Tiến triển và biến chứng

Một phần của tài liệu 26 28 chay mau trong khi co thai cô liên (Trang 41 - 44)

6.1. Tiến triển.

Đây là một bệnh lý của hệ thống mao mạch, xảy ra đột ngột có thể tiến triển rất nhanh từ thể nhẹ thành thể nặng.

- Thể ẩn: cuộc đẻ có thể diễn biến bình thường, con và mẹ đều tốt.

- Thể nhẹ: nếu phát hiện và xử lý kịp thời sẽ tốt cho cả mẹ và con.

- Thể trung bình: Nếu chẩn đoán sớm và xử lý kịp thời sẽ ổn cho mẹ và có khả năng cứu được con khi cấp cứu tốt, mẹ có thể bị đờ tử cung và chảy máu do giảm sinh sợi huyết, cần theo dõi sát sao.

- Thể nặng: Con chết 100%,mẹ choáng chảy máu có thể nguy hiểm đến tính mạng hoặc bị rối loạn đông máu.

6.2. Biến chứng.

6.2.1. Choáng chảy máu.

6.2.2. Rối loạn đông máu nặng nhất là tiêu sợi huyết

6.2.3. Hoại tử các tạng khác do nhồi huyết và thiếu máu, nguy hiểm nhất là suy thận.

7. Xử trí.

Rau bong non là bệnh của hệ thống mao mạch, biểu hiện chủ yếu ở lớp xốp bánh rau, xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh. Do đó, yêu cầu phải xử lý kịp thời và đúng phương pháp.

Cần chẩn đoán xác định.

Khi thai phụ có dấu hiệu chảy máu, hay đau bụng đột ngột, phải đưa thai phụ vào bệnh viện có cơ sở chuyên khoa, khám cẩn thận và có hệ thống về nội khoa và sản khoa, cận lâm sàng. Siêu âm có khả năng nhận biết rau bong non với độ tin cậy cao dễ phân biệt với rau tiền đạo, và xác định được tuổi

thai. Xác định độ nặng nhẹ của rau bong non, mức độ biến chứng, mức độ mất máu và tình trạng nạn nhân.

Đánh giá ban đầu và chuẩn bị điều trị.

Xét nghiệm máu: Công thức máu, máu chảy, máu đông, hematocrit, nhóm máu và ure máu, sinh sợi huyết giảm, thời gian prothrombin kéo dài, FSP (fibrin split products) tăng. Các xét nghiệm này 2-3 giờ làm lại một lần để đánh giá tiến triển của bệnh. Trong khi chờ kết quả chính thức đầy đủ của phòng xét nghiệm nên làm nghiệm pháp co cục máu ở bên giường: lấy 5ml máu tĩnh mạch cho vào ống nghiệm đựng bên giường bệnh và theo dõi. Bình thường cục máu sẽ hình thành sau 6-9 phút; nếu không hay hình thành cục máu rồi tan trong vòng 30 phút đến 2 giờ là bệnh nhân đó có khả năng bị bệnh đông máu.

Chủ động đặt đường truyền tĩnh mạch đề phòng tiến triển nặng xẹp mạch, đo áp lực tĩnh mạch trung tâm để duy trì áp lực này khoảng 10 cm H2O.

Chuẩn bị đủ phương tiện và dịch thay thế máu với hai mục đích: ổn định lại tình trạng huyết động và điêù chỉnh rối loạn đông máu. Bao gồm: máu tươi toàn phần, tiểu cầu, sinh sợi huyết, huyết tương đông tươi, máu đông khô...

Monitoring sản khoa theo dõi tim thai, cơn co tử cung liên tục.

Theo dõi lượng nước tiểu sao cho > 30ml/giờ và khả năng đáp ứng của bệnh nhân với khối lượng dịch truyền lớn, có khả năng gây phù nội tạng.

Kế hoạch điều trị.

Đối với rau bong non cần được theo dõi điều trị tại các cơ sở sản khoa có phương tiện phẫu thuật.

- Rau bong non thể ẩn và thể nhẹ.

Nếu chẩn đoán được trước đẻ, nên chủ động mổ lấy thai để cứu con và phòng biến chứng nặng hơn cho mẹ. Nếu chỉ chẩn đoán được sau khi đẻ, thực hiện các biện pháp dự phòng chống rối loạn đông máu. Để bệnh nhân

nằm yên, sưởi ấm, làm các xét nghiệm đánh giá các chức năng đông máu.Cho thuốc co tử cung và theo dõi chảy máu để xử lý kịp thời.

- Rau bong non thể trung bình.

Sản khoa.

Nếu ối còn nên bấm ối, nếu thai còn sống nên mổ lấy thai cứu con và tránh cho mẹ bị biến chứng nặng thêm, vì bệnh rau bong non tiến triển rất nhanh.

Sau khi lấy thai, tuỳ tổn thương ở tử cung mà bảo tồn hay cắt tử cung bán phần để cầm máu.

Nội khoa.

Thực hiện bồi phụ các chất thay thế máu: Khối hồng cầu, tiểu cầu, sinh sợi huyết, các yếu tố đông máu. Bù đủ và nhanh chóng khối lượng máu đã bị mất để phục hồi chức năng tuần hoàn và dinh dưỡng các tạng như gan, thận, não...

Chống choáng: do mất thể tích máu, đau và những tác động của sản khoa.

Dùng thuốc chống choáng, giảm đau, trợ tim trợ lực và an thần.

- Rau bong non thể nặng.

Thái độ xử lý: khẩn trương, dùng các biện pháp kết hợp để cứu mẹ.

Ngoại khoa: Mổ lấy thai cấp cứu và cắt tử cung bán phần mặc dù thai chết.

Nếu có chảy máu nặng nên chủ động thắt động mạch hạ vị để hạn chế chảy máu. Không nên chờ có chảy máu mới thắt động mạch hạ vị, vì lúc này các tạng ở quanh tử cung dễ bị phù nề khó có thể thắt được động mạch hạ vị Nội khoa: Khẩn trương bồi phụ đủ khối lượng máu đã mất, bằng máu tươi lấy máu từ người cho, máu mới lấy không quá 3 giờ, vì sau 3 giờ các yếu tố đông máu trong máu tươi đã bị phân huỷ một phần. Nếu không có máu tươi toàn phần buộc phải dùng ngay các chất thay thế khác.

Chăm sóc sau đẻ.

Sau đẻ cần theo dõi tình trạng huyết động của bệnh nhân dùng lợi tiểu hay truyền dịch phải thận trọng, dựa trên số đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, lượng hemoglobin và nước tiểu. Điều chỉnh các thành phần đông máu bị thiếu, dù đã truyền tiểu cầu hay huyết tương đông tươi để thúc đẩy qua trình cầm máu. Nếu đã có ít máu cục lúc đẻ (mổ) cần đánh giá cẩn thận khối luợng máu cục sau rau chính xác để bù cẩn thận khối lượng máu tương đương chính xác cần theo dõi cẩn thận chức năng hô hấp, đặcbiệt là bệnh nhân có gây mê toàn thân vì nguy cơ viêm phổi. Bệnh nhân có thể suy thận cấp do hậu quả của giảm thể tích máu. Tình trạng bệnh lý này có thể hồi phục nếu được sự chăm sóc thích hợp.

Một phần của tài liệu 26 28 chay mau trong khi co thai cô liên (Trang 41 - 44)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(48 trang)
w