XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Một phần của tài liệu Thực tập nhà máy bia HuDa Huế (Trang 56 - 60)

Toàn bộ nước thải của nhà máy được tập trung ra cống, trong nước thải này có chứa lượng lớn chất hữu cơ (Polysaccharit, protein...) và nhũng chất bẩn khác, nên ta không thể thải trực tiếp ra sông mà cần phải qua hệ thống xử lý. Ở nhà máy sử dụng phương pháp vi sinh để xử lý nước thải. Tuy không thể xử lý triệt để nhưng cũng góp phần giữ vệ sinh và chống ô nhiễm môi trường.

5.1 –Quy trình xử lý nước thải

5.2 Thuyết minh quy trình công nghệ 5.2.1. Bể tiền xử lý

Nước thải từ nhà máy

Cống

Bể ngầm

Bể cân bằng

Bể Metan Khí (CO2,CH4)

Bể hiếu khí

Bể gạn lọc

Nước sạch thải ra sông

Điều chỉnh PH

Nước thải từ các phân xưởng sản xuất dẫn về bể tiền xử lý qua các bước lọc rác và lắng sơ bộ trước khi được bơm vào bể thu nước.

Tập trung ở khoang đầu của bể tiền xử lý, nước thải sẽ đi qua một lưới chắn rác. Lưới chắn rác được đặt nghiêng so với mặt phẳng ngang để cho nước chảy qua lưới một cách thuận lợi. Đây là công đoạn xử lý đầu tiên, đơn giản nhưng cũng rất cần thiết cho toàn bộ quy trình xử lý nước thải. Khi đi qua lưới, nước thải được loại bỏ bớt những rác thải có kích thước lớn như giẻ, giấy, rác thải…, giúp cho các đường ống dẫn nước trong những quy trình tiếp theo không bị tắc nghẽn do rác.Qua khỏi lưới lọc rác, nước thải tiếp tục được lắng sơ bộ. Tại đây, nước được lưu lại một thời gian lắng để ổn định các thành phần trong nước trước khi đi vào bể điều hòa. Dưới tác dụng của trọng lực, chất thải có kích thước tương đối lớn lơ lửng trong nước sẽ bị lắng xuống đáy bể tạo thành lớp bùn. Lớp bùn này khi đầy sẽ được múc lên đem đi xử lý. Nước đã được lắng sẽ được bơm qua giếng thu nước để đi vào quy trình xử lý tiếp theo.

5.2.2. Bể lắng

Thể tích của bể lắng là 1000 m3. Tại bể lắng, nước sẽ được lắng các chất thải thêm một lần nữa. Trước khi vào bể lắng, nước thải đi qua máy lọc rác tự động đặt trước bể. Máy lọc rác này hoạt động hoàn toàn tự động. Khi nước trong vào đủ, máy sẽ tự khởi động lọc. Bộ phận lọc của máy quay tròn quanh một trục cố định, khi chảy qua bộ phận lọc, rác được giữ lại trên bề mặt, sẽ được gom lại và đưa vào thùng chứa rác, còn nước thải chảy qua các khe hở trên bề mặt bộ phận lọc, đi vào bể lắng.

5.2.3. Bể điều hòa (Bể cân bằng)

Bể điều hòa có thể tích 3000 m3, nhưng thể tích sử dụng thường chỉ khoảng 80%. Tại đây, nước thải từ các phân xưởng sản xuất đã được xử lý qua các công đoạn trước được hòa cùng nước rửa chai từ nhà chiết để được cùng xử lý. Nhờ hoạt động của máy trộn đặt cách đáy bể điều hòa khoảng 1,5 m, hai loại nước thải này được hòa trộn với nhau trước khi xử lý. Máy hòa trộn nước cũng hoạt động hoàn toàn tự động. Khi mực nước trong bể điều hòa xuống thấp hơn máy (tức là

nước trong bể điều hòa đã được chuyển gần hết qua công đoạn tiếp theo), máy sẽ ngừng hoạt động, khi nào nước trong bể cao hơn máy, máy mới hoạt động trở lại.

Tại bể điều hòa, nước thải được điều chỉnh đến pH 6,5 ÷ 7,5 là pH thích hợp cho vi sinh vật hoạt động để chuyển hóa các chất hữu cơ. Phía dưới bể điều hòa có phòng chứa hóa chất, mà chủ yếu là xút (NaOH) và axit (HCl) chứa trong 2 thùng pha hóa chất. Tùy vào pH của nước ban đầu đưa vào bể, xút hay axit được hòa với nước trong bể để điều chỉnh pH. Công đoạn chỉnh pH tại bể điều hòa được thực hiện tự động nhờ các bơm tự động trong phòng chứa hóa chất. Khi nước thải có pH ≤ 6,5, bơm sẽ tự động bơm xút vào bể. Khi nước thải có pH ≥ 7,5 , bơm hoạt động bơm acid vào bể. Sau khi được điều chỉnh pH, nước thải sẽ được tiếp tục bơm qua xử lý ở bể UASB.

5.2.4. Bể UASB (bể xử lý kị khí, bể metan)

Tại bể UASB có thể tích 2700m3, nước thải tiếp tục được lên men kị khí, tức là trong bể này, nhà máy sử dụng vi sinh vật lên men kị khí để xử lý nước. Từ bể điều hòa, nước thải theo các đường ống phân phối được bơm vào bể UASB theo hướng từ dưới lên, để tăng mức độ tiếp xúc giữa cơ chất trong nước thải với vi sinh vật kị khí trong bể. Tại đây, các loại vi sinh vật này sẽ ăn các protein, axit béo,… trong nước, làm cho nước trong hơn. Sử dụng vi khuẩn Metannogenic bacterium

Nước thải trong bể UASB được xử lý theo 3 pha riêng biệt từ dưới lên:

Pha 1: Pha phản ứng

Pha phản ứng xảy ra ở tầng dưới cùng, tức là ở đáy bể. Trong giai đoạn này, vi sinh vật sẽ phân hủy cơ chất có trong nước cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của chúng.

Pha 2: Pha thu khí

Trong quá trình phân giải cơ chất, vi sinh vật sinh ra một lượng lớn khí metan (khí CH4), và một lượng nhỏ khí CO2 . Lượng khí này sẽ được thu lại nhờ các chụp thu khí đặt trong bể, và được đưa qua buồng đốt khí metan để đốt.

Pha 3: Pha thu nước bề mặt

Sau khi đã được vi sinh vật trong bể phân giải gần hết cơ chất, nước trong bể trở nên trong hơn, nổi lên bề mặt và được thu lại để chuyển sang xử lý tiếp ở công đoạn tiếp theo.

5.2.5. Bể CASS (bể xử lý hiếu khí)

Trước khi qua bể CASS, nước thải đi qua bể lựa chọn vi sinh. Tại đây, nước thải sẽ được hòa trộn với bùn hồi lưu từ bể CASS để tăng điều kiện tiếp xúc giữa vi sinh vật hiếu khí trong bùn với cơ chất còn lại trong nước thải. Sau đó, hỗn hợp này được chuyển tiếp tục sang bể CASS để xử lý.

Bể CASS có thể tích 2500 m3. Nước thải bơm qua bể sẽ được hệ vi sinh vật hiếu khí trong bể hoạt động phân giải tiếp chất hữu cơ kích thước nhỏ còn sót lại trong bể sau khi xử lý ở bể UASB. Dưới đáy bể CASS được thiết kế bộ phận sục khí vào bể, cung cấp O2 cho hoạt động phân giải cơ chất trong nước thải của vi sinh vật trong bể. Sau khoảng 10h, nước trong bể CASS được xử lý đạt yêu cầu cho phép. Nước lúc này được thải ra môi trường, vào hệ thống nước thải của cả khu công nghiệp.

Chỉ tiêu của nước thải sau khi xử lý:

pH = 6 – 9 BOD: 100 mg/l TSS: 100 mg/l

Một phần của tài liệu Thực tập nhà máy bia HuDa Huế (Trang 56 - 60)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(65 trang)
w