KNXK hàng dệt may của SMEs các nước giai đoạn 2001-2005

Một phần của tài liệu Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO.doc (Trang 42 - 92)

STT 1 2 3 4 5 6

Tên nước Trung Quốc Ấn Độ Băngladet Thái Lan Indonexia Việt Nam

KNXK(Triệu USD) 50.000

12.500 4.000 6.500 8.000 1.500 Nguồn: Hiệp hội Dệt may VN

Nhận xét: Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng năng lực cạnh tranh của SMEs DM trên thi trường quốc tế còn rất yếu. KNXK của SMEs DMVN chỉ bẳng 30% của SMEs Trung Quốc, bằng 18,75% so với của Indonexia. Ngay cả đối với thị trường Mỹ là một thị trường lớn nhất quan trọng nhất và nhiều tiềm năng nhất nhưng thị phần hàng DM của VN trong giai đoạn 2004-2005 cũng chỉ chiếm 1% so với 12%

của sản phẩm DM Trung Quốc là một khoảng cách lớn. Qua đó cũng đủ thấy rằng năng lực cạnh tranh của SMEs DM về thị trường xuất khẩu còn quá bé nhỏ.

Vào thời điểm trước khi trở thành thành viên của WTO thì SMEs DMVN gặp rất nhiều khó khăn để có thể tiếp cận với thị trường nước ngoài do phải đối mặt với cơ chế hạn ngạch. Nếu như cơ chế hạn ngạch được áp dụng đối với các doanh nghiệp trong ngành buộc SMEs DM phải đối mặt với các doanh nghiệp lớn để có thể giành thắng lợi trong “chạy đua quota”. Thì đối với thị trường nước ngoài lại phải chịu thiệt thòi do không phải là thành viên của WTO nên chịu sự cạnh tranh bình đẳng với sản phẩm của các nước khác. Chính những khó khăn đó đã làm giảm năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN.

Bảng14: Giá trị xuất khẩu hàng Dệt may của một số thị trường

Đơn vị: Triệu USD

Thị trường 2001 2002 2003 2004 2005

Mỹ

Tỷ trọng(%)

44,6 2,3

961 34,9

1973 54,6

2474 56,4

2750 57,2 Nhật Bản

Tỷ trọng(%) 588

29,7 521

19,0 514

14,2 531

12,1 545

11,3 EU

Tỷ trọng(%) 559

28,4 579

21,2 580

16,1 762

17,4 856

17,8 Thị trường

khác

783,4 39,6

681 24,9

542 15,1

619 14,1

655 13,7

Tỷ trọng(%)

Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam.

Đối với thị trường EU: giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn khó khăn với SMEs DMVN khi xuất khẩu sang thị trường này do hạn chế khi áp dụng hạn ngạch. KMXK vào EU năm 2003 của SMEs DMVN chỉ đạt 550 triệu USD giảm 8% so với năm 2001.

Đối với thị trường Nhật bản: thị phần của SMEs DMVN tại thị trường này còn hạn chế và rất nhỏ bé. Trong giai đoạn 2001-2005, thị phần các sản phẩm Dệt may của SMEs DMVN tại thị trường này chỉ chiếm gần 2% so với thị phần của Trung Quốc là 65%, Italia là 8%, Hàn Quốc 6%, Thailand đang mất dần thị phần cũng được 2,5%. Năm 2002, SMEs DMVN xuất khẩu vào thị trường Nhật là 540 triệu USD giảm 20% so với năm 2001. Đối với thị trường này, SMEs DMVN có thể nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách tăng cường sản xuất hàng Dệt kim vì có đến 70%

kim ngạch nhập khẩu Dệt may của nước này là hàng Dệt Kim.

Đối với thị trường Mỹ: một thị trường tiềm năng và mang tính chiến lược có thể khai thác lâu dài của SMEs DMVN. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN còn hạn chế do trong giai đoạn này phải đối mặt với Hiệp Định Dệt may Việt Nam được thực hiện từ ngày 01/05/2003 là một Hiệp định được ký kết trong Hiệp định Việt Mỹ. Theo hiệp định này tất cả các sản phẩm DMVN khi xuất khẩu sang Mỹ phải chịu các mức hạn ngạch khác nhau cho các sản phẩm. Chính vì vậy, thị phần của SMEs DMVN trong thị trường Mỹ chưa đến 1%, một con số rất nhỏ nhưng đủ để chứng tỏ cho năng lực cạnh tranh hạn chế của SMEs DMVN trước thời điểm gia nhập WTO.

3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA SMEs DMVN THỜI ĐIỂM SAU KHI GIA NHẬP WTO.

1.Thách thức và cơ hội đối với các SME Dệt may sau khi gia nhập WTO.

1.1Cơ hội.

Mở rộng thi trường tăng quy mô sản xuất, từ đó được hưởng lợi ích kinh tế từ quy mô sản xuất lớn hơn

Theo các quy định của các hiệp định, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì Việt Nam sẽ được các thành viên khác (trong đó có 3 nhà nhập khẩu quan trọng là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản) bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng Dệt May Việt Nam . Chính vì vậy, các SMEs DMVN có cơ hội tăng số lượng mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường vẫn đang duy trì hạn ngạch đối với Việt Nam như Hoa Kỳ. Tuy vậy, một vấn đề mà các SMEs DMVN cần phải chú ý hiện nay, đó là việc các doanh nghiệp Dệt May Hoa Kỳ đang vân động Quốc Hội có các biện pháp hạn chế xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ. Các SMEs DMVN cần phải nắm vững Luật chống bán phá giá và cùng phối hợp với các cơ quan, Bộ, Ban ngành để tránh các biện pháp hạn chế thương mại như đã từng xảy ra với một số mặt hàng như: cá tra và cá Basa, tôm,.. trước đây.

Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc thị trường được mở rộng với nhu cầu khác nhau giúp cho các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa sản phẩm của mình. Với đặc điểm, có vốn và công nghệ có hạn SMEs DMVN có thể tận dụng được đặc điểm này để có thể sản xuất theo phương thức đa dạng hóa sản phẩm phục vụ mọi đối tượng khách hàng và thị trường khác nhau. Hơn thế nữa việc đa dạng hóa sản phẩm, giúp các SMEs DM trong nước cùng sản xuất một loại mặt hàng sản phẩm, cùng xuất khẩu vào một thị trường dẫn đến cạnh tranh nội bộ ngay trong chính ngành.

Một thuận lợi đối với các SMEs DM khi gia nhập WTO do việc mở rộng thị trường đó là bảo đảm tính ổn định cho việc sản xuất ở trong nước và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Bởi vì, khi đó doanh nghiệp không còn phải lệ thuộc vào một vài khách hàng hoặc một vài khách hàng như trước nữa.

Giảm chi phí xuất khẩu gắn với việc phân bổ hạn ngạch, từ đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Nếu trước khi gia nhập WTO, khi xuất khẩu các sản phẩm sang các thị trường các SMEs chịu một khoản chi phí do việc phân bổ hạn ngạch dệt may. Khoản chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí xuất khẩu đặc biệt đối với các SMEs.

Theo tính toán của VCCI(Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam), chi phí do việc phân bổ hạn ngạch dệt may đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang Hoa Kỳ ước

chiếm khoảng 6,9% trong sốtổng chi phí. Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, theo các hiệp ước đã được ký kết thì các thành viên của WTO sẽ phải bãi bỏ hạn ngạch đối với mặt hàng Dệt may của Việt Nam. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho các SMEs DMVN, vì các mặt hàng dệt may có điều kiện giảm giá xuất khẩu và tăng năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình.

Hệ thống pháp luật trở nên thuận lợi hơn với các hoạt động kinh doanh và các SME Dệt may được bảo vệ bởi các công cụ giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Trong các quy định của WTO, khi Việt Nam gia nhập WTO thì phải tuân thủ theo nguyên tắc minh bạch hóa chính sách. Do vậy, Việt Nam phải minh bạch hóa toàn bộ các chính sách liên quan đến thương mại của mình và thông báo các kế hoạch hành động để tuân thủ dần đân các nguyên tắc của WTO. Theo nguyên tắc này, các quy định pháp lý của ngành DMVN sẽ trở nên minh bạch hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình doanh nghiệp với nhau. Nguyên tắc này cũng khuyến khích thương mại, đầu tư và hợp tác về các vấn đề khác đối với các cộng đồng quốc tế.

Với nguyên tắc minh bạch, hiện tượng phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước với các SMEs sẽ không còn, nên các SMEs sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực tài chính, gia nhập thị trường, hỗ trợ kinh doanh.

Tăng cơ hội tiếp cận với các nhà cung cấp nguyên phụ liệu với giá cả phù hợp.

Như đã phân tích ở trên, các SMEs DMVN gặp khó khăn đối với nguồn nguyên phụ liệu đầu vào cho quá trình sản xuất. Vì có đến 75-80% các nguyên liệu đầu vào của SMEs DMVN là phải nhập khẩu từ nước ngoài như Trung Quốc và các nước ASEAN. Bên cạnh đó, SMEs DMVN với đặc điểm hạn chế về nguồn vốn nên rất khó nhập khẩu các nguyên phụ liệu trực tiếp từ các đối tác nước ngoài mà phải thông qua trung gian. Đồng thời, SMEs cũng không có khả năng dự trữ khối lượng nguyên phụ liệu lớn nên chủ yếu phải mua các nguyên phụ liệu này từ các cơ sở đại

lý, do vậy đã làm tăng chi phí sản xuất và khó nắm bắt nhu cầu của khách nước ngoài.

Việc hội nhập WTO, đặc biệt kể từ sau ngày 1/1/2009 Việt Nam thực hiện cam kết mở cửa bán lẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài khiến cho hàng hóa nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam với giá rẻ và phong phú hơn, nhờ đó sẽ làm giảm sức ép về nguyên vật liệu ngoại nhập và các SMEs cũng sẽ biết được nhu cầu của thị trường thế giới do được tiếp xúc trực tiếp với các nhà phân phối của nước ngoài. Đồng thời, các SMEs DMVN cũng có cơ hội để lựa chọn các nhà cung cấp nguồn nguyên phụ liệu với một giá phù hợp.

1.2 Thách thức.

Các SME Dệt may ít nhiều đều bị ảnh hưởng do các hình thức trợ cấp hiện tại bị bãi bỏ hoặc cắt giảm do cam kết WTO.

Theo quyết định số 55/2001/QĐ-TTg ngày 23/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế chính sách hỗ trợ việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành Dệt may đến năm 2010, Chính phủ đã có những hình thức trợ cấp đối với ngành nói chung và đối với các SMEs nói riêng. Các hình thức hỗ trợ đó đã được thể hiện cụ thể thông qua các văn bản như Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 1/4/2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Quyết định số 17/2002/QĐ-TTg ngày 21/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng và phát triển cây bông công nghiệp thời kỳ 2001-2010. Theo quy định của văn bản này các loại hình doanh nghiệp đặc biệt là các SMEs trong nghành dệt may sẽ nhận được một số hình thức trợ cấp như ưu đãi tín dụng, ưu đãi đầu tư, bảo lãnh tín dụng ưu đãi đầu tư, hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại và một số các ưu đãi khác.

Tuy vậy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, theo cam kết của WTO thì Quyết định 55(ở trên) cũng như các biện pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp sẽ bị bãi bỏ. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp DM nói chung và SMEs DM nói riêng trong việc điều chỉnh chính sách sản xuất và xuất nhập khẩu của mình. Theo các cam kết bãi bỏ trợ cấp này, Việt Nam sẽ phải xóa bỏ toàn bộ các trợ cấp bị cấm

(Nghĩa là các trợ cấp căn cứ vào thành tích xuất khẩu hoặc khuyến khích sử dụng hàng trong nước thay thế nhập khẩu ) dành cho ngành dệt may. Nó bao gồm các trợ cấp dưới hình thức ưu đãi đầu tư dựa trên tiêu chí xuất khẩu áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước, ưu đãi đầu tư dựa trên tiêu chí xuất khẩu áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trợ cấp khuyến khích xuất khẩu và trợ cấp xúc tiến thương mại dựa trên thành tích xuất khẩu.

Tuy nhiên, những ưu đãi về trợ cấp của Chính phủ đối với các SMEs DM trong thời gian trước đó (trước khi gia nhập WTO) có thể nhận thấy là: mối năm ngành Dệt may chỉ được cấp tín dụng ưu đãi khoảng 5 triệu USD và bổ sung vốn lưu động là khoảng 1 triệu USD, con số này phải phân bổ cho một khối lượng các doanh nghiệp trong ngành thì thật không đáng kể, theo tính toán chỉ đáp ứng được xấp xỉ 4% nhu cầu của toàn ngành. Do đó, với tỷ trọng ưu đãi như vậy về vốn thì việc bãi bỏ các trợ cấp sẽ không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu của ngành Dệt may sau khi gia nhập WTO.

Đối mặt với sức ép cạnh tranh từ việc cắt giảm thuế theo cam kết WTO.

Trước đây, tại thời điểm khi Việt Nam chưa gia nhập WTO, để bảo hộ các SMEs và các doanh nghiệp Dệt May khác trong nước thì Chính phủ đã thực hiện việc đánh thuế cao đối với các sản phẩm nhập khẩu. Mức thuế đối với các sản phẩm may mặc thành phẩm nhập khẩu ở mức tương đối cao vào khoảng 40-50%. Tuy vậy, theo các cam kết khi gia nhập WTO Việt Nam sẽ phải giảm mức thuế đối với mặt hàng này xuống còn 13,7%, mức thuế giảm là 63%. Chính vì vậy, hàng may nhập khẩu sẽ thâm nhập thị trường Việt Nam nhiều hơn, cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp là như nhau do vậy sẽ gây sức ép mạnh hơn đối với các doanh nghiệp.

Thêm vào đó, kể từ ngày 1/1/2009 khi Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài thì sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp và các SMEs Dệt may ngày càng lớn hơn. Nếu các SMEs không có sự chuẩn bị và không nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước thì sẽ có nguy cơ bị mất thị phần chính trên sân nhà của mình.

Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, tự vệ do khả năng tăng trưởng mạnh từ việc các nước bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO.

Khi Việt nam là thành viên chính thức của WTO thì nguy cơ bị các thành viên, đặc biệt là các thành viên lớn như Hoa kỳ, EU áp dụng các biện pháp tự vệ. Nghĩa là, các nước thành viên lớn sẽ áp dụng hạn ngạch đối với một số loại mã hàng theo điều khoản tự vệ mà khi gia nhập các nước thành viên đã ký cam kết. Hành động này sẽ dẫn đến các sản phẩm Dệt may của các SMEs mất thị phần tại Hoa kỳ, EU-hai nhà nhập khẩu quan trọng nhất của Dệt may.

So với Trung Quốc- nước xuất khẩu Dệt may lớn nhất thế giới thì sản phẩm Dệt May của Việt Nam chỉ chiếm 3%thị phần hàng Dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ.

Tuy nhiên các SMEs cũng phải hết sức cẩn thận không loại trừ khả năng khi lượng hàng DM xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng sau khi gia nhập, Hoa Kỳ và một số thành viên khac sẽ áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với hàng DMVN. Một vài biểu hiện cho thấy, dù Hoa Kỳ đã bãi bỏ quy chế hạn ngạch, song đã yêu cầu Việt Nam phải kiểm soát số lượng hàng hóa xuất khẩu hàng tháng và sẵn sàng áp dụng các biện pháp tự vệ, điều này đã ảnh hưởng đến lượng hàng. Các vụ kiện của cá Basa, các Da trơn, da giẩy, tôm và một số mặt hàng khác là một bài học đáng lưu tâm đối với ngành Dệt May.

2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các SME Dệt may Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO.

2.1 Về vốn:

Nếu xét về quy mô vốn của SMEs DMVN thì các SMEs DM có quy mô vốn không thay đổi đáng kể so với thời kỳ trước khi gia nhập WTO.

2.2Về nguyên vật liệu

Nếu thời kỳ 2000-2005, nguồn nguyên liệu nhập khẩu của các SME DM là khoảng 90-100%, thì trong giai đoạn 2006-2008 thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO con số này không được cải thiện nhiều. Sau 2 năm gia nhập WTO, với việc mở rộng thị trường số lượng doanh nghiệp SMEs được thành lập tăng với số lượng nhanh

chóng với khoảng 1400 doanh nghiệp thời kỳ 2000-2005 thì đến 2006-2008 con số này đã là xấp xỉ 2500 doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với sự gia tăng nhanh số lượng của các SMEs nên số lượng nguyên vật liệu nhập khẩu tăng trong những năm gần đây là điều không thể tránh khỏi.

Bảng dưới đây, tổng kết tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu của SMEs DMVN hai năm sau khi gia nhập WTO, giai đoạn 2006-2008

Bảng15: Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu của SMEs DMVN 2006-2008

Mặt hàng

2006 2007 2008

Số lượng (tấn)

Trị giá (Triệu USD)

Số lượng (tấn)

Trị giá (Triệu USD)

Số lượng (tấn)

Trị giá (Triệu USD)

Bông 181,200 219 212,000 268 291,000 468

Sợi các loại 338,831 544 425,000 744 414,000 788

Vải các loại 2980 3980 4454

Phụ liệu dệt may

da giầy

1952 2152 2376

Nguồn: www.vietnamtextile.org.vn

So với thời điểm trước khi gia nhập WTO tỷ lệ nguyên vật liệu phải nhập trung bình của các SMEs DMVN là 75-85%, cụ thể bông và tơ sợi vẫn còn phải nhập khẩu với tỷ lệ 92%, các nguyên phụ liệu khác ở mức 95%, riêng các loại thuốc nhuộm vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn 100%.

Số liệu sau về tỷ lệ các doanh nghiệp DMVN phân theo nhóm sản phẩm năm 2008 phản ánh được phần nào thực trạng cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành Dệt may Việt Nam. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành phụ trợ chiếm một tỷ lệ quá khiêm tốn chỉ bằng 1,6%/ tổng số các doanh nghiệp trong ngành Dệt may.

Một phần của tài liệu Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO.doc (Trang 42 - 92)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(95 trang)
w