Bài 17 CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939 - 1945)
I. Con đường dẫn đến chiến tranh
Con đường, nguyên nhân nào đã dẫn tới bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945). Chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra qua các giai đoạn, các Mặt trận, các trận đánh lớn như thế nào? Kết cục của chiến tranh có tác động như thế nào đối với tình hình thế giới? Cần phải đánh giá sao cho đúng về vai trò của Liên Xô, các nước đồng minh Mĩ, Anh, của nhân dân thế giới trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít? Đó là những câu hỏi lớn các em cần phải giải đáp qua tìm hiểu bài học này.
3. Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cơ bản
* Hoạt động 1: Cả lớp
- GV gợi cho HS nhớ lại các bước phát triển thăng trầm của chủ nghĩa tư bản giữa hai cuộc
I. Con đường dẫn đến chiến tranh
chiến tranh thế giới. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đã dẫn tới sự ra đời và lên cầm quyền của chủ nghĩa phát xít ở một số nước, điển hình là Đức - Italia - Nhật. Trên thế giới hình thành 2 khối đế quốc đối địch nhau: một bên là Mĩ - Anh - Pháp một bên là Đức - Italia - Nhật và cuộc chạy đua vũ trang ráo riết giữa hai khối này đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh toàn cầu lần thứ 2.
Vậy các bước đi cụ thể trên con đường dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra như thế nào? Cần nhận định thế nào cho đúng về nguyên nhân dẫn đến chiến tranh? Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu ở mục I.
* Hoạt động 2: Cả lớp và cá nhân
- GV nêu câu hỏi: Đầu những năm 30 các nước phát xít Đức - Italia - Nhật đã có những hoạt động quân sự như thế nào? Những hoạt động đó nói lên điều gì?
1. Các nước phát xít đẩy mạnh xâm lược (1931 - 1937)
Thứ nhất, trong những năm 1936 - 1937, 3 nước Đức, Italia, Nhật Bản đã ký kết và cùng gia nhập “Hiệp định chống Quốc tế Cộng sản”.
Liên minh phát xít Đức - Italia - Nhật được hình thành, còn được gọi là “Trục tam giác Béc-lin - Rô ma - Tôkiô”. Sự thành lập khối trục không phải chỉ nhằm mục đích chống Quốc tế Cộng sản mà cấp bách hơn là nhằm chống các địch thủ đế quốc phương Tây gây chiến tranh đế phân chia lại thế giới, giành lại thị trường và thuộc địa.
Thứ hai và đồng thời trong thời gian đầu những năm 1930, khối này tăng cường các hoạt động quân sự và gây chiến tranh xâm lược ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Sau khi chiếm vùng Đông bắc Trung Quốc (1931), từ 1937, Nhật mở rộng xâm lược trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Phát xít Italia tiến hành xâm lược
- Giai đoạn 1931 - 1937, khối phát xít đẩy mạnh chính sách bành trướng xâm lược:
+ Nhật chiếm vùng Đông Bắc rồi mở rộng chiến tranh xâm lược trên toàn
Êtiôpia năm 1935; cùng với Đức tham chiến ở Tay Ban Nha nhằm hỗ trợ lực lượng phát xít Phrancô đánh bại Chính phủ công hòa (1936 - 1939). Sau khi xé bỏ hòa ước Véc xai, nước Đức phát xít hướng tới mục tiêu thành lập một nước “Đại Đức” bao gồm tất cả các lãnh thổ có dân Đức sinh sống ở châu Âu.
Tất cả những hoạt động trên của phe phát xít biểu hiện rõ tham vọng điên cuồng của phe này trong việc gây chiến tranh phân chia lại thế giới. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới đã gần kề, nếu không có những hành động kiên quyết thì không thể ngăn chặn được.
lãnh thổ Trung Quốc.
+ Italia xâm lược Ê-ti-ô-pi-a (1935), cùng với Đức tham chiến ở Tay Ban Nha (1936 - 1939)
+ Đức công khai xóa bỏ hòa ước Véc xai, âm mưu thành lập một nước “Đại Đức” ở châu Âu...
- Tiếp đó, GV hỏi: Trước chính sách bành trướng xâm lược của phe phát xít, các nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp) có thái độ như thế nào?
Em có nhận xét gì về những thái độ đó?
- HS trả lời câu hỏi. GV bổ sung và chốt ý:
+ Liên Xô nhận định chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên đã chủ trương liên kết với các nước tư bản Anh, Pháp, Mĩ thành lập Mặt trận thống nhất chống phát xít, chống chiến tranh để bảo vệ hòa bình, dân chủ cho toàn nhân loại. Liên Xô cũng kiên quyết đứng về phái các nước Êtiôpia, cộng hòa Tay Ban Nha và Trung Quốc chống xâm lược. Rõ ràng, Liên Xô đã có một thái độ rất kiên quyết, tích cực nhằm ngăn chặn nguy cơ chiến tranh thế giới.
- Thái độ của các nước lớn:
+ Liên Xô: kiên quyết chống chủ nghĩa phát xít, chủ trương liên kết với các nước Anh, Pháp để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh.
+ Mĩ, Anh, Pháp: không liên kết chặt chẽ với Liên Xô để chống phát xít, trái lại còn thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít hòng đẩy phát xít tấn công Liên Xô.
+ Chính phủ các nước Mĩ, Anh, Pháp đều có chung một mục đích là giữ nguyên trật tự thế giới có lợi cho mình. Họ lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít nhưng vẫn thù ghét chủ nghĩa cộng sản. Vì thế, giới cầm quyền các nước Anh, Pháp đã không liên kết chặt chẽ với Liên Xô để chống phát xít. Trái lại, họ thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít nhằm đẩy mạnh phát xít nước này quay sang tấn công Liên Xô. Với “Đạo luật trung lập” (8/1935),
giới cầm quyền Mĩ thực hiện chính sách không can thiệp vào các sự kiện xảy ra bên ngoài châu Mĩ.
* Hoạt động 1: Cả lớp và cá nhân
Trước hết, GV sử dụng lược đồ hình 42 SGK (Lược đồ Đức - Italia gây chiến và bành trướng từ tháng 10/1935 đến tháng 8/1939) kết hợp với tường thuật cho HS một số sự kiện như sau: Trước thái độ nhượng bộ, thỏa hiệp của Mĩ - Anh -Pháp, chính quyền các nước phát xít đã lợi dụng tình hình đó để thực hiện mục tiêu gây chiến tranh xâm lược của mình. Bước đầu tiên trong kế hoạch chinh phục châu Âu và thế giới của phát xít Đức là chiếm tất cả đất đai có người Đức ở, những nước láng giềng của Đức, trước hết là Aùo rồi đến Tiệp Khắc và Ba Lan.
2. Tự hội nghị Muy-ních đến chiến tranh thế giới
* Hội nghị Muy-ních:
- Hoàn cảnh triệu tập:
+ Tháng 3/1938, Đức thôn tớnh Aùo. Sau đĩ Hớt le gõy ra vụ Xuy-đét nhằm thôn tính Tiệp Khắc.
+ Liên Xô kiên quyết giúp Tiệp Khắc chống xâm lược.
+ Anh - Pháp tiếp tục thỏa hiệp, yêu cầu chính phủ Tiệp Khắc nhượng bộ Đức.
- Ngày 11/3/1938, quân đội Đức tràn vào nước Aùo. Ngày 13/3/1938, một luật phỏp quyết định sỏp nhập Aùo vào đế quốc Đức được ban hành.
Ngày 02/4/1938, chính phủ Anh đã chính thức công nhận việc nước Đức thôn tính Áo, chính phủ Pháp cũng giữ lập trường tương tự như vậy.
Do đó, ngày 29/9/1938, Hội nghị Muy-ních được triệu tập gồm đại diện 4 nước Anh, Pháp, Đức Italia.
Để thôn tính Tiệp Khắc, Hít-le đã gây ra “vụ Xuy-đét”. Bằng cách xúi giục các cư dân gốc Đức sinh sống ở vùng Xuy-đét của Tiệp Khắc nổi dậy đòi li khai, Hít-le yêu cầu chính phủ Tiệp Khắc trao quyền tự trị cho Xuy-đét. Trước tình thế cấp bách đó, Liên Xô tuyên bố sẵn sàng giúp Tiệp Khắc chống xâm lược. Nhưng các nước Anh, Pháp vẫn tiếp tục chính sách thỏa hiệp, yêu cầu chính phủ Tiệp Khắc nhượng bộ Đức. Anh - Pháp còn đe dọa: nếu Tiệp Khắc tiếp nhận sự giúp đỡ của Liên Xô thì cuộc chiến tranh của nước Đức phát xít sẽ mang tính chất một cuộc “Thập tự chinh”
chống Liên Xô mà Anh, Pháp khó tránh khỏi không tham gia.
Ngày 29/9/1938, Hội nghị Muy-ních được triệu tập với sự tham gia của người đứng đầu các chính phủ Anh - Pháp - Đức và Italia. Một hiệp định đã được ký kết. Theo đó, Anh - Pháp trao vùng Xuy-đét của Tiệp Khắc cho Đức để đổi lấy sự cam kết của Hít-le về việc chấm dứt mọi cuộc thôn tính ở châu Âu. Đại biểu Tiệp Khắc được mời đến Muy-ních chỉ để tiếp nhận và thi hành hiệp định.
- Nội dung: Anh - Pháp ký hiệp định trao vùng Xuy- đét của Tiệp Khắc cho Đức. Đổi lại, Đức cam kết chấm dứt mọi cuộc thôn tính ở châu Âu.
- Sau khi tường thuật xong sự kiện Muy-ních, GV hỏi: Nêu nhận xét của em về sự kiện Muy- ních?
(GV có thể gợi ý: Chính sách dung túng, nhượng bộ phát xít của Anh - Pháp được thể hiện ở hội nghị Muy-ních như thế nào? Hội nghị này thể hiện âm mưu gì của chủ nghĩa đế quốc đối với Liên Xô?)
Thỏa hiệp đế quốc ở Muy ních là đỉnh cao nhất của chính sách dung túng, nhượng bộ, lôi kéo phát xít mà các nước phương Tây đã thi hành từ đầu để chống lại Liên Xô. Ngày 30/9, Đức và Anh đã ký ở Muy-ních tuyên bố “không xâm phạm lẫn nhau để giải quyết hòa bình các vấn đề tranh chấp”. Sau đó một thời gian ngắn, một bản tuyên bố tương tự cũng được ký kết giữa Đức và Pháp.
Hiệp nghị Muy-ních thực chất là một âm mưu nghiêm trọng nhằm thành lập “Mặt trận thống nhất của chủ nghĩa đế quốc quốc tế” chống Liên Xô. Đây là lần thứ hai sau khi Cách mạng tháng 10 Ngan thắng lợi, các nước đế quốc hầu như đã đạt được mục đích của chúng (lần thứ nhất là Mặt trận đế quốc 14 nước vũ trang can thiệp vào Liên Xô từ 1918 - 1921).
- Ý nghĩa:
+Hội nghị Muy-ních là đỉnh cao của chính sách dung túng, nhượng bộ phát xít của Mĩ - Anh - Pháp.
+Thể hiện âm mưu thống nhất của chủ nghĩa đế quốc (kể cả Anh - Pháp - Mĩ và Đức - Italia - Nhật Bản) trong việc tiêu diệt Liên Xô.
* Hoạt động 2: Cả lớp và cá nhân
Sau khi chiếm Xuy-đét, tháng 3/1939 Hít-le * Sau hội nghị Muy-ních:
thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc. Như vậy, bọn phát xít đã trắng trợn xóa bỏ hiệp định vừa ký kết ở Muy-ních, giới thống trị Anh - Pháp - Mĩ tính toán rằng sau khi chiếm trọn Tiệp Khắc, Đức sẽ tấn công Liên Xô. Nhưng thực tế, sau khi chiếm Tiệp Khắc, Hít-le bắt đầu gây hấn và chuẩn bị tiến hành chiến tranh với Ba Lan.
Trước khi khai chiến, Đức đã đề nghị đàm phán với Liên Xô để phòng khi chiến tranh bùng nổ phải chống lại 3 cường quốc trên cả hai mặt trận (Anh Pháp ở phía tây và Liên Xô ở phía đông). Liên Xô chấp nhận đàm phán vì đây là giải pháp tốt nhất để tránh một cuộc chiến tranh và bảo vệ quyền lợi quốc gia trong tình thế cô lập lúc bấy giờ. Bản “Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhay” đã được ký kết ngày 23/8/1939 và kèm theo đó là một “Biên bản mật” nhằm phân chia khu vực ảnh hưởng ở Đông Âu giữa hai nước.
- Đức đưa quân thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc (3/1939)
- Tiếp đó, Đức gây hấn và chuẩn bị tấn công Ba Lan.
- Ngày 23/8/1939 Đức ký với Liên Xô “Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhau”
Như vậy, Đức đã phản bội lại hiệp định Muy-ních, thực hiện mưu đồ thôn tính châu Âu trước rồi mới dốc toàn lực đánh Liên Xô.
- GV chuyển ý: Vậy Chiến tranh thế giới thứ hai đã bùng nổ và lan rộng ở châu Âu như thế nào?
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu.
* Hoạt động 1: Làm việc theo nhóm
- GV nêu nhiệm vụ học tập ở mục II là GV sẽ cùng với HS lập niên biểu về quá trình xâm chiếm châu Âu của phát xít Đức (từ tháng 9/1939 đến tháng 61940). Sau đó GV đưa ra mẫu niên biểu.