Triệu chứng cận lâm sàng

Một phần của tài liệu 2197 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và biến chứng sớm ở bệnh nhân được làm hậu môn nhân tạo tại bv đa khoa tp cần thơ bv đktư cần thơ và bv đại (Trang 49 - 52)

- Vị trí u trên nội soi hay CT-scan:

Theo tác giả Lê Văn Thiệu, khảo sát nội soi trên 151 bệnh nhân ung thư đại trực tràng thì vị trí u phát hiện được ở trực tràng là 44,37%, đại tràng sigma chiếm 31,78%, đại tràng xuống 10,59% và 13,26% ở các vị trí còn lại [26].

Tác giả Lê Mạnh Hà vị trí các khối u dựa vào nội soi hay CT-scan trên 196 bệnh nhân ung thư đại trực tràng kết quả là u trực tràng 35,72%, u đại tràng sigma 21,43%, u đại tràng xuống chiếm 14,28% [7].

Theo Nguyễn Lê Trang Vy nghiên cứu về hình ảnh nội soi của bệnh lý đại trực tràng của bệnh nhân đến khàm tại bệnh viên trường Đại học Y Dược Cần Thơ với 11/128 trường hợp có u, vị trí ở trực tràng chiếm 54,5%, ĐT sigma chiếm 27,3% [32].

Nguyễn Phan Hải Sâm khảo sát nội soi 112 bệnh nhân có bệnh lý đại tràng có 10 trường hợp có u. Vị trí u ở trực tràng chiếm 40%, ĐT sigma chiếm 30% [24].

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 16/38 trường hợp chẩn đoán là u đại trực tràng được thực hiên nội soi hay CT-scan. Với các vị trí u thường gặp là trực tràng chiếm 50%, ĐT sigma chiếm 31,3% và các vị trí còn lại ít gặp hơn. Kết quả này phù hợp với các tác giả trên.

- Kích thước khối u:

Kích thước Chúng tôi Lê Văn Thiệu [26] Phan Nguyễn Hải Sâm [24]

< 1cm 0% 1,98% 0%

1 – 3 cm 18,8% 7,94% 10%

> 3cm 81,3% 90,06% 90%

Kích thước khối u phát hiện được chiếm tỉ lệ cao nhất u >3cm. Phù hợp kết quả của các tác giả Lê Văn Thiệu và Phan Nguyễn Hải Sâm.

- Tính chất bề mặt của u:

Bề mặt của khối u thì u sùi là thường gặp nhất chiếm 93,7% và còn lại là thâm nhiễm chiếm 6,3%.

Tác giả Lê Văn Thiệu có 74,83% là khối u bề mặt sùi và 25,16% khối u bề mặt có loét [26]. Tác giả Nguyễn Lê Trang Vy tổn thương có hai dạng: 72,7% dạng u sùi và 27,3% dạng thâm nhiễm [32].

Nói chung, trong các nghiên cứu trên thì tính chất bề mặt của khối u đa số là dạng sùi nhưng tỉ lệ có sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi và tác giả khác.

Do số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi còn ít nên các dạng tổn thương không được đa dạng.

- Mức độ lấn vào lòng đại tràng:

Mức độ Chúng tôi Lê Văn Thiệu [26]

< ẳ 0 (0%) 6 (3,97%)

ẵ - ẵ 3 (18,8%) 33 (21,85%)

ẵ - ắ 5 (31,2%) 51 (33,77%)

> ắ 8 (50%) 61 (40,39%)

Mức độ xõm lấn > ắ chu vi lũng đại tràng là thường gặp nhất trong nghiờn cứu của chúng tôi, gây nên tình trạng tắc ruột hay bán tắc ruột trên những bệnh nhân

này. Tắc ruột là một trong những cấp cứu ngoại khoa do đó việc phẫu thuật kèm với làm HMNT (bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu ruột không được chuẩn bị trước phẫu thuật, làm HMNT sau cắt u để bảo vệ tránh xì miệng nối) hay chỉ làm HMNT giải áp tức thời được áp dụng.

Theo bảng trờn, u chiếm > ắ chu vi lũng ruột là thường gặp nhất trong cả nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Lê Văn Thiệu.

4.3.2 Đặc điểm mô học

Phân loại mô bệnh học trên 151 bệnh nhân ung thư đại trực tràng của Lê Văn Thiệu có 96,6% ung thư biểu mô tuyến, 2,65 % u lympho ác tính và 1,32%

sarcoma [26].

Theo Michael P.Federle thì tỷ lệ ung thư biểu mô tuyến trong ung thư đại tràng khoảng >95%, ung thư trực tràng khoảng 80% [34].

Trong nghiên cứu này có 13 trường hợp không làm giải phẫu bệnh: 6 trường hợp do bệnh lý không ác tính, 7 trường hợp còn lại được chẩn đoán là bệnh lý u đại trực tràng nhưng chỉ làm HMNT tạm thời không cắt u.

Có 25 trường hợp có làm giải phẫu bệnh: 23 trường hợp bệnh lý ác tính (95,5% ung thư biểu mô tuyến, 4,5% là mô viêm mạn), 2 trường hợp do bệnh lý không ác tính (mô viêm cấp tính). Các trường hợp cho kết quả là mô viêm mạn tính trong các bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh lý ác tính có thể do quá trình lấy mẫu xét nghiệm chúng ta không lấy được nơi có mô ung thư. Trong nghiên cứu này chúng tôi không gặp trường hợp nào có kết quả giải phẫu bệnh là u lympho hay sarcoma có thể do số lượng mẫu không lớn nên không gặp các trường hợp này.

4.3.3 X-quang bụng đứng và siêu âm bụng - Các trường hợp phẫu thuật cấp cứu:

Hình ảnh trên X-quang bụng đứng thường gặp nhất là mực nước hơi chiếm 52%, siêu âm thấy hình ảnh các quai ruột dãn 33,3%. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thuần hình ảnh gặp nhiều nhất cũng là mực nước hơi trên X-quang bụng

đứng và các quai ruột dãn trên siêu âm [28]. Các hình ảnh này là biểu hiện tình trạng tắc ruột (cấp cứu ngoại khoa) nên thường thấy trong phẫu thuật cấp cứu.

- Các trường hợp phẫu thuật chương trình:

Trong các trường hợp phẫu thuật chương trình thì trên X-quang bụng đứng có đến 57,1% không phát hiện gì bất thường và 57,1% siêu âm thấy hình ảnh các quai ruột dãn ứ đọng tạp chất.

Kết quả có 57,1% trường hợp không phát hiện bất thường trên X-quang bụng đứng không chuẩn bị, do đa phần các hình ảnh bất thường thấy được trên X-quang bụng đứng là mực nước hơi, các quai ruột nhiều hơi (tắc ruột), liềm hơi dưới cơ hoành (thủng tạng rỗng) mà những bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật chương trình thì không có các tình trạng cấp cứu như tắc ruột hay thủng ĐT, TT.

Có 57,1% trường hợp có hình ảnh các quai ruột dãn. Trong các trường hợp này khối u có thể làm hẹp lòng đại tràng gây nên tình tràng bán tắc ruột cũng làm cho các quai ruột dãn nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến trạng bệnh nhân do đó được chỉ định phẫu thuật chương trình.

4.4.5 Công thức máu

Đa số các bệnh nhân trong nghiên cứu không có tình trạng thiếu máu với hemoglobin > 11g/dl chiếm 68,4%, còn lại 31,6% có thiếu màu từ mức độ nhẹ đến nặng ( 83,3% gặp trong bệnh lý ác tính, 16,7% gặp trong bệnh lý không ác tính). Cụ thể, có 8 trường hợp thiếu máu nhẹ chiếm 21,1% (có 2 trường hợp là bệnh lý không ác tính, 6 trường hợp là bệnh lý ác tính), 3 trường hợp có thiếu máu mức độ trung bình chiếm 7,9%, 1 trường hợp thiếu máu nặng chiếm 2,6%.

Một phần của tài liệu 2197 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và biến chứng sớm ở bệnh nhân được làm hậu môn nhân tạo tại bv đa khoa tp cần thơ bv đktư cần thơ và bv đại (Trang 49 - 52)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(70 trang)