PHẦN 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ
I. HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM
1. Thế nào là đoạn văn?
Đoạn văn là một đơn vị cấu thành văn bản, chứa đựng một nội dung nhỏ, một ý nhất định, tính từ chỗ lùi đầu dòng viết hoa đến chỗ chấm hết câu xuống dòng.
2. Về dung lượng: Trong cơ cấu đề thi hiện nay, viết ước chừng khoảng 2/3 trang giấy thi, tầm 15 câu/200 chữ. Không thể viết dài hơn vì sẽ tốn nhiều thời gian và sẽ phải bớt thời gian của câu NLVH. HS cần căn cứ vào số điểm, giới hạn của đề bài để cân đối, giải quyết hợp lý, không thể lan man để ảnh hưởng, “hi sinh” vào câu nghị luận văn học; quan trọng là bài viết có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đề bài.
3. Về chủ đề nội dung: Đề thường hỏi về các vấn đề gần gũi, có tính thời sự, có tính thực tiễn như mạng xã hội (sống ảo; nỗi lo về một thế hệ cúi đầu); môi trường (rác, điện tử); học tập và lựa chọn nghề nghiệp; các mối quan hệ trong đời sống gia đình, bè bạn, quê hương;
phẩm chất con người (ý thức, trách nhiệm, lối sống…) (Chủ yếu là đoạn văn bàn về tư tưởng, đạo lí, những vấn đề thuộc về những giá trị phổ quát).
4. Về hình thức/dạng đề:
- Thường bàn về một ý kiến dưới hình thức một câu tục ngữ, ca dao, châm ngôn, danh ngôn tiêu biểu; Về hai ý kiến trái ngược, bổ sung cho nhau (Vd: Đời ngắn đừng ngủ dài; đời ngắn hãy tranh thủ tận hưởng cuộc sống);
- Về một vấn đề đặt ra từ tác phẩm: thơ, truyện; Về một vấn đề rút ra từ văn bản phần Đọc hiểu;
- Về một vấn đề rút ra từ một câu chuyện;
- Về một vấn đề đặt ra từ thực tế đời sống;
- Về một vấn đề đặt ra từ một bức tranh.
- Dạng đề mở, không có đáp án duy nhất đúng, mà gợi ý hướng cho nhiều phương án trả lời:
+ Viết đoạn văn với chủ đề cho sẵn (Ví dụ: Sợ; Người chiến thắng; Lựa chọn; Từ những ngữ cảnh sau đây hãy viết một bài luận về chủ đề im lặng: “Im lặng là cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan. Ai không biết im lặng là không biết nói” (Pythagos) ; “Cuộc sống chúng ta bắt đầu chấm dứt ngay trong cái ngày mà chúng ta giữ im lặng trước những vấn đề hệ trọng.” (Martin Luther King); “Bạn không chỉ phải chịu trách nhiệm với những gì mình nói, mà cả những gì mình không nói”)
+ Viết đoạn văn hoàn thành tiếp mệnh đề bỏ lửng (Ví dụ: Vì mỗi khoảnh khắc đều là duy nhất…)
+ Viết đoạn văn trả lời câu hỏi. (Ví dụ: Nhà văn Victor Huygo từng nói: "Tương lai có rất nhiều tên: Với kẻ yếu, nó là Điều không thể đạt được. Đối với người hay sợ hãi, nó là Điều chưa biết. Với ai dũng cảm, nó là Cơ hội". Anh/chị lựa chọn là “kẻ yếu”, “người hay sợ hãi”
hay là “người dũng cảm”?)
5. Dàn ý cấu trúc và tiêu chí đánh giá 5.1. Dàn ý cấu trúc
- Dạng 1. Đề bài yêu cầu bàn về một bình diện của vấn đề như vai trò/ý nghĩa/tác hại/đề xuất…
VD: Viết đoạn văn nêu suy nghĩ về vai trò của sách đối với con người.
+ Nêu vấn đề, giải thích (nếu cần);
+ Bàn luận (trọng tâm);
+ Bài học nhận thức, hành động.
- Dạng 2. Đề bài yêu cầu bàn về một ý kiến/câu nói…
VD: Viết đoạn văn bàn về câu nói sau: “Gia đình luôn bên ta trên mọi nẻo đường, vực dậy khi ta vấp ngã, nở nụ cười khi ta thành công”
+ Nêu vấn đề, giải thích;
+ Bàn luận, chứng minh từng phương diện của câu nói;
+ Phê phán, mở rộng;
+ Bài học nhận thức và hành động.
5.2. Tiêu chí đánh giá
Giám khảo sẽ cho điểm dựa vào 2 yêu cầu cơ bản:
- Nội dung: Kiến thức (nhận thức của HS về vấn đề mà đề bài đưa ra) - Kĩ năng:
+ Vận dụng các thao tác, các phương thức biểu đạt; dùng từ; diễn đạt…;
+ Giới hạn câu/dòng: HS không đảm bảo đúng số dòng, số câu qui định có thể bị trừ điểm (Lưu ý một câu có thể viết thành nhiều dòng), Hs cần biết cách phân bổ số câu/dòng trong đoạn văn cho phù hợp, bàn sâu vào trọng tâm vấn đề đặt ra trong đoạn.
6. Hướng dẫn các bước viết đoạn văn:
- Bước 1: Xác định vấn đề nghị luận
+ Gạch chân từ ngữ then chốt, xác định rõ vấn đề đặt ra ở đây là gì?
GVBM: MAI PHÚC ĐẶNG 91
+ Ý tưởng hay nội dung chủ đạo cần bàn luận, giải quyết là gì? (đặc biệt chú ý bình diện của vấn đề vì đoạn văn chỉ hỏi một bình diện) từ đó xác định các thao tác lập luận cần sử dụng, xác định mục đích yêu cầu cụ thể;
+ VD1: Bàn về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống (vấn đề nghị luận là ý chí con người; trọng tâm là sức mạnh; mục đích yêu cầu: đòi Hs phân tích ý nghĩa của ý chí con người trong cuộc sống;
+ VD2: Suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử tế; ý nghĩa của cho và nhận trong cuộc sống.
- Bước 2: Lựa chọn kiểu diễn đạt (mô hình đoạn văn):
* Nếu không bắt buộc thì nên trình bày theo kiểu Diễn dịch hoặc T-P-H.
- Bước 3: Tìm ý và dẫn chứng:
*Tìm ý (lí lẽ): Phát triển chủ đề thành các ý cụ thể chi tiết (bỏ qua khâu này sẽ rơi vào lủng củng, luẩn quẩn ý)
+ Xác định ý chính sẽ viết (những nội dung cụ thể là gì?);
+ Xác định thao tác lập luận chính;
+ Đặt câu hỏi để tìm ý. Vd: Vì sao ý chí con người lại đem đến sức mạnh?
+ Xây dựng, sắp xếp hệ thống ý. Vd1: Giúp vượt qua khó khăn thử thách; nuôi dưỡng khát vọng con người; nỗ lực vươn tới thành công; đóng góp tích cực cho cộng đồng…Vd2: Khi bàn về ý nghĩa của cho. Chia vấn đề để tìm ý theo trình tự: ý nghĩa với mình, ý nghĩa với những người xung quanh, ý nghĩa với xã hội…(Nhìn chung các ý cần đúng đắn thuyết phục, rõ ràng, logic, không lặp lại…).
*Tìm dẫn chứng: Dẫn chứng cùng với lí lẽ giúp sáng tỏ cho luận điểm, không có dẫn chứng thì lí lẽ đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu cũng không đủ sức thuyết phục và không tác động mạnh đến người nghe.
+ Yêu cầu chọn dẫn chứng: đúng đủ; tiêu biểu chọn lọc, logic hệ thống; mới mẻ hấp dẫn;
mang tính tích cực và tính thời sự;
+ Nguồn dẫn chứng có thể huy động, sử dụng: trong văn học; những tấm gương truyền cảm hứng; những câu nói nổi tiếng ở từng chủ đề (GV nên cũng cấp cho Hs ghi vào sổ tay, làm tư liệu);
+ Phân tích dẫn chứng: Nêu dẫn chứng tương ứng sau mỗi lí lẽ đưa ra, sau đó thì cần phải phân tích, đánh giá dẫn chứng nhưng phải thật ngắn gọn vì đoạn văn không cho phép viết dài dòng;
+ Những lỗi cần tránh: dẫn chứng quá quen thuộc, quá chung chung; dẫn chứng tiêu cực, chưa được kiểm chứng…
- Bước 4: Viết triển khai ý (Bám sát vào cấu trúc từng dạng đề)
*Các ý cần trình bày chặt chẽ, khoa học, có trọng tâm, tránh lan man/xa chủ đề:
A. Mở đoạn: Nêu nhận xét vấn đề nghị luận (nên viết gọn trong 1 câu, hoặc 1 đến 2 dòng, không nên dẫn dắt dài)
- Nhiệm vụ: dẫn dắt, định hướng cho đoạn văn. Thực chất là trả lời cho câu hỏi: Ta định bàn bạc về vấn đề gì?
- Viết câu chủ đề phải gần gũi, thể hiện được vấn đề cần nghị luận và quan điểm thái độ của người viết. có hai cách:
+ Trình bày trực tiếp vào vấn đề bằng một câu văn có tính chất giải thích từ ngữ mấu chốt (khái niệm, lợi ích bao quát nhất…);
+ Dẫn dắt gián tiếp từ một chi tiết/tình huống cụ thể tiêu biểu, một câu danh ngôn để khái quát lên vấn đề nghị luận.
-> Nếu đề không bắt buộc thì nên viết câu chủ đề ở đầu đoạn. Câu chủ đề chính là câu trả lời cho câu hỏi ở đề bài. Các câu sau triển khai các ý nhỏ để làm rõ chủ đề.
*Cần tránh:
+ Tránh cách viết câu mở đoạn dài dòng, sáo mòn cũ kĩ, hoặc viết câu chủ đề/mở đoạn không đúng vấn đề nghị luận;
+ Nếu dẫn dắt bằng thơ, thì tránh dùng cách trích dẫn theo hàng dọc vì sẽ biến phần trình bày thành 2 đoạn văn, đương nhiên mất điểm hình thức, cấu trúc;
+ Tránh dẫn dắt dài dòng, vòng vo, ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề cần nghị luận.