II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA SMEs DỆT MAY VIỆT NAM THỜI ĐIỂM TRƯỚC KHI GIA NHẬP
2.2 Về nguyên vật liệu
Nếu thời kỳ 2000-2005, nguồn nguyên liệu nhập khẩu của các SME DM là khoảng 90-100%, thì trong giai đoạn 2006-2008 thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO con số này không được cải thiện nhiều. Sau 2 năm gia nhập WTO, với việc mở rộng thị trường số lượng doanh nghiệp SMEs được thành lập tăng với số lượng nhanh
chóng với khoảng 1400 doanh nghiệp thời kỳ 2000-2005 thì đến 2006-2008 con số này đã là xấp xỉ 2500 doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với sự gia tăng nhanh số lượng của các SMEs nên số lượng nguyên vật liệu nhập khẩu tăng trong những năm gần đây là điều không thể tránh khỏi.
Bảng dưới đây, tổng kết tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu của SMEs DMVN hai năm sau khi gia nhập WTO, giai đoạn 2006-2008
Bảng15: Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu của SMEs DMVN 2006-2008
Mặt hàng
2006 2007 2008
Số lượng (tấn)
Trị giá (Triệu USD)
Số lượng (tấn)
Trị giá (Triệu USD)
Số lượng (tấn)
Trị giá (Triệu USD)
Bông 181,200 219 212,000 268 291,000 468
Sợi các loại 338,831 544 425,000 744 414,000 788
Vải các loại 2980 3980 4454
Phụ liệu dệt may
da giầy
1952 2152 2376
Nguồn: www.vietnamtextile.org.vn
So với thời điểm trước khi gia nhập WTO tỷ lệ nguyên vật liệu phải nhập trung bình của các SMEs DMVN là 75-85%, cụ thể bông và tơ sợi vẫn còn phải nhập khẩu với tỷ lệ 92%, các nguyên phụ liệu khác ở mức 95%, riêng các loại thuốc nhuộm vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn 100%.
Số liệu sau về tỷ lệ các doanh nghiệp DMVN phân theo nhóm sản phẩm năm 2008 phản ánh được phần nào thực trạng cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành Dệt may Việt Nam. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành phụ trợ chiếm một tỷ lệ quá khiêm tốn chỉ bằng 1,6%/ tổng số các doanh nghiệp trong ngành Dệt may.
Biểu 3: Doanh nghiệp DMVN phân theo nhóm sản phẩm
Nguồn: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Biểu đồ trên cho thấy số SMEs trong lĩnh vực Dệt may vẫn chiếm một số lượng đông đảo chiếm tới 64.8% trong số tổng số các SME DMVN. Trong khi đó các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ và phụ liệu chỉ có chưa đầy 2% do vậy việc SMEs Dệt may phải nhập khẩu nguồn nguyên vật liệu là điều tất yếu.
1.3 Về thiết bị công nghệ:
Sau 2 năm gia nhập WTO, thực trạng về thiết bị máy móc và công nghệ của SMEs DMVN có những biến đổi khá đáng kể. Bảng dưới đây tổng hợp về thực trạng các loại máy móc và thiết bị của các SMEs DMVN năm 2007.
Bảng 16: Hiện trạng máy móc và thiết bị của các SMEs DMVN 2007
Máy móc Số lượng Xuất xứ
Máy con suốt 2.200.000 Trung Quốc, Nhật, Ý, Thụy Sỹ, Ấn Độ.
Roto xe sợi 7150 Slovakia, Thụy Sỹ, Nhật
Máy dệt 16.000 Sinkwang, Picanol, Vamatex, Nissan, Rotal, Kawamoto, Trung Quốc, Toyota
Máy đan len 1730 Đức, Ý, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Trung
Quốc, Nhật, Hàn Quốc.
Máy khâu 300.000 Sunstar, Pegagas, Julki,
Brother,Singer, Pfaff, Veit, Gemsy, Golden, Wheel
Máy nhuộm, in và hồ vải 470 Morrison, Gerbern Gaston County, Uni-ace, Hiasaka, Vinago, Wakayama, Reggiammi, Brukner, Fametex, Butter Worth, Dornier, AH60, Royal Flow, Sanfort, Comfit, Winch, Wet Calender, Compact, Thies, Textima, Zet, Zigo
Nguồn: Vinatex và Vitas
Nhận xét: Từ bảng về thực trạng máy móc của SMEs DM thấy rằng việc gia nhập vào WTO đã tạo điều kiện cho các SMEs trong việc nhập khẩu máy móc từ nước ngoài. Nếu như trước đây số lượng máy móc nhập khẩu còn hạn chế và chủ yếu là nhập của Trung Quốc và một số nước Đông Âu thì nay SMEs đã đầu tư nhập khẩu máy móc ở những nước có thiết bị công nghệ hiện đại hơn. Việc gia nhập WTO đã giúp cho SMEs DMVN có điều kiện tiếp cận với các nhà cung cấp máy móc khác nhau do vậy họ có thể lựa chọn cho mình một nhà cung cấp với mức giá phù hợp với mình nhất.
1.4 Về nhân lực.
Số lượng lao động: bảng sau đây phản ánh số lượng lao động trong SMEs DMVN trong giai đoạn 2006-2008.
Bảng17: Lao động trong SMEs DM giai đoạn 2006-2008
Nguồn: Thực trạng các doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2006-2008 Nhận xét: Từ bảng số liệu trên dễ dàng nhận thấy số lượng lao động trong các SMEs DMVN có xu hướng tăng theo thời gian. Điều này là tất yếu vì số lượng
2006 2007 2008
LĐ cuối năm(người) 558414 706657 847988
Tỷ lệ so với LĐ trong các SMEs công nghiệp khác
15,7 17,2 18,1
các SMEs DMVN cũng tăng lên với số lượng đáng kể. Mức tăng lao động trung bình hàng năm trong SMEs Dệt May giai đoạn 2006-2008 là 1.25-1.3 lần. Sự gia tăng số lượng SMEs DM kéo theo tỷ lệ lao động của SMEs DM so với lao động trong các ngành công nghiệp khác tăng lên ở tỷ lệ vào khoảng 16%.
Tiền lương: giai đoạn 2006-2008 đặc nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn đó là sự lạm phát về giá cả điều này đã ảnh hưởng tới việc sản xuất của SMEs DMVN, do phải đối mặt với việc điều chỉnh tăng lương cho công nhân với tỷ lệ lạm phát tương ứng. So với giai đoạn 2001-2005, lương của công nhân SMEs DMVN đã tăng nhưng mức tăng không đáng kể so với những biến đổi về giá cả. Giai đoạn 2001-2005, lương của công nhân SMEs DMVN là 1-1,4 triệu/người thì giai đoạn 2006-2008 mức này dao động trong khoảng 1,8-2 triệu. Mức lương này phụ thuộc vào trình độ của cán bộ hay cấp thợ của công nhân mà có thể điều chỉnh theo.