1. Đại Từ - một vùng văn hóa lịch sử
1.2. Sơ lược lịch sử
Đại Từ nằm ở trung tâm vùng núi Việt Bắc, ngay từ rất xa xưa, tổ tiên chúng ta đã lập cư ở đây. Trải qua hàng nghìn năm, tên gọi Đại Từ luôn gắn liền với sự phát triển và trưởng thành của vùng đất Đại Từ, vùng đất Thái Nguyên qua các thời đại.Theo sử sách ghi lại, Đại Từ là một miền đất cổ. Vào thời các vua Hùng dựng nước, Đại Từ thuộc bộ Vũ Định, một trong mười năm bộ của nước Văn Lang. Thời thuộc Hán, theo ý kiến của các nhà sử học Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, đất Đại Từ thuộc Châu Long. Tên Đại Từ có chính xác từ bao giờ, tới nay vẫn chưa tìm được tài liệu chính xác. Thời Lý, Đại Từ thuộc phủ Phú Lương (Phủ Phú Lương có một thời Dương Tự Minh làm thủ lĩnh).
Năm 1466 nhà Lê chia nước ta làm hai đạo, Đại Từ thuộc phủ Phú Bình, đạo Thái Nguyên. Năm 1469, nhà Lê đổi đạo thành Thừa tuyên, phủ Phú Bình thuộc Thừa tuyên Ninh Sóc. Năm 1490, Thừa tuyên Ninh Sóc đổi thành xứ Thái Nguyên, huyện Đại Từ vẫn thuộc phủ Phú Bình của xứ Thái Nguyên.
Từ cuối thế kỷ XVI đến những năm bẩy mươi của thế kỷ XVII, xứ Thái Nguyên là nơi thường xuyên xảy ra những cuộc giao tranh giữa hai tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đoàn phong kiến Trịnh - Mạc. Thời nhà Nguyễn, chia nước ta thành trấn, Đại Từ vẫn thuộc phủ Phú Bình, trấn Thái Nguyên. Năm 1831, Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh. Cho đến năm 1835, Minh Mạng cắt một số châu thuộc phủ Phú Bình lập phủ Tòng Hóa. Đại Từ và châu Văn Lãng (phía bắc Đại Từ hiện nay) thuộc phủ này. Năm1922, Đại Từ và Văn Lãng hợp lại gọi là huyện Đại Từ cho đến ngày nay.
Trước cách mạng tháng Tám, Đại Từ cùng với Định Hóa, Sơn Dương là vị trí trung tâm của chiến khu Nguyễn Huệ, có thời gian huyện Đại Từ mang tên châu Giải Phóng. Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền dân chủ nhân dân tổ chức kết hợp nhiều làng xã, cả huyện có 14 xã. Trong suốt 80 năm qua, phần đất Đại Từ không có thay đổi gì đáng kể so với hiện nay. Ngày nay, huyện Đại Từ có 31 đơn vị hành chính.
Khai phá đất hoang, chế ngự thiên nhiên, chống chọi với thú dữ được coi là công việc hàng đầu diễn ra xuyên suốt trong lịch sử hình thành của huyện Đại Từ. Vùng đất Đại Từ xưa rất hoang vu, nơi rừng sâu nước độc, đồi núi âm u, cỏ cây rậm rạp. Là nơi xa xôi cách trở như vậy, triều đình phong kiến ít quan tâm đến. Nhân dân các dân tộc vừa cùng nhau đoàn kết, vận lộn với với bao khó khăn vất vả, khai phá đất hoang, xây bản, dựng làng, trồng củ sắn, củ khoai, kiếm miếng ăn, vừa chống chọi với thú rừng, kẻ ác. Từ xa xưa lắm, các cụ truyền rằng ven bờ sông Công là những cánh rừng rậm rạp, bò tót đi hàng đàn, đông nhung nhúc, chúng thường xuyên qua sông để phá phách lúa ngô của dân làng. Dân bản lấy nứa vót nhọn, làm bẫy, cắm xuống lòng sông, để đuổi chúng. Thời Lý, Thủ lĩnh Dương Tự Minh, cho dân khai phá vùng đất Đại Từ lập ra các làng An khánh, Cù Vân, Hà Thượng. Đến đời Trần, dòng họ Lưu bốn đời làm quan phiên trấn nhà Trần cùng nhân dân khai khẩn vùng An Thuận Thượng (vùng Vạn Thọ, Văn Yên, Kí Phú, Quân Chu bây giờ ). Vùng phía tây của huyện, dòng họ Phạm cũng nhiều đời làm quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phiên trấn triều Trần có công khai khẩn vùng Văn Lãng, lập ra nhiều làng bản. Thời kì vua Lê chúa Trịnh, vùng đất Đại Từ đã được mở rộng, ruộng đất được khai hoang nhiều. Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) khi làm quan Đốc đồng Thái Nguyên, ông sáng tác bài thơ Thái Nguyên tức cảnh. Bài thơ có đoạn viết:
"Cư dân thái bán, Thổ tham Nùng.
Mộc lư giá sạn Đông Tây hướng, Thủy cữu tùy cơ nhật dạ thung.
Đáo sứ kiến điền giai khẩn tịch,
Tương truyền niên đại cốc thường phong."
Dịch nghĩa:
(Nhân dân quá nửa là người Thổ người Nùng
Nhà thì gác tre gỗ làm sàn, hoặc trông về hướng đông hoặc trông về hướng Tây,
Tùy chỗ khe nước chảy, đặt cối giã gạo, giã suốt đêm ngày.
Đến chỗ nào cùng thấy ruộng đất đều khai khẩn,
Thấy nói xưa nay năm nào cũng được mùa.) [49, tr.306].
Tác giả đã khẳng định cuộc sống nơi đây đã khá trù phú, thường xuyên được mùa không có đất bỏ hoang.
Dưới thời thực dân phong kiến, ngoài việc vơ vét bóc lột, cướp không ruộng đất của nhân dân, giặc Pháp bắt nhân dân Đại Từ san đầm, phá núi làm đồn điền cho chúng, do vậy một phần nào đó diện tích đất nông nghiệp được mở rộng.
Cách mạng tháng Tám thành công, tiếp đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền xuôi lên Đại Từ khai hoang lập nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới. Vùng đất Đại Từ càng có nhiều cánh đồng phì nhiêu, nhiều trang trại được mở ra. Thỉnh thoảng có những cánh đồng sình lầy, cày bừa khó khăn, người dân đào mương tưới tiêu, đặc biệt là xây dựng các công trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thủy lợi như hồ Núi Cốc, hồ Vai Miếu, hồ Vai Bành, cải tạo đất trồng cho nên năng xuất lúa và hoa màu được nâng cao.
Cư dân Đại Từ bao đời nay chủ yếu làm nghề nông như trồng lúa, trồng màu, và làm kinh tế trang trại, đặc biệt Đại Từ là vùng đất chè ngon nổi tiếng.
Ngoài ra, người dân còn làm nghề phụ như làm đậu, làm bún, làm mì, làm mộc, đan lát, nhưng không có làng nghề. Một bộ phận người dân Đại Từ làm công nhân khai thác than, các loại khoáng sản quý. Việc trao đổi hàng hóa ở đây rất thuận tiện. Trước cách mạng cả huyện có bốn chợ, chợ Mụ, chợ Kí Phú, chợ Phú Minh, chợ Văn Lãng. Nhìn chung, cuộc sống của người dân Đại Từ trong giai đoạn hiện nay tương đối ổn định, tuy nhiên vẫn còn nhiều vất vả.
Bên cạnh truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, người dân Đại Từ còn nổi bật với truyền thống yêu nước và cách mạng, đấu trang giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước. Tinh thần ấy đã được thể hiện trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc. Nổi bật lên từ thế kỷ XV, năm 1410, nghĩa quân Áo Đỏ phất cờ khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược. Cuộc khởi nghĩa lan nhanh khắp vùng Việt Bắc, Tây Bắc vào đến Thanh Hóa Nghệ An gây cho giặc Minh nhiều tổn thất. Cũng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, tài thao lược của Thượng tướng quân Lưu Nhân Chú đã nổi lên sáng chói được sử sách lưu truyền. Đội quân của Lưu Nhân Chú mà trong đó lực lượng nòng cốt là con em các dân tộc Đại Từ đã phát huy truyền thống của quê hương, nêu cao ý chí chiến đấu, đi khắp các chiến trường lập nên những chiến công oanh liệt.
Bốn trăm năm sau, Thực dân Pháp xâm lược nước ta, năm 1884 những tên lính Pháp đầu tiên đặt chân lên đất Đại Từ, chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân các dân tộc trong huyện. Năm 1892, Cai Bát cùng binh khố đỏ ở Hùng Sơn làm binh biến. Nhờ nhân dân và núi rừng che chở, nghĩa quân Cai Bát đã chống lại nhiều đợt tấn công của Thực dân Pháp trong ba năm (1892 - 1895). Gần hai mươi năm sau, Đại Từ là địa bàn hoạt động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám trong mười năm (1903 - 1913). Nhân dân Đại Từ đã đi theo cụ Đề Thám, chung sức chung lòng đánh Tây. Nhiều người tham gia nghĩa quân. Nhân dân còn tiếp tế lương thực, thực phẩm và dẫn đường cho nghĩa quân hoạt động. Trong hai năm (1917 - 1918), nghĩa quân Đội Cấn lấy núi rừng Đại Từ là địa bàn hoạt động và Đội Cấn hi sinh oanh liệt trên núi Pháo, Đại Từ.
Bước sang thế kỉ XX, bọn thực dân Pháp tăng cường áp bức nhân dân khi các cuộc khởi nghĩa lắng xuống, nhân dân Đại Từ cũng như nhân dân cả nước liên tục đấu tranh dưới nhiều hình thức phong phú như chống thuế, chống phu làm cho địch sợ hãi.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới. Đảng đã nhìn thấy vị trí chiến lược quan trọng của Thái Nguyên nói chung và Đại Từ nói riêng. Năm 1936, cơ sở Đảng đầu tiên của Thái Nguyên được thành lập. Từ đây, ngọn lửa cách mạng lan sang Võ Nhai, Định Hóa.
Cuối năm 1944, cơ quan chỉ huy chiến khu Nguyễn Huệ được thành lập ở xã Yên Lãng. Nhân dân Đại Từ một lòng đi theo Đảng, vùng lên đập tan chính quyền tay sai, thiết lập chính quyền toàn dân sớm trong toàn quốc, mở ra trang sử mới cho vùng Đại Từ.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần hai, phía bắc Đại Từ nằm trong An Toàn Khu trung ương. Nhiều cơ quan trung, các cơ quan quân đội đóng trên mảnh đất này. Đặc biệt, tại xóm Bàn Cờ xã Hùng Sơn - nơi đã diễn ra lễ mít tinh công bố Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy ngày 27-7 là ngày Thương binh liệt sĩ toàn quốc. Đại Từ còn là địa phương được Trung ương chỉ đạo thí điểm cải cách ruộng đất, xây dựng tổ đổi công, thành lập Hợp tác xã sớm nhất trong toàn quốc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, hàng nghìn thanh niên nam nữ các dân tộc Đại Từ đã lên đường chiến đấu, nhiều người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đã hy sinh anh dũng trên khắp các chiến trường. Ở hậu phương, người nông dân giỏi tay cày, chắc tay súng và là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.
Năm 1966 dân quân xã Hà Thượng đã dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực Mỹ, tô đậm thêm nét son truyền thống của Lịch sử Đại Từ.
Trong suốt một chặng đường lịch sử dài, người dân Đại Từ đã dệt nên những truyền thống đẹp, cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động, một lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng triệt để. Đặc biệt truyền thống cách mạng là nét son chói lọi trong trang sử Đại Từ. Người dân nơi đây luôn tự hào về truyền thống cách mạng của mảnh đất thân yêu này.