6.1. Chẩn đoán lâm sàng.
6.1.1. Triệu chứng cơ năng.
- Bệnh nhân đã có quá trình chảy máu trong 3 tháng cuối thời kỳ thai nghén - Ra máu âm đạo tự nhiên, máu đỏ tươi lẫn cục, máu ra ngày một nhiều khiến cho bệnh nhân lo sợ và mệt mỏi.
- Kèm theo ra máu bệnh nhân thấy bụng ngày càng đau, đó là dấu hiệu đau bụng do cơn co tử cung khi chuyển dạ. Đôi khi không có dấu hiệu đau bụng hay đau bụng không rõ ràng.
6.1.2. Triệu chứng thực thể.
+ Toàn trạng: Da, niêm mạc, mạch và huyết áp thay đổi tuỳ theo sự mất máu của rau tiền đạo
+ Nhìn: Vẻ mặt của sản phụ xanh xao, hốt hoảng, lo lắng sợ hãi đôi khi thờ ơ, bất tỉnh do mất máu quá nhiều.
Bụng sản phụ ta thấy tử cung nổi rõ hình trứng hay hình bè ngang tuỳ theo ngôi thai, cơn co rõ.
+ Nắn: Có thể thấyngôi đầu cao lỏng hay ngôi bất thường như: ngôi ngang hay ngôi mông hay ngôi đầu cao lỏng...
+ Nghe: Có thể thấy tiếng tim thai biểu hiện bình thường hay thai suy là tuỳ số lượng mất máu nhiều hay ít có ảnh hưởng tới thai hay không.
+ Thăm trong.
- Bằng mỏ vịt hay van âm đạo: Đây là phương pháp thăm trong tốt, vì chuyển dạ lỗ tử cung mở, mở âm đạo bằng van âm đạo ta có thể thấy đâu là màng ối, đâu là rau. Chẩn đoán bằng van âm đạo nhẹ nhàng, chính xác không gây chảy máu, rất an toàn cho thai phụ.
- Bằng tay: Khi cổ tử cung mở, ta có thể thấy màng ối (có thể là rau tiền đạo bám thấp, bám bên). Khi cổ tử cung mở hết, sờ thấy màng ối cạnh lỗ tử cung thấy mép bánh là rau tiền đạo bám mép. Nếu cổ tử cung mở ta vừa sờ thấy
bánh rau vừa sờ thấy màng ối là rau tiền dạo trung tâm không hoàn toàn.
Phương pháp chuẩn đoán rau tiền đạo bằng tay qua lỗ tử cung đã mở dễ gây chảy máu nhiều trong khi thăm khám, hiện nay người ta khuyên thận trọng vì dễ gây bong rau gây chảy máu ồ ạt, gây nguy hiểm cho tính mạng thai phụ.
- Trong trường hợp chuyển dạ mà cổ tử cung đang xoá (chưa mở) ta có thể thăm qua túi cùng âm đạo để tìm cảm giác đệm của bánh rau.
6.2. Triệu chứng cận lâm sàng.
Chẩn đoán lâm sàng khó khăn ta dùng siêu âm để chẩn đoán xác định vị trí của bánh rau, ngoài ra siêu âm còn giúp chúng ta đánh giá tình trạnh thai để giúp chúng ta có hướng xử trí thích hợp.
6.3. Xử trí rau tiền đạo khi chuyển dạ.
6.3.1. Nguyên tắc xử trí rau tiền đạo.
Nguyên tắc xử trí rau tiền đạo: Cầm máu để cứu mẹ là chính, nếu cứu được con thì càng tốt vì thai của rau tiền đạo thường non tháng và mất máu nên khó sống. Nếu chần chừ vì non tháng để mẹ chảy máu nhiều có thể dẫn đến chết cả mẹ lẫn con.
6.3.2. Loại rau tiền đạo bám thấp, bám bên.
Khi bắt đầu chuyển dạ và chảy máu, ta phải bấm ối để cầm máu. Nếu cầm được máu, ta chờ cuộc chuyển dạ tiến triển để đẻ đường dưới như bình thường.
Nếu không cầm được máu ta phải mổ lấy thai để cầm máu.
6.3.3. Loại rau tiền đạo bám mép.
Loại này ta cũng phải bấm ối để cầm máu, nhưng vì khi khám ta sờ thấy mép rau, vì vậy sẽ có kỹ thuật bấm ối riêng. Nếu không cầm được máu ta phải mổ lấy thai để cầm máu.
6.3.4. Loại rau tiền đạo trung tâm không hoàn toàn.
Ta vẫn phải sử dụng kỹ thuật bấm ối của rau tiền đạo để cầm máu tạm thời, nhưng sau đó phải mổ lấy thai, vì bánh rau của rau tiềnđạo loại này che lấp một phấn đường ra của thai.
6.3.5. Loại rau tiền đạo trung tâm hoàn toàn.
Ta chỉ có một cách mổ lấy thai càng sớm càng tốt để cầm máu. Trước khi mổ ta nên tiêm thuốc giảm co tử cung hạn chế chảy máu