Về thiết bị công nghệ

Một phần của tài liệu Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO.doc (Trang 37 - 40)

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA SMEs DỆT MAY VIỆT NAM THỜI ĐIỂM TRƯỚC KHI GIA NHẬP

2.3 Về thiết bị công nghệ

Từ những thực trạng về thiết bị công nghệ của SMEs DMVN có đánh giá tổng quan đó là: thiết bị máy móc của SMEs DMVN nghèo nàn, cũ kỹ; công nghệ thì quá lạc hậu, ở mức dưới trung bình so với công nghệ của SMEs DM các nước trong khu vực; chậm chạp trong việc đổi mới và chuyển giao công nghệ. Thiết bị công nghệ non kém dẫn đến năng suất sản xuất giảm, chi phí sản xuất tăng do hao hụt về năng lượng. Đó là nguyên nhân góp phần làm giảm năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN trên trường quốc tế.

Mức độ lạc hậu của công nghệ: Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, SMEs DMVN đã có nền tảng phát triển từ khá lâu nhưng thật sự khởi sắc vào giai

đoạn sau khi Luật doanh nghiệp 2001. Tuy vậy, quá trình nội địa hóa trên sản phẩm may xuất khẩu của các SMEs còn thấp do có sự mất cân đối giữa doanh nghiệp may và doanh nghiệp dệt. Nếu như ngành may có những bước phát triển đáng kể thiết bị công nghệ của SMEs ngành may đổi mới đến 95%, trong khi đó ở SMEs ngành Dệt tỷ lệ này chỉ là 40-45%.Theo đánh giá của các chuyên gia thì 70% công nghệ của các SMEs Dệt may đã sử dụng được 20 năm đã được sử dụng 20 năm.

Mức độ đổi mới công nghệ của SMEs DMVN: với khả năng vốn hạn hẹp trong khi vốn đầu tư dành cho công nghệ quá lớn, do vậy hầu như giai đoạn này SMEs DMVN rất ít quan tâm đến đổi mới công nghệ. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị hàng năm của SMEs DMVN chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới, 12-15% của SMEs Trung Quốc và Đài Loan. Hàng năm, SMEs DMVN đầu tư đổi mới công nghệ thấp, chí phí dành cho đổi mới công nghệ chỉ từ 0-0,1% so với doanh thu là dành cho đổi mới công nghệ, điều đó có nghĩa là nhiều SMEs có những năm không hề có kinh phí dành cho đổi mới công nghệ. Hoặc nếu có thì chỉ là vài năm mới có một lần kinh phí dành cho đổi mới công nghệ do công nghệ đã quá cũ cho việc sản xuất.

Trang thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN kém đi rất nhiều. Bởi vì, công nghệ lạc hậu dẫn tới năng suất sản xuất sản phẩm thấp, tăng chi phí do việc tiêu hao năng lượng lớn tất cả những điều này làm cho giá thành sản xuất sản phẩm cao. Giá cao là yếu tố làm giảm tính cạnh tranh của SMEs DM. Theo nghiên cứu của Trung tâm tiết kiệm năng lượng tại Tp Hồ Chí Minh (EEC) khảo sát về sự tiêu hao năng lượng trong SMEs DMVN giai đoạn 2001- 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng với một xưởng nhuộm công suất 1,5 triệu tấn vải/năm, cần 1,11 triệu lít dầu FO và tiêu hao khoảng 1 triệu KWh điện. Tổng số tiền tiêu thụ để phục vụ cho quy trình nhuộm, sấy số vải trên khoảng 5,3 tỷ đồng/năm.

Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng năng lượng chỉ vào khoảng 74-78%. Điều này có nghĩa là chi phí phải bỏ ra do việc sử dụng các công nghệ dẫn đến không hiệu quả trong sản xuất là khoảng 1,17- 1,38 tỷ đồng/năm. Trong các SMEs DMVN, quá trình

gây lãng phí chủ yếu ở các quy trình sản xuất vận hành như lò hơi và hệ thống hơi;

động cơ, hệ thống máy nén khí; hệ thống chiếu sáng nước.

Sự phát triển không đồng bộ giưã công nghệ của ngành May và Dệt: Sự phát triển không đồng bộ về công nghệ giữa SMEs ngành Dệt và ngành May cũng là nguyên nhân làm hạn chế năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN. Trong khi trình độ công nghệ của các SMEs ngành May ở mức tương đương với công nghệ hiện đại trên thế giới về thiết bị công nghệ cũng như trình độ áp dụng các công nghệ. Trong khi đó đối với ngành dệt, thiết bị công nghệ dệt phải đến 60% là công nghệ đã được sử dụng trên 15 năm, thậm chí là trên 20 năm, các doanh nghiệp dệt đều rất cũ kỹ và xuống cấp nghiêm trọng. Sự lạc hậu trong SMEs Dệt không đon thuần là công nghệ lạc hậu mà còn không có sự đồng bộ giữa các khâu, kỹ năng chuyên môn cũng như quản lý chưa thật sự được chú trọng.

Để có thể thấy vai trò của thiết bị công nghệ đối với năng suất sản phẩm bảng sau đây đưa ra số liệu thống kê và so sánh sản lượng của các SMEs giữa Việt Nam và của các SMEs của các nước trong khu vực với quy mô tương đương.

Bảng 11: sản lượng ngành may bình quân giai đoạn 2000-2004 của SMEs DMVN so với các nước khác

Đơn vị: triệu sản phẩm

STT Tên nước Sản phẩm may

1 Trung quốc 10.000

2 Thái lan 2.500

3 Indonexia 3.000

4 Việt Nam 400

Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam

Nhận xét :Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng, sản phẩm của SMEs DMVN còn thua xa rất nhiều so với các SMEs tong khu vực chỉ bằng 40% số lượng sản phẩm của Trung Quốc, 16% số lượng sản phẩm của Thái lan, 13% số lượng sản phẩm của Indonexia. Như vậy, năng lực sản xuất của SMEs còn thua kém rất nhiều so với các SMEs tương đồng về quy mô trong khu vực, năng lực sản xuất yếu chứng tỏ năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN rất yếu.

Trong giai đoạn 2001-2005, năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN về thiết bị công nghệ được đánh giá là non kém so với các doanh nghiệp lớn trong ngành và SMEs DM trong khu vực. Thiết bị lạc hậu dẫn đến năng suất thấp và chất lượng sản phẩm không cao làm cho năng lực cạnh tranh thấp là điều dễ hiểu. Do vậy, yêu cầu về sự đầu tư đồng bộ hiện đại cho thiết bị công nghệ cho SMEs DMVN để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập sâu là một tất yếu.

Một phần của tài liệu Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO.doc (Trang 37 - 40)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(95 trang)
w