Lí luận chung về nhà nước và pháp luật I. Sự biến đổi của hình thức chính thể qua các kiểu nhà nước ở Việt Nam từ thời kì phong kiến đến nay.......................................................................................1 II. Phân biệt cơ quan nhà nước với cơ quan của các tổ chức xã hội khác, cho ví dụ minh họa...............................................................................................................4 III. Mối quan hệ giữa nguồn của pháp luật và hình thức bên ngoài của pháp luật, lấy ví dụ thực tế để làm sáng tỏ mối quan hệ trên.........................................6 IV. Tóm tắt một án lệ đã được Tòa án nhân dân tối cao công bố và phân tích về quan điểm giải thích pháp luật được Tòa án đưa ra trong án lệ đó.....................7 V. Tài liệu tham khảo.............................................................................................12
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN MINH CHÂU
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN NGÀNH LUẬT
MÔN: Lí luận chung về Nhà Nước và Pháp Luật
Người hướng dẫn: Cao Phan Long
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN NGÀNH LUẬT
ĐỀ SỐ 01
Họ và tên: Nguyễn Minh Châu
Mã sinh viên: 221001675
Môn: Lí luận chung về Pháp luật và Nhà Nước Giáo viên giảng dạy: Cao Phan Long
Trang 5I.Sự biến đổi của hình thức chính thể qua các kiểu nhà nước ở Việt Nam.
1 Dựa trên cơ sở lý thuyết
Ta có thể thấy rằng:
Hình thức chính thể của nhà nước là cách thức và trình tự thành lập cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, xác lập mối quan hệ giữa cơ quan đó với cơ quan cấp cao khác và với nhân dân
Có 2 dạng hình thức chính thể cơ bản đó là: Hình thức chính thể quân chủ và hình thức chính thể cộng hòa
- Hình thức chính thể quân chủ
+ Định nghĩa: Là chính thể mà toàn bộ hoặc một phần quyền lực tối cao của nhà nuớc được trao cho một cá nhân (vua, quốc vương…) theo phương thức chủ yếu là cha truyền con nối (thế tập)
+ Đặc trưng:
Người đứng đầu nhà nước và về mặt pháp lý là người có quyền cao nhất của nhà nước là vua hoặc những người có danh hiệu tương tự
Đa số các vua lên ngôi bằng con đường cha truyền con nối nên đó là phương thức chủ yếu Tuy nhiên, các nhà vua sáng lập ra một triều đại mới thường lên ngôi bằng các con đường khác như chỉ định, suy tôn, bầu cử, tự xưng, được phong vương hoặc tiếm quyền, song ở các triều vua sau, phương thức truyền kế ngôi vua lại được duy trì và củng cố
+ Các dạng: Chính thể quân chủ có hai hình thức cơ bản là quân chủ chuyên chế (tuyệt đối) và quân chủ hạn chế (tương đối), riêng chính thể quân chủ hạn chế lại có ba biến dạng là quân chủ đại diện đẳng cấp, quân chủ nhị hợp (nhị nguyên) và quân chủ đại nghị (nghị viện)
- Hình thức chính thể xã hội
+ Định nghĩa: là chính thể mà quyền lực tối cao của nhà nước được trao cho một hoặc một số cơ quan theo phương thức chủ yếu là bầu cử
+ Đặc trưng: Trong chính thể này, quyền lực cao nhất của nhà nước được trao cho một hoặc một số cơ quan chủ yếu bằng con đường bầu cử Hiến pháp của các nước có chính thể này đều quy định rõ trình tự, thủ tục để thành lập các cơ quan đó
Trang 6+ Các dạng: Tuỳ theo đối tượng được hưởng quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước mà chính thể cộng hoà có các dạng cơ bản là cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ
Cộng hoà quý tộc: Là chính thể mà quyền bầu cử và được bầu vào cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước chỉ thuộc về tầng lớp quý tộc Chính thể này chủ yếu tồn tại ở một số nhà nước chủ nô như Spart, La Mã…
Cộng hoà dân chủ: Là chính thể mà về mặt pháp lý, quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước thuộc về mọi công dân khi có đủ những điều kiện luật định Chính thể này có nhiều dạng tuỳ theo từng kiểu nhà nước như cộng hòa chủ nô, cộng hòa phong kiến, cộng hòa tư sản và cộng hòa
xã hội chủ nghĩa
2 Sự biến đổi của các hình thức chính thể qua các kiểu nhà nước ở Việt Nam
Từ thời phong kiến đến nay xã hội đã có nhiều sự thay đổi bởi sự tác động của nhiều yếu tốt khác nhau Đặc biệt là hình thể chính thức nhà nước có sự biến đổi rất đa dạng, phong phú qua các kiểu nhà nước khác nhau và xét theo trình tự lịch sử Việt Nam chúng ta có thể thấy hình thức chính thể ở nước ta từ phong kiến đến nay thuộc hai dạng đó là chính thể quân chủ tuyệt đối tồn tại ở nhà nước phong kiến và chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân
là hình thức tồn tại ngày nay Chúng ta cùng đi tìm hiểu phân tích làm rõ từng thời kì một
Hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối ở nhà nước Việt Nam:
Từ năm 938 Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng mở ra thời kì phong kiến độc lập đầu tiên ở nước ta Từ đây hình thức chính thể quân chủ chuyên chế có thể thấy rõ nhất từ triều đại Ngô Quyền cho đến triều đại nhà Nguyễn với sự kiện Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính phủ lâm thời Việt Nam thì hình thức quân chủ chuyên chế mới chính thức sụp đổ ở Việt Nam
Ở các triều đại phong kiến Việt Nam thì Vua hay Hoàng Đế là người nắm trong tay quyền lực tối cao, thứ quyền lực mà không thế lực nào có quyền hạn chế Là người nắm cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong khuôn khổ của vương triều phong kiến, ở những thời đoạn nhất định, có việc sử dụng các hình thức tư vấn, tham mưu, chẳng hạn, dưới triều nhà Nguyễn với các ông vua nổi tiếng chuyên chế như Gia Long, Minh Mạng đã lập ra các thiết chế gọi là “Hội đồng đình nghị" hoặc “Phiếu nghĩ" Theo Chiếu dụ năm
1802 của vua Gia Long, mỗi tháng có 4 kì quan chức trong triều họp lại để “đình nghị” Nội dung đình nghị gồm những công việc như bàn bạc giải quyết những việc quan trọng, khó khăn mà cơ quan chuyên trách không dám tự mình giải quyết; xử phúc thẩm các bản
2
Trang 7án đã được xét xử tại toà án địa phương nhưng có người kêu oan xin xét lại; bàn bạc giải quyết những đơn thưa kiện của dân chúng về tệ quan lại sách nhiễu, tham nhũng Từ năm
1833, để có thể trực tiếp giải quyết mọi công việt hành chính đặc biệt, vừa có tác dụng tham mưu cho vua, vừa có tác dụng giám sát thay vua, Minh Mạng đã có chỉ dụ: “Tất cả mọi sớ tâu và bản đề nghị thì chuyển cho quan 6 bộ và nội các phiếu nghĩ" Khi có sớ tâu
từ các địa phương, quan chức chuyên môn của bộ phải xem xét nội dung Từ văn phòng
bộ, những đề nghị về cách giải quyết công việc được nêu trong tấu sớ của các tỉnh và văn bản chuẩn bị đó được gọi là “thiết nghĩ “Thiết nghĩ” được đính kèm theo tấu sớ để chuyển tới nội các trình lên vua xem xét và phê duyệt Là người quyết định tối hậu, nếu đồng ý vua phê chuẩn và xem đó là ý vua, nếu không đồng ý, vua huỷ bỏ
Tại các triểu đình, để giúp vua điều hành các công việc, chức tế tướng hoặc thừa tướng thường được lập ra với những quyền hành rộng rãi Nhưng đó không phải là sự hạn chế quyền lực tối cao, tuyệt đối của vua, vì nhà vua có thể bãi bỏ bất kì lúc nào các thiết chế do mình lập ra đó và mọi hành vi làm trái, vượt quá nhiệm vụ, quyền hạn được giao đều có thể bị xử lí nghiêm khắc
Chính thể quân chủ chuyên chế ở việt nam thì vua thường được kế truyền theo ba nguyên tắc:
1) Trọng nam, theo đó ưu tiên truyền ngôi cho con trai, không có con trai mới truyền ngôi cho con gái
2) Trọng trưởng, ưu tiên truyền ngôi cho con trai trưởng, trừ trường hợp con trai trưởng có những khiếm khuyết về trí tuệ, tài năng hoặc đức độ
3) Lãnh thổ bất khả phân, ngai vàng chỉ truyền cho một người để đảm bảo lãnh thổ không
bị phân chia
Hình thức chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân ở việt nam
Ngày nay, hình thức chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân là hình thức chính thể của nhà nước ta ngày nay Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, chính phủ thực hiện quyền hành pháp và tòa án thực hiện quyền tư pháp Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, đại diện cho nhà nước về đối nội, đối ngoại Quốc hội bầu chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ trong số các đại biểu quốc hội thành lập và giám sát hoạt động của chính phủ Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm trước quốc hội, có thể bị quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng và các thành viên khác của chính phủ phải chịu trách nhiệm trước quốc hội, báo cáo công tác với quốc hội
Trang 8II Phân biệt cơ quan nhà nước với cơ quan của các tổ chức xã hội khác, cho ví
dụ minh họa.
1 Cơ sở lý thuyết
- Cơ quan Nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, là tổ chức (cá nhân) mang quyền lực Nhà nước được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước
- Cơ quan nhà nước có những đặc điểm sau:
Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước và đó chỉ là những bộ phận then chốt, thiết yếu của nhà nước
Mỗi cơ quan nhà nước gồm một số lượng người nhất định, có thể gồm một người (Nguyên thủ quốc gia ở nhiều nước) hoặc một nhóm người (Quốc hội, Chính phủ…)
Cơ quan nhà nước do nhà nước và nhân dân thành lập Tùy thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước… mà nhà nước có thể thành lập mới, sáp nhập, chia tách hay xóa bỏ một cơ quan nào đó trong bộ máy nhà nước Nhà nước có thể tổ chức các cuộc bầu cử để nhân dân bầu cử ra các cơ quan nhà nước mới, tức là tổ chức cho nhân dân tham gia thành lập các cơ quan nhà nước Ví dụ, bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta
Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước do pháp luật quỵ định Pháp luật quy định
cụ thể về vị trí, tính chất, vai trò, con đường hình thành, cơ cấu tổ chức, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động,… của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước
Mỗi cơ quan nhà nước có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng do pháp luật quy định Ví dụ, chức năng của Nghị viện (Quốc hội) là lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, chức năng của Toà án là xét xử các vụ án
Mỗi cơ quan nhà nước được trao cho những quyền năng nhất định để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Toàn bộ nhiệm vụ và quyền hạn mà một cơ quan nhà nước được thực hiện và phải thực hiện tạo nên thẩm quyền của cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nước, sử dụng những quyền năng nhất định để thực hiện thẩm quyền của mình
- Quyền năng mà cơ quan nhà nước được sử dụng để thực hiện thẩm quyền của mình gồm có:
Có quyền ban hành những quyết định nhất định dưới dạng quy tắc xử sự chung (ví dụ, luật của Quốc hội) hoặc quyết định cá biệt (ví dụ, bản án của Tòa án) là những quyết
4
Trang 9định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan
Có quyền yêu cầu các tổ chức và cá nhân có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh những quyết định do nó hoặc các chủ thể khác có thẩm quyền ban hành;
Có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện và sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quyết định đó
Có quyền sử dụng các biện pháp cần thiết, trong đó có cả các biện pháp cưỡng chế nhà nước để bảo đảm thực hiện các quyết định đó
2 Cơ quan nhà nước và cơ quan của tổ chức xã hội khác có thể phân biệt như sau:
Cơ quan nhà nước Cơ quan của tổ chức khác
- Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà
nước và đó chỉ là những bộ phận then chốt, thiết yếu
của nhà nước
- Cơ quan của tổ chức khác là bộ phận cơ bản cấu thành nên tổ chức và đó chỉ là những bộ phận then chốt, thiết yếu của tổ chức
- Cơ quan nhà nước do nhà nước và nhân dân thành
lập
Ví dụ: Nhà nước tổ chức bầu cử Quốc hội để nhân
dân bầu ra Quốc hội khóa mới.
- Cơ quan của tổ chức khác do tổ chức và hội viên của nó thành lập
Ví dụ: Tổ chức Đoàn tổ chức bầu cử để đoàn viên thanh niên toàn quốc bầu ra Đại hội đại biểu toàn quốc của Đoàn.
- Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước do
pháp luật quy định Pháp luật quy định cụ thế về vị
trí, tính chất, vai trò, con đường hình thành, cơ cấu tổ
chức, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động
của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước
- Tổ chức và hoạt động của cơ quan của tổ chức khác do điều lệ của tổ chức đó quy định Điều lệ quy định cụ thế về vị trí, tính chất, vai trò, con đường hình thành, cơ cấu tổ chức, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động của mỗi cơ quan trong tổ chức
- Mỗi cơ quan nhà nước có những chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn riêng do pháp luật quy định
Ví dụ: pháp luật quy định chức năng của Quốc hội
là lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước
- Mỗi cơ quan của tổ chức khác có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng do Điều lệ quy định
Ví dụ: Điều lệ Đoàn quy định chức năng, nhiệm vụ của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đoàn là thảo luận và biểu quyết thông qua các báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn
Trang 10- Cơ quan nhà nước nhân danh và sử dụng quyền lực
nhà nước để thực hiện thẩm quyền của mình
- Cơ quan của tổ chức khác nhân danh và sử dụng quyền lực của tổ chức đó để thực hiện các hoạt động của mình
- Cơ quan nhà nước có các quyền:
+ Ban hành những quyết định nhất định dưới dạng
quy tắc xử sự chung (ví dụ, luật của Quốc hội) hoặc
quyết định cá biệt (ví dụ, bản án của Tòa án) là
những quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng
hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên
quan;
+ Yêu cầu các tổ chức và cá nhân có liên quan phải
thực hiện nghiêm chỉnh những quyết định do nó hoặc
các chủ thể khác có thẩm quyền ban hành;
+ Sử dụng các biện pháp cần thiết, trong đó có cả các
biện pháp cưỡng chế nhà nước để bảo đảm thực hiện
các quyết định đó;
- Cơ quan của tổ chức khác có các quyền:
+ Ban hành những quyết định nhất định dưới dạng quy tắc xử sự chung (ví dụ, Điều lệ, nghị quyết) hoặc quyết định cá biệt (ví dụ, quyết định
kỷ luật hội viên) là những quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các cơ quan và hội viên có liên quan trong tổ chức;
+ Yêu cầu các cơ quan và hội viên có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh những quyết định
do nó hoặc cơ quan khác của tổ chức ban hành; + Sử dụng các biện pháp cần thiết, trong đó có cả các hình thức kỷ luật của tổ chức để bảo đảm thực hiện các quyết định đó;
- Kinh phí hoạt động do nhà nước cấp - Kinh phí hoạt động do tổ chức đó cấp
III Mối quan hệ giữa nguồn của pháp luật và hình thức bên ngoài của pháp luật, lấy ví dụ thực tế để làm sáng tỏ mối quan hệ trên.
1 Khái niệm:
- Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí để các chủ thể thực hiện hành vi thực tế Nói cách khác, nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức tránh có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội
- Hình thức bên ngoài của pháp luật là dáng vẻ bề ngoài, là dạng (phương thức) tồn tại của nó Dựa vào hình thức của pháp luật, người ta có thể thấy pháp luật tồn tại trong thực tế dưới dạng nào, nằm ở đâu Hình thức bên ngoài của pháp luật cũng được tiếp cận trong mối tương quan với nội dung của nó
2 Mối quan hệ giữa nguồn pháp luật và hình thức bên ngoài của pháp luật
- Từ khái niệm trên ta có thể rút ra được khái niệm giữ nguồn của pháp luật và hình thức bên ngoài của pháp luật đó là mối quan hệ đồng nhất, tương hỗ
6
Trang 11- Có quan điểm cho rằng “Hình thức bên ngoài là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, là cái chứa đựng nội dung các quy tắc pháp luật- quy tắc hành vi theo ý chí nhà nước Hình thức bên ngoài của pháp luật còn được gọi là nguồn pháp luật.” Tuy nhiên, cũng theo cách tiếp cận của quan điểm này thì “… khoa học pháp lý của chúng
ta phân hình thức pháp luật thành hình thức bên trong - cấu trúc của pháp luật và hình
thức bên ngoài của pháp luật Và một cách tương đối, hình thức bên ngoài trong luật
học cũng được cũng được coi là nguồn pháp luật Tuy vậy hai khái niệm hình thức pháp luật và nguồn pháp luật không hoàn toàn đồng nhất, sự thực là có cả những điểm khác nhau cả về lý luận và thực tiễn” Tuy thừa nhận có sự khác nhau như vậy
nhưng quan điểm này đã không chỉ ra sự khác biệt giữa hình thức pháp luật với nguồn
pháp luật vì cho rằng: “Nguồn pháp luật thực ra có nhiều nghĩa, được tiếp cận bởi
nhiều phương diện khác nhau, mỗi cách quan niệm đều có tính hợp lý của nó Pháp luật có hình thức thể hiện ở phương thức tồn tại xác định của mình - nguồn pháp luật Nguồn pháp luật là cách thức thể hiện các quy phạm pháp luật mang tính pháp
lý bắt buộc chung Như vậy, hình thức thông qua đó chuyển tải ý chí nhà nước (nâng
ý chí nhà nước) lên thành các quy phạm pháp luật được gọi bằng một thuật ngữ là nguồn của pháp luật.” Nếu theo quan điểm này thì nguồn pháp luật chỉ là phương
thức thể hiện ý chí của nhà nước mà không quan tâm đến các căn cứ đến từ những nguồn khác từ xã hội, đặc biệt trong xã hội dân sự ngày nay đã rất phát triển Bởi vậy,
ta có thể nói rằng mối quan hệ giữ nguồn pháp luật và hình thứuc bên ngoài pháp luật
là mối quan hệ tương hỗ bởi nó có sự tương đồng và dựa vào nhau để phát triển theo một cách khác nhau
3 Ví dụ:
Dựa trên căn cứ pháp luật mà cơ quan có thẩm quyền đưa ra từ đó sẽ tạo nên văn bản pháp lí và các nghị định, thông tư hướng dẫn được đưa ra dưới dạng văn bản Nhưng sẽ được sửa đổi một cách thật hợp lí để đưa ra văn bản pháp luật phù hợp với vụ án đang thực thi
IV Tóm tắt một án lệ đã được Tòa án nhân dân tối cao công bố và phân tích về quan điểm giải thích pháp luật được Tòa án đưa ra trong án lệ đó.
1 Tóm tắt án lệ số 41/2021 về chấm dứt hôn nhân thực tế
- Tóm lược vụ án
Tại Kon Tum, Tây Nguyên, những năm 1970, Trần Thế T1 (gọi tắt: ông T1) chung sống với Tô Thị T2 (gọi tắt: bà T2) Hai người có với nhau hai con trai là anh em Trần Trọng P2 (gọi tắt: anh P2), Trần Trọng P2 (gọi tắt: anh P3) Sau đó, bà T2 rời đi, lấy