Nghề dệt: Nguồn gốc và sự phát triển

Một phần của tài liệu Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư dân Mã Châu.doc (Trang 33 - 42)

Chương 2: LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

2.2. Nghề dệt: Nguồn gốc và sự phát triển

2.2.1. Nguồn gốc nghề dệt.

Đồng bằng Duy Xuyên là vùng có nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa từ lâu đời. Các nhà Khảo cổ học đã chứng minh chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh là cư dân trồng lúa, trồng màu. Các dọi xe sợi trong các di chỉ Sa Huỳnh đã nói nên sự phát triển của nghề dệt trong văn hoá Sa Huỳnh. Cư dân Sa Huỳnh đã biết trồng các loại cây như bông, đay, gai... để lấy sợi dệt vải.

Đất Quảng không có mùa Đông nên việc trồng dâu nuôi tằm, một loại sâu nhiệt đới có thể tiến hành quanh năm. Đến đầu công nguyên sử cũ đã chép đất Nhật Nam (Trung và Bắc Trung bộ) tằm tơ một năm tám nứa kén chín.

Truyền thống "dâu tằm" là truyền thống lâu đời của đất Quảng, do biết vận dụng thời tiết và khí hậu. Bên cạnh đó là việc "trồng bông", dệt vải lụa, nhuộm vải lụa nhiều màu (cư dân cổ Sa Huỳnh là những chuyên gia về chất liệu màu, đã tìm thấy ở nhiều di tích Sa Huỳnh những "con lăn" bằng đất nung) [37.429].

Tiếp thu cơ cấu sẵn có tuy chưa hoàn chỉnh của hệ thống văn hoá Sa Huỳnh trước đó, người Chăm đã có một nền kinh tế đa thành phần mà trước hết là nghề nông trồng lúa nước, dâu tằm - hoa màu, nghề rừng, nghề biển, nghề thủ công (rèn sắt, dệt vải lụa, làm gốm, chế tạo đồ thuỷ tinh...), phát triển nghề buôn bán đường biển, đường sông và đường núi [35.155].

Trong Luận án Phó Tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Lâm Bá Nam khảo về nghề dệt ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, thì ông tổ nghề dệt ở các làng làm nghề dệt ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ có ba nguồn gốc như sau:

1- Tổ nghề dệt có nguồn gốc từ phương Bắc như mười làng La ở Hà Tây.

2 - Tổ nghề dệt có nguồn gốc từ người Chăm như Công chúa Thụ La ở phường Nhược Công, bà chúa lĩnh Phan Thị Ngọc Đô ở Trích Sài.

3 - Tổ nghề dệt là cư dân người Việt [7.131].

Trong số những vị tổ nghề người Chăm đó thì Bà chúa lĩnh Phan Thị Ngọc Đô đến truyền nghề dệt cho cư dân ở Trích Sài vào thời Lê Thánh Tông.

Và theo Maspero, người Chàm xưa trồng dâu để nuôi tằm và trồng bông... người ta lấy bông rồi kéo sợi để dệt vải thô, vải thô đan chuội đi trông giống như vải nhỏ. Nhuộm đi dệt thành vải ngũ sắc và vải có màu lốm đốm... phụ nữ dệt lụa và vải, những vải tàng trữ trong các kho vua xưa chứng tỏ họ dệt rất khéo"[23.295].

Như vậy, trước khi người Việt đến "khai hoang lập nghiệp" thì ở vùng này đã có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, dệt lụa phát triển khá cao.

Người Việt từ xưa vốn đã biết trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa (ở các di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên cách nay 4000 - 3500 năm đã tìm được rất nhiều dọi xe sợi, đồng thời các dấu vải rất mịn ở đồ gốm Phùng Nguyên cũng chứng tỏ nghề xe soẹi dệt vải đã phát triển khá cao), khi vào tới vùng đất mới, bên những bãi dâu ngút ngàn ven đôi bờ sông Thu Bồn, họ đã tiếp thu (cũng góp phần cải tiến, hoàn thiện kỹ thuật dệt) và tiếp tục phát triển nghề dệt từ người Chăm và của người Chăm, tạo nên những làng nghề dệt truyền thống của người Việt ở đây.

Ở Mã Châu, theo hồi cố của các cụ già trong làng thì có nhiều dòng họ, từ trước đến nay chỉ chuyên sống bằng nghề dệt. Văn tế của họ Nguyễn (theo tộc phả thì người gốc Thanh Hoá, đến làng mã Châu lập nghiệp được 15 đời), khi thờ cúng tổ tiên ở nhà thờ họ có câu: "Đem nghề tơ lụa vẻ vang cho con cháu nối truyền hậu thế". Cũng phần nào cho thấy sự giao thoa, kết hợp và phát triển kỹ thuật dệt Việt - Chăm ở đây.

Nghề dệt từ xưa, không chỉ có riêng ở Mã Châu mà mở rộng khắp vùng Duy Xuyên, Điện Bàn. Lê Quý đôn từ thế kỷ XVIII đã nhận xét: "Dân ở phủ

Thăng Hoa và phủ Điện Bàn thuộc tỉnh hạt Quảng Nam thì có nhiều người biết dệt vải lụa, thái đoạn, lăng la, các hàng hoa khác vừa tinh xảo, vừa đẹp mắt, không thua kém gì các thứ hàng bên tỉnh Quảng Đông"[8]. Nghề dệt chạy dọc theo hai bên bờ sông Thu Bồn và Bà Rén từ đỉnh tam giác đồng bằng Duy Xuyên là Thi Lai (Tam Thi), Đông Yên - Duy Trinh qua Mã Châu, Trung Lương của thị trấn Nam Phước đến Long Châu - Duy Vinh, điều này được thể hiện qua các câu ca làng nghề:

Mã Châu tơ lụa mỹ miều

Ban mai cửi mắc, chiều chiều lụa giăng.

với nhiều biến thể:

Thi Lai tơ lụa mỹ miều...

Đông Yên tơ lụa mỹ miều...

và trở thành câu ca cho toàn vùng:

Duy Xuyên tơ lụa mỹ miều...

Theo sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An thì ở phủ Điện Bàn:

"Long Châu sản xuất nhiều lụa trắng"[22.43].

Đại Nam nhất thống chí, mục thổ sản cũng chép: "Lụa - sản ở xã Thăng Bình huyện Diên Phước thì chất dày, sản ở Mã Châu huyện Duy Xuyên thì chất mỏng". Vải các huyện đều có. Lời nhận xét dân ở đây "tục ưa xa xỉ, ít kiến thức, ăn mặc tất lượt là, thêu dệt tinh khoé, sa trừu không kém gì Quảng Đông"

[19.336-339] cũng cho thấy nghề dệt ở đây rất tinh xảo.

2.2.2. Trồng dâu nuôi tằm

Mã Châu nằm trong vùng trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa dọc theo hai bên bờ sông Bà Rén, hàng năm sông Bà Rén bồi đắp phù sa cho làng sau

mùa lũ lụt, đất được bồi tụ thường xuyên, thuận lợi cho việc trồng dâu nuôi tằm phát triển.

Trước đây diện tích đất bãi được chia đều cho các thành viên trong làng. đất được dùng để trồng lúa, trồng dâu (chủ yếu là trồng dâu). làng Mã Châu đã sớm phân chia thành những hộ chuyên làm nghề trồng dâu nuôi tằm và những hộ chuyên làm nghề dệt. Ít có hộ gia đình đảm nhận từ khâu đầu đến khâu cuối.

Cây dâu ở đây được trồng vào tháng 10, trên bãi đất bồi bằng những cành nhỏ (miền Bắc gọi là hom dâu). Cây dâu sau khi trồng thì 10 đến15 năm sau mới phải trồng lại. Mỗi năm vào tháng 11, người ta chặt hết cành dâu và chờ nảy ra vụ mới. Đó cũng là mùa nước lũ, nước sông Bà Rén dâng cao đem lại một nguồn dinh dưỡng lớn để nuôi cây dâu. Cây dâu ở đây có khả năng chịu hạn cao.

Tháng 3, lá dâu lên tốt cũng là lúc bước vào vụ tằm. Một năm ở đây nuôi được tám lứa tằm, trong đó có một lứa tằm xuân vào tháng 3. Từ tháng 4, tháng 5 bắt đầu vào vụ, kết thúc vào tháng 11 và tháng 7, tháng 8 là thời điểm thích hợp nhất để nuôi tằm.

Tằm ở đây là giống tằm đa hệ, tức là một năm có thể đẻ nhiều lượt trứng liên tục (Khác với giống tằm đơn hệ - đẻ một lứa trứng một năm và giống tằm lưỡng hệ - đẻ hai lứa trứng một năm mới được nhập từ nước ngoài vào).

Mỗi lứa tằm từ 20 - 22 ngày. Bệnh tằm trước đây thường gặp là bệnh gai: Con tằm bình thường toàn thân trơn láng, màu xanh lơ, khi bị bệnh thì nổi gai trên các khoang, tằm từ màu xanh lơ chuyển sang màu bạc. Bệnh này do vi rút gây bệnh có từ trong trứng. Vì vậy người nuôi tằm trước kia rất sợ, bởi nếu lứa tằm nào gặp bệnh này thì coi như bỏ đi. Hiện nay công nghệ hiện đại đã sử lý được trứng tằm do vậy bệnh này hầu như đã bị loại bỏ.

Nhìn chung, cứ 20kg lá dâu/1kg kén. Khi tằm làm kén chuyển sang ngày thứ ba thì phải bán cho người ươm tơ (người nuôi tằm không sản xuất đến khâu cuối). Tơ tốt hoặc lứa kén tốt phải được "9 kén, 1 tơ" (9kg kén được 1kg tơ). Người ta đánh giá chất kượng tơ tốt hay không ngay từ khi cầm con kén trên tay, tức là phải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm mà họ đã tích luỹ được trong quá trình nuôi tằm.

Do cơ chế thị trường, người dân Mã Châu đi chuyên vào nghề dệt vải, lụa mà không phát triển nghề nuôi tằm. Nghề trồng dâu nuôi tằm của Mã Châu, hiện nay đã di chuyển sang làng Trung Lương.

Mã Châu hiện nay có khoảng 3/4 dân số sống bằng nghề dệt và 1/4 dân số sống bằng nghề nông và các nghề khác.

2.2.3. Ươm tơ dệt lụa

Sau khi kén chín thì bắt đầu công việc kéo tơ. người ta nhúng kén vào nồi nước sôi, quấy đều sau đó bóc vỏ ngoài của kén và kéo sợi. Theo kinh nghiệm dân gian, kén chín vừa thì kéo sợi trơn và nhẹ tay, kén sống thì kéo nặng tay, kén chín quá thì sợi tơ nẫu ra không kéo được.

Kéo sợi xong, trước khi đưa vào dệt người ta tiến hành hồ sợi. Hồ để hồ sợi phải nấu không đặc và cũng không được loãng quá, hồ nấu đặc thì sẽ bị gai sợi và hồ nấu không kỹ thì sợi sẽ bị mốc. Nguyên liệu để nấu hồ là gạo tẻ, bột dong... được xay thành bột, sau đó rây lọc bã và nấu.

Sợi sau khi hồ, được đem phơi và quàng lên xa, cuộn vào các ống gọi là đánh ống. Tuy nhiên khâu hồ chủ yếu được tiến hành đối với sợi dọc. Sợi ngang sau khi phân loại, cho vào suốt là tiến hành dệt được.

Trước đây người ta dệt bằng khung dệt khổ hẹp độ 0,4m có một lá go, người thợ dệt cuốn chỉ vào con suốt, bỏ vào thoi làm bằng sừng trâu, ném qua lại bằng tay. Sau mỗi làn ném thoi thì đập lá go vào, giống như đan phên tre lóng mốt. Cứ vậy đến khoảng quá tầm tay thì dừng lại để cuộn vải vào, người thợ giỏi nhất cũng chỉ dệt được từ 3,5 -4m vải một ngày [15].

Sản phẩm dệt ra được phân loại theo nguyên liệu tơ. Người làm nghề dệt ở Mã Châu thường phân chia sản phẩm theo hai loại tơ tốt hay xấu. Nếu dùng nguyên liệu tơ tốt thì dệt ra vải lanh giá trị cao, phần lớn bán cho các nơi.

Còn dùng tơ thô thì dệt ra loại vải tít xo với giá rẻ hơn. Thực ra hàng tơ lụa ở đây được phân ra làm nhiều loại sản phẩm tuỳ theo chất lượng tơ và cách dệt như bài ca công nghệ đã mô tả:

Làm ra đủ thứ mặt hàng

Hàng đơn, hàng kép dọc ngang tinh tường Lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương Ấy là những thứ mặc thường của ta

Thứ trơn rồi lại thứ hoa

Quế, vân, gấm, vóc, băng, sa, kỳ cầu Lụa hoa mỗi thứ một màu Đọ vào nào kém hàng Tàu, hàng Tây.

Hiện nay loại khung cửi trên không còn ở Mã Châu và những làng dệt xung quanh nhưng dựa vào bức tranh vẽ về nghề dệt ở trước cửa Đình Tiền hiền Mã Châu hiện nay (Bản ảnh 6) thì khung dệt cổ truyền ở Mã Châu khá giống loại khung dệt cổ truyền của các làng dệt ở châu thổ Bắc Bộ.

Làng Mã Châu trước còn có nghề nhuộm. Hiện nay người ta dùng thuốc nhuộm hoá học. Nhưng trước kia, khi chưa có thuốc nhuộm hoá học thì có thể họ sử dụng cách nhuộm như người Cơ Tu ở miền núi Quảng Nam hiện nay

vẫn còn bảo lưu. Người Cơ Tu dùng những bộ phận của cây rừng làm thuốc nhuộm. Muốn có màu đỏ họ dùng củ cây ahứ giã nát, nấu lấy nước làm thuốc;

màu vàng thì lấy rễ cây vàng đắng, một loại cây dây leo (angoăn mrớt); màu đen thì dùng lá cây tarâm giã nát, ngâm lâu ngày. Riêng màu trắng thì có khi để nguyên màu trắng của bông nhưng tông màu này bị chói, nên họ lấy vỏ ốc dưới suối nướng chín giã thành bột và nhuộm để chúng không còn màu trắng loá nưã [28.20].

Đầu thế kỷ XX, ông Cửu Diễn (tên thật là Võ Diễn - ở thôn Thi Lai Tây - làng Thi Lai - Duy Trinh hiện nay) đã phát minh ra phương pháp cải tiến khung cửi do học được công nghệ từ những xưởng máy dệt của Pháp đầu tư.

Máy dệt được cải tiến tương đối giống máy dệt hiện nay ở Mã Châu và khung dệt khổ vải được mở rộng từ 0,8 - 1m. Với loại máy này người dệt vải không phải đưa con suốt qua lại và mỗi lần đưa qua phải đập lá go xuống mà chỉ phải đạp chân để chạy các bánh nhông chuyền làm cho các con suốt và lá go tự chạy qua lại.

Lúc bấy giờ điều kiện vật tư thiếu thốn, nhất là các bánh nhông chuyền bằng gang như hiện nay không có. Ông Cửu Diễn đã chế ra các bánh nhông răng cưa bằng những lát gỗ mít cưa tròn. Con thoi thì dùng hai đầu nhọn của sừng trâu hoặc sừng bò ghép lại, mài nhẵn để khỏi cưa đứt canh dọc [15].

Máy dệt lúc đầu dệt với một lá go sau cải tiến thành hai rồi bốn lá go nhằm tạo dáng mặt hàng đẹp hơn. Loại khung dệt này có năng xuất gấp ba, bốn lần so với khung dệt ném tay và đã nhanh chóng phát triển ra toàn vùng Duy Xuyên. Khi vùng này có điện thì người ta chuyển sang dùng khung dệt chạy bằng mô tơ. Khung dệt được cải tiến, mở rộng đến 1,2 - 1,5m. Từ đây mở ra cho ngành dệt Quảng Nam nói chung, Thi Lai, Mã Châu nói riêng một bước phát triển mới về mẫu mã, chất lượng sản phẩm như: tuyết, satin, nhung, crêpe... nhất

là kaki, cita, vải tám thời kỳ kháng chiến và phục vụ tiêu dùng. Thịnh hành nhất là thời kỳ 1956 - 1960 sợi tơ bóng của Nhật, sợi bông của Ấn Độ, thuốc nhuộm hoá chất được nhập vào cảng Sài Gòn, tràn về Duy Xuyên.

Trong chiến tranh vùng này bị tàn phá, dân cư ly tán (chủ yếu là đi Sài Gòn và đem theo nghề dệt vào đây). Sau khi chiến tranh kết thúc, nhà nước với cơ chế kinh tế bao cấp đã lập ra ở đây 4 hợp tác xã (HTX), trong đó có 3 HTX dệt và 1 HTX ươm dệt để sản xuất đồ Katê (đồ vải bông sợi nhập từ nước ngoài) và vải lụa do nhà nước bao thầu thu mua. Sau 1986, khi chuyển sang cơ chế thị trường thì 3 HTX dệt bị giải thể, những người dân làm nghề dệt ở đây cũng chuyển sang sinh sống bằng nghề khác.

Từ năm 1995 người dân Mã Châu quay lại với nghề dệt. Khung dệt gỗ thì mua lại những khung dệt cũ từ Sài Gòn, mang về đóng lại rồi đưa vào sản xuất. Máy dệt khung sắt ở đây cũng mới xuất hiện năm từ 2000 do người dân mua từ các nhà máy dệt Hà Nội, Sài Gòn, Nam Định do họ chuyển giao công nghệ.

Trồng dâu nuôi tằm hiện nay người dân Mã Châu không làm, chỉ còn một vài hộ ươm tơ dệt lụa, còn lại đa số người dân dệt hàng Katê (sợi bông vải và sợi tổng hợp); Nguyên liệu mua từ HTX ươm dệt thị trấn Nam Phước hoặc từ các đại lý trong làng. Ở Mã Châu có 24 đại lý cung cấp nguyên liệu và bao mua sản phẩm dệt của người dân làm ra. Từ các đại lý này hàng dệt được đưa đi các thị trường ở trong và ngoài nước.

Nghề dệt ở Mã Châu hiện nay đang bắt đầu khởi sắc do sự quan tâm bảo tồn và phát triển làng nghề của các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương tỉnh, huyện, thị trấn. Ngày ra mắt làng nghề truyền thống 30.3.2003 vừa qua, đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của nghề dệt ở đây.

Một phần của tài liệu Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư dân Mã Châu.doc (Trang 33 - 42)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(70 trang)
w