Chương 2: LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
2.3. Nghề dệt với đời sống văn hoá của cư dân Mã Châu
Khác với những làng nghề miền Bắc coi nghề thủ công là nghề phụ, ở Mã Châu, người dân coi nghề dệt là nghề chính. Làm ruộng ba năm (không bằng) nuôi tằm một lứa. Nhiều hộ gia đình và đặc biệt là một số dòng họ ở Mã Châu chỉ chuyên làm nghề dệt. Hiện nay có 3/4 lao động của làng tham gia vào nghề dệt, còn lại 1/4 là sản xuất nông nghiệp và làm các nghề khác.
Nghề dệt đã ăn sâu vào đời sống và chi phối mọi hoạt động của những người dân nơi đây. Họ đã tự hào:
Làng nghề truyền thống Mã Châu Ươm tơ dệt lụa, trồng dâu nuôi tằm.
Nghề dệt là một nghề vất vả, họ phải gắn mình bên khung cửi hàng ngày và gắn bó đời mình với nó, họ phải thức khuya dậy sớm để làm nghề chỉ với mong ước có một cuộc sống ổn định. Sự cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó của họ đã khiến một thi sĩ phải thốt lên:
“Ơi cô thợ dệt nhà bên
Thức chi sớm vậy bầu trời sáng sao Tôi còn nhớ giấc chiêm bao Sáng mai cô dậy gọi tôi với nào”.
(Thơ ông Hiền Tâm).
Nghề dệt ở đây không chỉ là nghề riêng của người phụ nữ, đàn ông cũng tham gia vào nghề dệt và cả việc buôn bán sản phẩm đi các vùng khác.
Nhờ nghề dệt mà Mã Châu có một diện mạo khá trù phú.
Nghè dệt đã thúc đẩy sự giao thương buôn bán giữa Mã Châu với các vùng xung quanh. Nơi đây từ rất sớm đã trở thành một điểm giao thương sầm uất, hàng hoá đi về tấp nập. Hàng đi là những cây vải, tơ lụa được sản xuất từ
Mã Châu, được các thương nhân từ nơi khác tới mua hoặc người dân ở đây đem đi bán:
Tơ, cau thuốc trở đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.
Hàng đến là các loại sản vật ở các vùng, các làng khác đem đến để cung cấp cho nhu cầu của cư dân Mã Châu. Với 3/4 dân số làm nghề dệt dẫn đến việc sản xuất nông nghiệp ở Mã Châu không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của người dân nơi đây. Vì vậy người dân ở đây cũng có nhu cầu mở rộng giao lưu buôn bán với các vùng khác. Mặt khác, nghề dệt cùng sự giao thương tấp nập đã làm cho đời sống kinh tế của cư dân Mã Châu tương đối ổn định và người dân có mức sống khá cao. Trong thời kỳ phát triển nhất của làng thì Mã Châu là nơi tập hợp những của ngon vật lạ, những đặc sản của các vùng xung quanh.
Là làng chuyên nghề dệt nên đời sống của cư dân ở đây cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc buôn bán sản phẩm. Khi sản phẩm làm ra bán được thì cuộc sống của họ tương đối ổn định nhưng khi sản phẩm làm ra không bán được hoặc buôn bán thua lỗ thì đời sống của họ cũng rất vất vả, cơ cực. Nó được thể hiện qua câu ca dao hóm hỉnh:
Con gái có chồng về đất Mã Châu Cái bụng xẹp lép, áo quần láng o.
Truyền thuyết dân gian ở Mã Châu cho biết nghề dệt là do những bậc Tiền hiền khai canh mang từ miền Bắc tới; nhưng cũng có truyền thuyết rằng nghề dệt là do bà Mã Chấu - một người Chăm, dạy cho cư dân ở đây (và tên làng Mã Châu cũng là tên Mã Chấu nhưng do lâu ngày đọc chệch nên thành Mã Châu)11.
11 VÒ sù h×nh thµnh lµng M· Ch©u theo truyÒn thuyÕt nµy, do t×nh tr¹ng thiÕu t liÖu th tÞch vµ nh÷ng t liÖu tríc n¨m 1945 vÒ lµng nªn t«i cha kiÓm chøng ®îc.
Với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", người dân Mã Châu tuy không nhớ nguồn gốc xuất xứ của vị tổ nghề dệt nhưng họ vẫn thờ phụng tổ nghề dệt tại Đình, chung với các vị Tiền hiền khai canh. Mỗi năm một lần họ tổ chức tế lễ (lễ này làm chung với lễ ở đình thờ Tiền hiền khai canh vào mungf mười tháng 3 Âm lịch) và ở mỗi nhà, mỗi khi đưa một khung cửi mới vào hoạt động hoặc khi hết một trục sợi, họ thường có một đĩa bánh trái, hoa quả và vài nén hương được đặt ngay trên khung cửi để báo với tổ nghề phù hộ cho công việc của họ.
Đối với những người có công với sự phát triển của nghề dệt, tuy không có thờ cúng nhưng người dân ở đây vẫn truyền miệng cho nhau nghe về sự đóng góp của họ cho nghề dệt như bà Đoàn Quý Phi, người đã có công mở rộng nghề dệt ra khắp vùng đồng bằng Quảng Nam; Ông Trần Văn An, người làng Mã Châu đã cùng ông Cửu Diễn người làng Thi Lai đưa loại khung dệt mới có năng suất cao hơn về vùng Duy Xuyên.
Hiện nay với công cuộc CNH - HĐH đất nước, nghề dệt ở Mã Châu đã và đang phát triển mạnh, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp cho những người dân làng Mã Châu và tạo công ăn việc làm cho hơn 300 lao động từ những làng xung quanh đến đây. Đó là chưa kể những lao động ở các làng khác đến học và đem nghề dệt phát tán đi những vùng xung quanh.
Việc phát triển làng nghề truyền thống đã góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân ở đây. Đa số các hộ gia đình ở làng đã có nhà cửa khang trang với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt như: ti vi, tủ lạnh, quạt điện, xe máy... Cả làng hiện chỉ có 14% hộ nghèo, chủ yếu là những hộ mất sức lao động, leo đơn già cả, đông con và những hộ làm nông nghiệp.
Nghề dệt cũng góp phần ngăn chặn những tệ nạn xã hội đang theo "cơ chế thị trường" len lỏi vào khắp nơi như: cờ bạc, nghiện hút, mại dâm... Do đặc
điểm của nghề dệt có thể tận dụng nguồn lao động trẻ, nhàn rỗi (ở làng người ta học nghề và biết dệt từ khi 13 -14 tuổi ). Nên giới thanh niên ở đây có công ăn việc làm từ rất sớm dẫn đến hạn chế được những tiêu cực xã hội (tuy nhiên cũng phải kể đến những ảnh hưởng của sự giáo dục trong gia đình, họ hàng và cộng đồng làng xóm thể hiện qua những Quy ước văn hoá, Tộc ước văn hoá... của làng).
Chính vì nghề dệt đã ăn sâu vào đời sống của người dân nơi đây. "Đã mang lấy cái thân tằm. Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ" nên qua bao thăng trầm lịch sử, làng nghề Mã Châu nói riêng và nghề dệt trên toàn vùng Duy Xuyên- Quảng Nam nói chung vẫn tồn tại và phát triển. GS Trần Quốc Vượng đã tiên đoán: Trong tương lai Nam Trung Bộ là vùng bông đặc sản của cả nước, cũng như vùng dâu tằm ven sông Thu Bồn cũ sẽ thịnh vượng như xưa và hơn xưa [37.429].
Chương 3:ĐÔI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ PHONG