưng của thiên nhiên vùng Đồng bằng Bắc Bộ; chỉ ra các từ láy, từ tựng thanh, từ tượng hình…
- Dạng 3: Nhận diện các biện pháp tu từ, cần nắm chắc dấu hiệu nhận biết các phép tu từ đã học, sau đó chỉ rõ: so sánh thì so sánh cái gì với cái gì?.
- Dạng 4: Nêu nội dung chính của văn bản, cần trả lời bằng một câu văn ngắn gọn gồm đầy đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ; khái quát được nội dung văn bản, tránh dài dòng, lạc sang phân tích, cảm nhận, hoặc chưa gắn với phương thức biểu đạt chính. Muốn vậy, cần:
+ Tìm từ ngữ chủ đề, xác định đối tượng được duy trì trong đoạn văn bản.
+ Tìm câu chủ đề để (nếu có thường đứng ở đầu đoạn, sau câu chuyển ý hoặc cuối đoạn).
+ Khi trình bày nội dung văn bản phải gắn với phương thức biểu đạt chính:
Nếu đoạn văn bản, phương thức biểu đạt chính là tự sự thì khi viết nội dung cần bắt đầu bằng cụm từ “Đoạn văn kể về (kể lại)…”
Nếu đoạn văn bản, ngữ liệu phương thức biểu đạt chính là miêu tả thì khi viết nội dung cần bắt đầu bằng cụm từ “Đoạn văn tả về…”
Nếu đoạn ngữ liệu phương thức biểu đạt chính là biểu cảm thì khi viết nội dung đoạn ngữ liệu thường bắt đầu bằng cụm từ “Đoạn văn bộc lộ tình cảm về…”
Nếu đoạn văn bản, ngữ liệu phương thức biểu đạt chính là thuyết minh thì khi viết nội dung cần bắt đầu bằng cụm từ “Đoạn văn giới thiệu (trình bày, giải thích) về…”
Nếu đoạn văn bản, ngữ liệu phương thức biểu đạt chính là nghị luận thì khi viết nội dung cần bắt đầu bằng cụm từ “Đoạn văn bàn luận về…”
Ví dụ: Đoạn trích sau
“Huế đẹp với cảnh sắc sông núi. Sông Hương đẹp như một dải lụa xanh bay lượn trong tay nghệ sĩ múa. Núi Ngự Bình như một cái yên ngựa nổi bật trên nền trời trong
dịu của sông Hương. Những mái chèo thả buông, những giọng hò Huế ngọt ngào bay lượn trên mặt sóng, trên những ngọn cây thanh trà, phượng vĩ.
Huế có những công trình kiến trúc nổi tiếng được Liên hợp quốc xếp vào hàng di sản văn hóa thế giới. Huế nổi tiếng với các lăng tẩm của vua Nguyễn, với chùa Thiên Mụ, chùa Trúc Lâm, với đài Vọng Cảnh, điện Hòn Chén, chợ Đông Ba…
Huế được yêu vì những sản phẩm của mình. Huế là thành phố của những mảnh vườn xinh đẹp. Những vườn hoa, cây cảnh, những vườn chè, vườn cây ăn quả của Huế xanh mướt như những viên ngọc. Những chiếc nón Huế càng làm cho những cô gái Huế đẹp hơn, duyên dáng hơn.”
(Dẫn theo Tiếng Việt thực hành, Ngữ văn 8, tập I, trang 116) Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên: Thuyết minh
Nội dung của đoạn trích: Giới thiệu về vẻ đẹp của Huế.
b. Câu hỏi thông hiểu:
- Dạng 1. Câu hỏi yêu cầu hiểu nghĩa của từ, câu: Vận dụng thao tác giải thích để giải quyết (là gì?), với một câu dài, cần xem xét có bao nhiêu vế, hiểu lần lượt từng vế, sau đó mới khái quát nghĩa cả câu.
VD: Em hiểu như thế nào về nghĩa của hai câu:
“Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm Những chồi non tự vươn lên mà sống”
+ Đất là điều kiện, là môi trường sống chung cho mọi hạt giống;
+ Những chồi non phải tự mình vươn lên, sống khỏe mạnh hay yếu ớt đều là do tự mình quyết định
→ Nghĩa của hai câu: Muốn nói tới con người chúng ta ai sinh ra cũng có điều kiện được sống, còn sống như thế nào thì tự mình phải quyét định, phải nỗ lực vươn lên để khẳng định bản thân, sống có ích.
- Dạng 2: Đặt nhan đề cho văn bản/đoạn trích
+ Nhan đề cần nêu khát quát nội dung mà văn bản/đoạn trích đề cập đến.
+ Có thể đặt nhan đề dựa vào một chi tiết tiêu biểu trong văn bản/đoạn trích hoặc dựa vào ý nghĩa, thông điệp của văn bản/đoạn trích đó gợi ra.
+ Nhan đề cần được trình bày ngắn gọn đặt trong dấu ngoặc kép, tránh đặt nhan đề quá dài dòng, xa rời nội dung văn bản.
- Dạng 3. Câu hỏi “Theo tác giả….”: Câu trả lời sẽ nằm ngay trên văn bản
VD: Theo tác giả, chúng ta sẽ được lợi ích gì khi “nhận thức được vẫn còn nhiều điều có thể học”?
Đáp án: Chúng ta sẽ bổ sung được nhiều kiến thức mới.
- Dạng 4. Câu hỏi “Theo em, tại sao tác giả cho rằng…..”: Câu trả lời sẽ dựa trên ba căn cứ cơ bản sau:
+ Thứ nhất: Căn cứ vào nghĩa của câu mà tác giả cho rằng…;
+ Thứ hai: Căn cứ vào ngữ liệu trên văn bản;
+ Thứ ba: Căn cứ vào sự hiểu biết của bản thân mình.
VD1: Tại sao tác giả cho rằng “Biết đâu, trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm ra được niềm đam mê cho bản thân”?
Đáp án: Vì dù bạn có chọn cho mình một bộ môn nào đi nữa, dù là nghe nhạc cổ điển, đến thăm các viện bảo tàng hay các phòng trưng bày nghệ thuật hoặc đọc sách về các chủ đề khác nhau… thì bạn cũng nên theo học đến cùng và tìm hiểu nó không ngừng nghỉ cho đến khi đạt đến kiến thức sâu sắc về lĩnh vực đó mới thôi. Biết đâu, trong quá trình học với quyết tâm rèn luyện và củng cố trí tò mò nó sẽ trở thành cá tính của bạn. Nó sẽ trở thành niềm đam mê không thể buông bỏ lúc nào mà bạn không hay biết.
VD2: Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Niềm vui lớn nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳng có gì đặc biệt cả.”?
Đáp án: Tác giả nói như vậy vì:
+ Khi nhận ra mình “chẳng có gì đặc biệt cả” tức là các em hiểu rõ mình là ai, mình đang ở đâu, các em hiểu rằng thế giới ngoài kia kì vĩ, lớn lao, thú vị vô cùng. Và khi đó, các em sẽ có ý thức, có ham muốn, có niềm vui khi học hỏi, khám phá và chinh phục thế giới.
+ Ngược lại, nếu tự mãn về bản thân, các em sẽ không tìm ra mục tiêu cho cuộc sống của mình, vì vậy, cuộc sống sẽ trở nên nhàm chán, vô vị.
(Trường hợp này câu trả lời không có trên văn bản)
Tóm lại, đây là kiểu câu hỏi khó nhất đối với học sinh, các em có thể dựa trên ba căn cứ trên để tìm câu trả lời cho phù hợp, tránh trả lời sơ sài, hời hợt, nông cạn ý.
- Dạng 5: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ: Cần chỉ rõ 3 tác dụng:
+ Về hình thức nghệ thuật: Tác giả dùng như vậy để làm gì? (làm cho câu văn, câu thơ thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tạo sự cân đối nhịp nhàng, tạo sự liên kết, nhấn mạnh khẳng định…ý này cần căn cứ vào tác dụng, chức năng cơ bản của phép tu từ
cụ thể: Điệp ngữ thường dùng để tạo ra sự nhấn mạnh/liệt kê/ khẳng định/liên kết….; So sánh dùng để làm nổi bật/nhấn mạnh vẻ đẹp/đặc điểm, tính chất của đối tượng …);
+ Về nội dung: Phép tu từ đó thể hiện/giúp diễn tả rõ nội dung gì? Như thế nào?;
+ Về tư tưởng thái độ, bài học: biện pháp tu từ đó giúp em nhận ra tư tưởng thái độ tình cảm nào của tác giả, và rút ra được bài học, lời khuyên gì cho bản thân.
VD: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.”
+ (1) Biện pháp ẩn dụ.
+ (2) Chi tiết "mặt trời trong lăng rất đỏ".
+ (3) Tác dụng/Ý nghĩa: tạo ấn tượng, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; ca ngợi sự lớn lao, vĩ đại của Bác Hồ, bất tử hóa hình ảnh Bác trong lòng dân tộc; thể hiện niềm tôn kính thiêng liêng và lòng biết ơn vô hạn của tác giả đối với Bác.
c. Câu hỏi vận dụng: Câu trả lời hoàn toàn do nhận thức, cách nghĩ của chúng ta.
- Dạng 1. Nếu yêu cầu rút ra thông điệp: Có hai cách, một là chọn ngay một câu có ý nghĩa nhất làm thông điệp, hai là tự rút ra ý nghĩa của văn bản rồi chọn đó làm thông điệp, diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình (cần ngắn gọn, nhưng đủ ý nghĩa). Sau đó đều phải lí giải vì sao anh/ chị chọn thông điệp đó.
(Lưu ý: Đây là câu hỏi vận dụng, có độ phân hóa cao, nên dù câu hỏi không yêu cầu giải thích vì sao, hs vẫn nên lí giải nhưng phải thật ngắn gọn)
- Dạng 2.
+ Nêu lên ý nghĩa/thông điệp/ điều tâm đắc (cần nhiều hơn 2 điều), điều tâm đắc nhất (chỉ nêu một điều, tiêu biểu nhất ), điều tâm đắc rút ra phải căn cứ vào văn bản, hưởng ứng văn bản, tránh suy diễn quá xa hoặc vô căn cứ.
+ Nêu một số việc làm cụ thể: Câu trả lời hoàn toàn dựa trên sự hiểu biết của bản thân, cần nêu được ít nhất 3 nội dung/3 ý, rõ ràng, cụ thể tránh sơ sài nhưng cũng tránh vòng vo, dài dòng.
- Dạng 3: Câu hỏi liên hệ
- Đây là dạng câu hỏi thường xuất hiện trong câu hỏi cuối cùng của bài đọc hiểu văn bản.
Câu hỏi sẽ có 2 kiểu chủ yếu:
+ Yêu cầu học sinh viết những câu ngắn từ 3 đến 5 dòng để trình bày hoặc nêu ý kiến đồng ý hay không đồng ý, đúng hay sai về một vấn đề; bày tỏ quan điểm suy nghĩ cá nhân. Cần lý giải từ những góc nhìn hợp lý, thuyết phục.
+ Yêu cầu nêu giải pháp cho vấn đề được đề cập tới văn bản. Trong dạng câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải liên hệ thực tế và để làm tốt câu hỏi này thì học sinh phải có kiến thức xã hội, kiến thức thực tế.
* Lưu ý phân bố thời gian: Câu này chiếm từ 2,5 đến 3,0 điểm nên thời gian hợp lí giao động từ 15 - 20 phút. Nếu quá thời gian trên mà vẫn chưa giải quyết hết thì phải dừng lại để làm phần Làm văn. Sau khi hoàn thành xong phần làm văn, tiếp tục suy nghĩ trả lời (nếu còn thời gian).