Mục tiêu của NNBV đối với đất

Một phần của tài liệu Chuong 6.pdf (Trang 55 - 58)

6. Nông nghiệp bền vững - lối đi cho tương lai 1. Đặt vấn đề

6.4. Mục tiêu của NNBV đối với đất

Đất là tài nguyên gắn bó mật thiết với sinh vật, và có quan hệ hữu cơ với nông nghiệp và lâm nghiệp. Trước khi sự sống xuất hiện thì không có đất mặt, đất mặt chỉ

được hình thành sau khi có sinh vật, khoảng một ngàn triệu năm trước đây.

Mục tiêu của NNBV là cải tạo để phục hồi những loại đất đã bị tác động phiến diện của con người làm cho thoái hoá, duy trì và nâng cao tiềm năng sinh học của các loại đất còn chưa bị suy thoái; và để cho các hệ sinh thái đặc biệt như đầm lầy, sa mạc, đất cát ven biển, đất đồi núi... diễn biến theo xu hướng tự nhiên có sự quản lý và định hướng của con người.

Trong vườn và trang trại, NNBV chủ trương sử dụng cho hết chất dinh dưỡng nhân tạo để chúng không trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm, bằng cách trồng nhiều loại cây, mỗi loại sử dụng những loại chất dinh dưỡng khác nhau, bón phân vào những lúc cây có thể sử dụng được tối đa.

a) Bón phân và giữ gìn đất

Có thể tìm thấy mô hình lý tưởng để bón phân và giữ gìn đất qua rừng tự nhiên, ở đó quá trình thêm và trả lại chất hữu cơ cho đất là chính. Lượng mùn trong đất bị giảm đi vì quá trình khoáng hoá, nên việc cung cấp lại lượng mùn bị mất đi hàng năm là hết sức cần thiết để giữa độ phì và phẩm chất của đất. Có thể bón thêm chất hữu cơ bằng nhiều cách: lớp phủ, phân xanh, phân chuồng, phân trộn... Lúc nào cũng cần phủ mặt đất bằng một thảm thực vật hay chất hữu cơ. Đất để trống dễ bị mưa gió và nhiệt độ cao tác động, dễ làm đất bị xói mòn.

Cần tránh trộn các chất hữu cơ thô (chưa phân huỷ hoàn toàn) vào đất vì những giai đoạn đầu của quá trình phân huỷ cần nhiều ôxy dễ làm cho rễ cây bị thiếu ôxy, sinh ra khí mêtan có hại cho rễ (cây ăn lá và ăn quả rất mẫn cảm với các khí độc này), độ chua hữu cơ của đất tăng làm rối loạn sự cân bằng vi sinh vật (nấm có hại tăng lên). Chỉ nên để chất hữu cơ thô lên mặt đất làm lớp phủ. Trong những trường hợp phải trộn chất hữu cơ thô (phân xanh) với đất, cần có thời gian để phân xanh phân huỷ hoàn toàn trước khi trồng cây trồng chính.

Trồng cây và cỏ dọc đường ranh giới khu đất nhằm bảo vệ đất khỏi bị mưa làm sụt lở và kiểm tra sự rửa trôi ở lớp đất mặt. Về sau, khu đất ven ranh giới này sẽ trở thành một nguồn phân hữu cơ, cỏ khô, củi đun, thực phẩm hay gỗ xây dựng, đồng thời có tác dụng chắn gió.

Hạn chế dùng hoá chất trong nông nghiệp. Các hoá chất này có thể cung cấp nhanh các chất dinh dưỡng như N.P.K hay diệt sâu bệnh, nhưng chính chúng làm mất cân bằng sinh thái đất. Tính axit của phân hoá học làm mất hoạt tính của vi sinh vật, và chúng còn bị chết vì độc tính của nông dược hoá học. mặt khác, cân bằng dinh dưỡng của cây còn bị rối loạn vì cây chỉ được cung cấp một số chất dinh dưỡng nhất định, do đó dễ bị sâu bệnh hại tấn công.

b) Phủ mặt đất và ít cày xới

Phủ lên bề mặt đất một lớp phủ gồm các loại chất hữu cơ khác nhau như cỏ, lá

rụng, rơm rạ... vừa có vai trò bảo vệ đất vừa có khả năng nâng cao độ phì thực tế của

đất. Việc cày xới có thể giảm nếu có đủ lớp phủ.

Ưu điểm của lớp phủ là bảo vệ đất khỏi tác động của hạt mưa và nhiệt độ cao.

Làm đất kỹ đôi khi lại là nguyên nhân của xói mòn đất. Lớp phủ còn cải tiến kết cấu vật lý của lớp đất mặt, làm tăng độ kết cấu, tăng khả năng giữ ẩm. Về mùa khô, lớp phủ ngăn ngừa quá trình bốc hơi và giữ ẩm. Nó còn làm tăng độ phì nhờ quá

trình phân huỷ và tiêu biến tự nhiên. Trong khi phân huỷ nó làm giầu và cân đối các nguyên tố vi lượng. Các chất dinh dưỡng ít bị hao phí vì quá trình phân huỷ diễn ra trên mặt đất, nơi cần sử dụng nhiều nhất các chất dinh dưỡng. Lớp phủ làm giảm cỏ dại. Đây là công việc đơn giản và giảm công lao động làm đất.

Tuy vậy, lớp phủ cũng có nhược điểm như gây nấm mốc vào mùa mưa. Nên bắt

đầu phủ đất vào mùa khô, phơi khô vật liệu phủ trước khi dùng. Lớp phủ đôi khi là trở ngại cho việc gieo hạt giống. Nên phủ lớp mỏng trước khi gieo hạt.

Nguyên liệu làm lớp phủ là bất cứ loại chất hữu cơ nào: lá cây, cỏ, mùn cưa...

Nếu có nhu cầu bảo vệ đất và tránh nấm mốc gây bệnh vào mùa mưa, thì nên dùng nguyên liệu có tỷ lệ C/N cao, tức là có hàm lượng C cao (rơm rạ...); nếu muốn làm

đất màu mỡ thì dùng nguyên liệu có tỷ lệ C/N thấp (cây họ đậu, phân trộn...).

Lớp phủ “sống” là trồng một loại cây họ đậu thấp, có khả năng bò lan nhanh.

Ưu điểm là không cần phải thu gom nguyên liệu, bảo vệ đất lâu dài, cung cấp thêm N cho đất. ở Việt nam có thể dùng đậu ván, đậu triều, cỏ ba lá...

c) Tăng cường sử dụng phân xanh

Dùng phân xanh là trồng cây phân xanh (cây họ đậu) một thời gian và trả lại toàn bộ sinh khối cho đất. Cây phân xanh có ưu điểm là mọc nhanh, thu được sinh khối lớn sau một thời gian ngắn, có thể cố định được N khí quyển nhờ cộng sinh với vi khuẩn có khả năng cố định N ở hệ rễ. Có thể cắt cây phân xanh làm lớp phủ trên mặt đất để rút ngắn thời gian phân huỷ, giảm công làm đất.

Phân xanh cải thiện độ phì nhiêu của đất: đất trở nên tơi xốp hơn, tăng khả năng giữ nước và dẫn nước, tăng dinh dưỡng cho đất, tăng số lượng và hoạt tính của các vi sinh vật. Nhược điểm là cần nhiều thời gian: chờ cây mọc 1,5-2 tháng và phân huỷ trong 2-3 tuần (phụ thuộc vào nhiệt độ, loại cây phân xanh...). Thường người ta chỉ gieo phân xanh vào thời gian không thể trồng cây kinh tế.

d) Tích cực sử dụng phân trộn (phân rác)

Trộn phân (compốt) là cách làm phổ biến nhất để cải thiện độ phì của đất. Trộn các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (tỷ lệ C/N khác nhau, tươi và khô, cỏ, đất...) giúp cho sự phân huỷ và sau khi phân huỷ hoàn toàn thì sử dụng làm phân bón. Mục đích chính là biến đổi chất hữu cơ thô thành mùn.

So với phân xanh và lớp phủ, phân trộn được sử dụng nhanh hơn. Nguyên liệu hữu cơ đã được phân huỷ trước và ở dạng mùn hợp với cây. Phân trộn là loại phân sạch nên đất cũng sạch. Ưu điểm nữa là dùng nguyên liệu sắn có ngay tại chỗ và dùng cả rác thải. Nhược điểm là cần nhiều chất hữu cơ trong khi không phải ở vùng nông thôn nào cũng sẵn rác thải là chất hữu cơ. Trong quá trình trộn phân, một số chất dinh dưỡng bị mất do nắng nóng, mưa và gió. Người ta thường đặt hố trộn dưới tán cây hay có mái che và trộn đảo sao cho phân có thể dùng sau 3 tháng. Quá trình xử lý phân trộn khá vất vả: thu nhặt, trộn, đảo...

e) Trồng cây và cỏ dọc đường ranh giới

Đường ranh giới giữa các đơn vị sản xuất nông nghiệp là nguồn tài nguyên có thể sinh lợi. Ưu điểm của biện pháp này là kiểm tra được sự xói mòn của dất. Mưa to không những làm cuốn trôi chỗ đất mặt mà còn làm sụt lở vùng ranh giới. Rễ cây và rễ cỏ giữ chặt đất làm cho vùng ranh giới không bị rửa trôi, sụt lở. Cây to còn ngăn gió, bảo vệ cây trồng phía trong. Vùng ranh giới cũng là nơi sản xuất chất hữu cơ để bồi dưỡng đất. Cây lâu năm sử dụng ánh sáng mặt trời quanh năm, và có khả

năng huy động dinh dưỡng từ các tầng đất sâu, đồng thời sản xuất sinh khối lớn hơn cây hàng năm. Cỏ ven đường dùng cho gia súc, cây làm củi đun...

Cây, cỏ ở đây còn có ý nghĩa quan trọng trong cân bằng sinh thái, tăng tính đa dạng của thực vật, tạo nơi sống cho động vật có ích (chim, nhện, ếch nhái...). Người ta ít trồng cây to trong vườn vì tốn diện tích, che ánh sáng cây hàng năm; vì thế ở những khu ranh giới có thể trồng cây to đa mục đích: tạo bóng mát, lấy gỗ, lấy thực phẩm, lấy phân xanh, lấy củi...

Đứng trên quan điểm NNBV, có thể thấy có mấy hướng sử dụng với các loại

“đất có vấn đề” như sau:

Đất dốc vùng đồi núi: Tuỳ theo độ dốc, tầng dầy, mức độ lẫn đá, độ phì và các chỉ tiêu thổ nhưỡng nông hoá khác mà chọn các loại cây trồng cho phù hợp, chú

ý dến ý nghĩa bảo vệ và cải tạo đất (trồng rừng, trồng cây nông nghiệp lâu năm (như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả...), cây dược liệu. áp dụng hệ thống các biện pháp kỹ thuật chống rửa trôi, xói mòn, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của

đất.

Đất úng trũng: Nếu việc tiêu nước ở đó quá tốn kém, cần chuyển hướng sản xuất phù hợp với điều kiện ngập úng như trồng trọt kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, mở mang nghề phụ...

Đất mặn ven biển: Tận dụng tiềm năng nước lợ, nước mặn, phát triển nguồn lợi thuỷ sản, trồng và bảo vệ rừng ngập mặn và ưu tiên các loại cây trồng chịu mặn (cói) và phát triển nghề phụ.

Đất phèn: Nâng cao tính đa dạng sinh học trong canh tác và sử dụng đất: trồng rừng (tràm, so đũa, bần...), nuôi cá, tôm và các nguồn lợi sinh học khác.

7.

8. Xây dựng NNBV trên cơ sở sinh thái học

Một phần của tài liệu Chuong 6.pdf (Trang 55 - 58)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(78 trang)