Phong tục tập quán

Một phần của tài liệu Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư dân Mã Châu.doc (Trang 56 - 63)

Chương 3: ĐÔI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA CƯ DÂN MÃ CHÂU

3.2. Phong tục tập quán

3.2.1. Hội làng.

Hội làng diễn ra vào ngày 10/3 Âm lịch. Trước đây, khi chưa bị chiến tranh tàn phá thì đình Tiền hiền Mã Châu và miếu Thành Hoàng nằm ở trên một khu đất (mà nay là khuôn viên trường cấp II Sào Nam và HTX ươm dệt thị trấn Nam Phước). Sau khi tế lễ ở đình, miếu người dân Mã Châu tổ chức những trò chơi như: hát bội, hát bài chòi, hò khoan đối đáp, thi bơi thuyền trên sông Bà Rén...

Sau khi đình Tiền và miếu Thành Hoàng bị phá thì hội làng cũng mất đi. Hiện nay đình Tiền Hiền Tứ Mã đã được xây dựng lại, nhưng mới khôi phục lại được phần tế lễ còn phần hội thì do nhiều nguyên nhân (mà nguyên nhân chủ yếu là người dân làng Mã Châu hiện nay quá bận bịu với nghề dệt) nên chưa khôi phục lại được.

Thiết nghĩ hội làng là một hình thức sinh hoạt văn hoá rất bổ ích, mong rằng chính quyền các cấp cùng bà con thôn Châu Hiệp - làng Mã Châu (càng sớm càng tốt) có kế hoạch khôi phục lại nét đẹp văn hoá này, nhất là hiện nay, khi Mã Châu vừa làm lễ ra mắt làng nghề truyền thống và trở thành một điểm trong "Tua" du lịch của huyện Duy Xuyên và mở rộng ra là Quảng Nam.

3.2.2. Tết Nguyên Đán.

Tết Nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên của năm, bắt đầu từ lúc giao thừa, tức là lúc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Nhưng thực ra lễ tết đã bắt đầu từ trước đó nhiều ngày với những lễ:

- Lễ cúng ông Công, ông Táo ngày 23 tháng Chạp.

- Lễ dựng nêu: Người ta quan niệm những ngày cuối năm, ông Công, ông Táo đi vắng ma quỷ thường đến quấy nhiễu và vì nơi đây xưa kia là vùng đất của ma lai, ma hời, là nơi "rừng thiêng, nước độc". Vì vậy phải dựng nêu để chống quỷ dữ.

Cây nêu là một cây tre, còn để phần lá trên ngọn, được trồng ở trước nhà, trên ngọn tre có tấm phên đan bốn thanh dọc, năm thanh ngang biểu thị cho lá bùa để xua đuổi quỷ dữ.

Tín ngưỡng về "ma lai, ma hời" ở Mã Châu được thể hiện rất rõ qua cách "đi đồng" của cư dân nơi đây. Trước đây (chưa lâu lắm), khi muốn "giải quyết" người ta thường đi ra đồng. Xong việc, người ta cắm một cái que lên trên đống “sản phẩm” của mình. Người ta giải thích là làm như vậy để cho ma lai, ma hời thấy mình "đánh dấu" rồi thì nó không dám ăn và như vậy, nó không gây được tai hoạ, bệnh tật cho con người.

Sau này, trước khi có hố xí tự hoại, người dân ở đây làm nhà xí rất đơn giản. Họ đào một cái hố ở góc vườn, trên hố đan một cái phên tre đậy lên và bốn xung quanh được che tạm bằng phên, lá hoặc nilông... Khi thải đầy hố, người ta lại đào một cái hố mới và lấp cái hố cũ đi chứ không dùng loại phân đó cho sản xuất. Họ lý giải nếu đem bón phân cho cây thì khi con người ăn phải sẽ bị bệnh tật. Điều này liên quan tới tín ngưỡng, của những người Việt trước đây khi mới vào vùng đất này khai hoang lập làng.

- Bữa cơm tất niên: ngày 30 tết người ta thường đi thăm mộ tổ tiên và mời tổ tiên về ăn tết với gia đình. Sau đó họ về dọn dẹp nhà cửa và làm cơm tất niên.

Người ta làm hai mâm cơm cúng: một mâm đặt ở trên bàn thờ tổ tiên;

một mâm đặt ở ngoài sân để cùng những âm hồn không nơi nương tựa. Mâm ở ngoài sân phải có muối, gạo khi cúng xong thì vãi ra đất gọi là "phát chẩn".

Mâm cơm cúng ông bà tổ tiên nhất thiết phải có bánh tráng (bánh đa) phủ lên trên mâm cơm. Truyền miệng nói rằng trước đây vùng đất này là đất của ma lai, ma hời sinh sống, người Việt vào khai hoang, đánh đuổi nó đi, làm chúng không có chỗ nương thân, chết đói, chết khát, khi thấy mâm cơm cúng tổ tiên, nó định đến cướp nhưng nhìn thấy bánh tráng thì nó sợ mà bỏ chạy.

- Cúng giao thừa: Sau bữa cơm tất niên, người ta chuẩn bị cho việc cúng giao thừa (tiễn năm cũ, đón năm mới). Bàn thờ được đăt ở giữa sân, có một đỉnh trầm hoặc một bát hương, hai bên là hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến.

Lễ vật gồm: một con gà trống giò, bánh tổ (bánh trưng), bánh kẹo, hoa quả, trầu cau, rượu, nước, vàng mã...

Sau khi cúng giao thừa, người ta kéo nhau đi lễ ở các đình, chùa, miếu để cầu mong thần phật phù hộ cho bản thân và gia đình. Nhân dịp này người ta xin quẻ đầu năm, xin lộc ở các đền, chùa, miếu... với hy vọng gặp may mắn và làm ăn phát đạt quanh năm.

Trong ngày tết có rất nhiều tục lệ:

- Chọn người xông nhà.

- Đi chúc tết ông bà, cha mẹ và hàng xóm láng giềng.

- Chọn hướng xuất hành.

- Mừng tuổi (thường là lì xì cho trẻ em)...

- Lễ Hạ nêu: từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng người ta làm lễ hạ nên. Mọi công việc hàng ngày, người ta chỉ bắt đầu sau lễ này.

Trong ngày tết ở đây nhất định phải có bánh tổ (bánh trưng), bánh tét (Bánh làm bằng gạo nếp, được gói bằng lá chuối hay lá dong, hình tròn và ở giữa có nhân đậu xanh), bánh in (làm từ gạo nếp được xay thành bột và nhào với đường cám, đem in vào khuôn sau đó cho vào lò hay cho lên bếp sấy khô).

3.2.2. Hôn lễ.

Hôn nhân là một trong những việc quan trọng nhất của đời người (Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà). Đó không phải chỉ là chuyện riêng tư của đôi lứa, mà còn là chuyện của hai bên cha mẹ, họ hàng nữa. Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống là nguyên tắc không thể thiếu. Người ta rất coi trọng việc dựng vợ, gả chồng cho con cái.

Ở Mã Châu, trong việc cưới xin thì có tục cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Nhưng trước khi “đặt”, cha mẹ có tham khảo ý kiến của con cái chứ không áp đặt, bắt con cái phải tuân theo.

Việc hôn nhân được tiến hành theo trình tự, đầu tiên khi nhà trai chọn được một cô gái nào đó, họ nhờ ông mai đến dò hỏi ý kiến của nhà gái, tức là nhà trai nhờ người (thông thường là người hàng xóm, có quen thân với cả hai gia đình) đến nhà gái đặt vấn đề cho đôi trẻ tự do đi lại tìm hiểu nhau.

- Lễ đính hôn (Ăn hỏi): nhà trai và nhà gái chọn ngày lành tháng tốt để nhà trai đến nhà gái ăn hỏi. Lễ vật phải có sáu quả, bên trong đựng hoa quả, bánh trái, trầu cau, thuốc...

- Lễ thỉnh kỳ: hai nhà bàn bạc chi tiết về ngày cưới đã được thoả thuận từ trước và tiến hành chuẩn bị lễ cưới.

- Lễ cưới (lễ Thành hôn): thường được tổ chức ở nhà gái trước, sau đó đưa dâu về nhà trai và đến lượt nhà trai tổ chức. Họ nhà trai đi đón dâu, trước khi đến có cử một người đại diện bưng khay trầu rượu đi trước để báo tin. Đoàn đón dâu của nhà trai vừa tới thì nhà gái nổ pháo nghênh tiếp. Lễ vật của nhà trai được đặt lên trên bàn thờ nhà gái. Sau đó cô dâu chú rể, dưới sự hướng dẫn của người chủ hôn, tới lễ gia tiên và cha mẹ đôi bên. Lễ xong, đôi bên cha mẹ, họ hàng lần lượt tới tặng quà cưới và chúc đôi trẻ hạnh phúc.

Sau khi xong tiệc ở nhà gái, nhà trai xin đón dâu về. Tại nhà trai, cô dâu chú rể cũng phải làm những lễ thức như đã tiến hành ở bên nhà gái.

Trường hợp lấy vợ, lấy chồng ở ngoài làng thì nhà trai, nhà gái phải nộp cho làng một khoản lễ nhỏ để làm lễ báo. Trước đây gọi là nộp cheo.

Đám cưới tổ chức to, nhỏ tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh của từng gia đình nhưng trước đây nhìn chung thường tổ chức linh đình, tốn kém. Hiện nay thực hiện theo nếp sống văn hoá mới, nhiều lễ nghi rườm rà được xoá bỏ và thay vào đó là những tục lệ đơn giản, ít tốn kém hơn nhưng vẫn giữ được những tập tục vốn có của nó.

3.2.4. Tang lễ.

Người Việt Nam nói chung, cho rằng người chết đi chỉ là phần thể xác còn phần linh hồn vẫn sống mãi. Nên khi gia đình có người qua đời, công việc chuẩn bị cho người chết hết sức chu đáo. Đây cũng thể hiện lòng kính trọng của gia đình đối với người đã khuất.

Khi trong nhà có người qua đời thì gia chủ phải đi thông báo cho họ hàng, làng xóm biết để mọi người tới giúp đỡ. Gia đình tang chủ phải phó thác hết công việc tang ma cho bà con hàng xóm và không ai trong gia đình được động vào người chết. Thông thường khi gia đình có người chết, người ta không tự lo liệu được công việc tang ma do đau buồn, thương xót, sợ không đủ sáng suốt để lo liệu nhiều công việc trong cùng một lúc nên phải nhờ cậy hàng xóm láng giềng.

Trước giờ khâm niệm, người ta tắm rửa, thay quần áo và đặt vào miệng người chết 3 hạt gạo, 3 đồng tiền kẽm. Sau đó người ta buộc hai ngón chân cái của người chết lại với nhau và đặt thi hài vào trong quan tài.

Linh cữu người chết được đặt ở giữa nhà, đầu quay vào trong, chân hướng ra cửa. Phía trước linh cữu người ta lập một hương án làm chỗ để thờ và để mọi người đến viếng dâng hương. Bên cạnh bàn thờ cheo một khổ giấy màu đỏ ghi tên, tuổi, quê quán của người chết, gọi là Triệu.

Thông thường người ta để quan tài trong nhà 2 đến 3 ngày, sau đó đem chôn. Tuy nhiên có trường hợp gặp ngày hung thì người ta để quan tài trong nhà có khi đến 5 - 6 ngày, cũng có khi người ta đào hai huyệt khi chôn người chết, người ta đặt linh cữu vào một huyệt rồi chuyển sang huyệt thứ hai rồi chôn chứ không để lâu ngày trong nhà.

- Lễ thành phục (bịt khăn): Sau khi khâm liệm người chết, gia đình tang chủ bắt đầu làm lễ đeo khăn tang.

Để có một nơi yên nghỉ tốt đẹp cho người đã khuất, gia chủ mời một vị thầy địa lý đến chọn đất. Khi chọn được đất, gia chủ phải làm mâm cơm yết cáo với thổ thần nơi đó để xin phép đào huyệt. Người chết được chôn ở bãi tha ma của làng, trên những gò cát, đầu hướng lên đỉnh gò, chân phía dưới ruộng và bia mộ thường được đặt ở dưới chân mộ.

Những gia đình khá giả thường thuê ông Tổng. Ông Tổng là người chỉ huy, điều khiển và sắp xếp mọi việc trong gia đình người chết, từ việc khâm liệm đến việc điều khiển, chỉ huy đám tang đưa người chết về nời an nghỉ cuối cùng. Ông Tổng thay mặt gia đình tiếp đón những người đến viếng, giúp gia đình kể lể sự xót thương của thân quyến trong gia đình đó với người đã khuất mà tự họ không thể bày tỏ được. Nếu ông Tổng là người giỏi thì có thể làm giảm nhẹ nỗi đau của gia đình có người đã khuất.

Lúc hạ huyệt, mọi người tiến đưa người quá cố bằng một nắm đất vứt nhẹ xuống quan tài. Ở đây mộ táng một lần, không cải táng.

- Lễ mở cửa mả: Sau ba ngày, người ta làm lễ mở cửa mả. Lễ gồm hai phần: Cúng tạ thổ thần nơi mộ được chôn cất và sửa sang lại ngôi mộ. Sau đó người ta cúng cơm tại gia đình và mời bà con hàng xóm - những người đã tận tình giúp đỡ gia đình trong lúc tang lễ đến để cảm ơn. Người ta cúng vì quan niệm linh hồn người chết, đến trước lễ mở cửa mả vẫn chưa sang được thế giới bên kia, vì vậy cứ đến bữa phải cúng cơm trên bàn thờ người chết.

Liên quan đến người chết còn có một số tục lệ như tục: Cầu hồn, son môi...

- Tục cầu hồn: Gia đình người chết sau một thời gian họ mời một thầy cúng đến gọi hồn người chết về để hỏi xem ở thế giới bên kia người chết có được yên ổn không và có cần gì không để gia đình gửi cho. Có tục lệ này là vì người ta vẫn quan niệm có thế giới bên kia và thầy cúng là người có thể giao tiếp được với những người đã khuất.

- Tục son môi: Người ta quan niệm người chết " ngã nước" (chết đuối trên sông, trên biển) thì linh hồn không được siêu thoát và không đến được thế giới bên kia. Vì vậy người ta làm lễ để cầu cho linh hồn người đó được siêu thoát.

Hiện nay, việc tang ma có nhiều thay đổi. Tang lễ làm gọn nhẹ, đơn giản hơn nhưng vẫn giữ được sự trang nghiêm. Những hủ tục như cầu hồn, son môi, để người chết trong nhà nhiều ngày... đã bị bãi bỏ. Việc cám ơn hàng xóm láng giềng được làm nhỏ chứ không kèm theo ăn uống ồn ào như trước.

Một phần của tài liệu Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư dân Mã Châu.doc (Trang 56 - 63)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(70 trang)
w