1.5 Hậu môn nhân tạo
1.5.5. Biến chứng ở bệnh nhân được làm HMNT
Biến chứng ở các bệnh nhân được làm HMNT bao gồm các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật ngoại khoa và các biến chứng của HMNT.
* Một số biến chứng thường gặp sau phẫu thuật ngoại khoa:
- Nhiễm trùng vết mổ:
Sự lành của vết mổ tùy thuộc vào tình trạng tại chỗ của vết mổ và tình trạng toàn thân của bệnh nhân. Các yếu tố tại chỗ như: có sự hiện diện của vi khuẩn ở vết mổ (phẫu thuật đường tiêu hóa được xếp vào loại phẫu thuật sạch-nhiễm), số lượng vi khuẩn, độc lực vi khuẩn, điều kiện thuận lợi để vi khuẩn phát triển (máu tụ, tụ dịch trong vết mổ…). Các yếu tố toàn thân như bệnh nhân lớn tuổi, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch,…có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ.
- Viêm phổi:
Viêm phổi sau phẫu thuật thường ứ đọng đàm, chất tiết đường hô hấp do bệnh nhân ít vận động vì đau sau mổ.
Ngoài ra một số biến chứng ít gặp hơn như biến chứng về tim mạch, thận và đường tiết niệu.
* Biến chứng của HMNT:
- Hoại tử ruột:
+ Nguyên nhân: Hoại tử ruột có thể do việc bóc tách làm tổn thương mạch máu nuôi đầu mút của ruột, hoặc đoạn ruột được đưa ra làm HMNT quá căng, hoặc đường rạch cân cơ thành bụng quá hẹp.
+ Lâm sàng: Hoại tử HMNT biểu hiện bằng sự thay đổi máu sắc của niêm mạc ruột. Niêm mạc từ màu hồng thẫm chuyển sang màu tím hay thậm chí là màu đen. Chẩn đoán dựa trên sự quan sát thường xuyên màu sắc niêm mạc ĐT.
+ Phòng ngừa: chú ý khi đưa ruột ra làm HMNT không được quá căng, đoạn ruột phải được di động tốt, có mạch máu nuôi tốt (quan sát sự chảy máu ở mặt cắt ruột). Tránh làm xoắn ruột, không nên bóc tách mạch máu mạc treo quá tỉ mỉ.
- Tụt HMNT:
+ Nguyên nhân: thường do đoạn ruột không được di động tốt trước khi đưa ra ngoài, mạc treo ruột quá ngắn. Một số yếu tố khác cũng được xem là nguyên nhân: béo phì, liệt ruột sau mổ, nhiễm trùng quanh chân HMNT.
+ Lâm sàng: Da và niêm mạc ĐT có thể không dính một phần hoặc toàn bộ.
HMNT tụt càng sớm càng nguy hiểm vì có thể gây nên viêm phúc mạc.
+ Phòng ngừa: Để tránh biến chứng này cần di động tốt, đoạn ruột đủ dài.
- Nhiễm trùng quanh HMNT:
+ Nguyên nhân: Có thể do các thủ thuật không đảm bảo vô trùng, tình trạng của ruột trước khi phẫu thuật (có được chuẩn bị hay không). Ngoài ra, tất cả các biến chứng khác của HMNT có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
+ Lâm sàng: Da và niêm mạc quanh chân HMNT đỏ, nung mủ, đau kèm theo sốt và tăng bạch cầu.
- Chảy máu và máu tụ - Sa HMNT:
+ Nguyên nhân: có thể do đoạn ruột đưa ra làm HMNT quá dài, những đoạn ĐT khác nhau có tỉ lệ sa khác nhau (HMNT càng cao thì nguy cơ sa càng tăng).
Những yếu tố khác như: cách đưa ruột ra ngoài (trực tiếp hay dưới phúc mạc), cố định ruột không tốt, nhiễm trùng quanh HMNT,…
+ Lâm sàng: có thể chỉ sa niêm mạc (niêm mạc ruột bị lộn ra ngoài qua lỗ HMNT), hay sa toàn bộ thành ĐT.
- Tắc ruột:
+ Nguyên nhân: Đường hầm trên thành bụng quá hẹp, còn thương tổn ở đoạn đại tràng phía trên HMNT, HMNT bị xoắn, bị đưa lộn đầu, thoát vị cạnh HMNT,…
+ Lâm sàng: phân, hơi không thoát ra được qua lỗ HMNT, các biểu hiện của hội chứng tắc ruột (đau bụng, nôn ói, bụng chướng).
- Viêm phúc mạc:
+ Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân gây viêm phúc mạc sau khi làm HMNT. Đầu tiên có thể do kiểm soát không kỹ đầu ruột đưa ra làm HMNT làm cho các chất thải trong lòng ruột đổ vào khoang phúc mạc, đặc biệt trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu. Cũng có thể do các mũi khâu cố định đại tràng vào cân xuyên thủng đại tràng gây rò phân vào ổ bụng.
+ Lâm sàng: Triệu chứng viêm phúc nằm trong bệnh cảnh nhiễm trùng nhiễm độc.