1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhãn sinh thái môi trường

24 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 464,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá môi trường là đánh giá các hậu quả môi trường (tích cực lẫn tiêu cực) của một kế hoạch, chính sách, chương trình, hoặc các dự án thực tế trước khi quyết định tiến hành thực hiện hay không. Trong bối cảnh này, thuật ngữ Đánh giá tác động môi trường (EIA hay DTM) thường được sử dụng khi áp dụng cho các dự án thực tế của các cá nhân hoặc công ty và thuật ngữ đánh giá môi trường chiến lược (SEA) áp dụng cho các chính sách, kế hoạch và chương trình thường được các cơ quan nhà nước thực hiện. Mục đích của việc đánh giá này để chắc rằng các nhà ra quyết định quan tâm đến các tác động của dự án đếm môi trường khi quyết định thực hiện dự án đó không. Tổ chức quốc tế về Đánh giá tác động môi trường (IAIA) đưa ra định nghĩa về việc đánh giá tác động môi trường gồm các công việc như xác định, dự đoán, đánh giá và giảm thiểu các ảnh hưởng của việc phát triển dự án đến các yếu tố sinh học, xã hội và các yếu tố liên quan khác trước khi đưa ra quyết định quan trọng và thực hiện những cam kết. Đánh giá môi trường là đánh giá các hậu quả môi trường (tích cực lẫn tiêu cực) của một kế hoạch, chính sách, chương trình, hoặc các dự án thực tế trước khi quyết định tiến hành thực hiện hay không. Trong bối cảnh này, thuật ngữ Đánh giá tác động môi trường (EIA hay DTM) thường được sử dụng khi áp dụng cho các dự án thực tế của các cá nhân hoặc công ty và thuật ngữ đánh giá môi trường chiến lược (SEA) áp dụng cho các chính sách, kế hoạch và chương trình thường được các cơ quan nhà nước thực hiện. Mục đích của việc đánh giá này để chắc rằng các nhà ra quyết định quan tâm đến các tác động của dự án đếm môi trường khi quyết định thực hiện dự án đó không. Tổ chức quốc tế về Đánh giá tác động môi trường (IAIA) đưa ra định nghĩa về việc đánh giá tác động môi trường gồm các công việc như xác định, dự đoán, đánh giá và giảm thiểu các ảnh hưởng của việc phát triển dự án đến các yếu tố sinh học, xã hội và các yếu tố liên quan khác trước khi đưa ra quyết định quan trọng và thực hiện những cam kết. Đánh giá môi trường có thể được điều chỉnh bởi các quy tắc về thủ tục hành chính liên quan đến sự tham gia của cộng đồng và tài liệu về việc đưa ra quyết định và có thể bị xem xét lại theo luật pháp.ĐTM đặc biệt ở chỗ chúng không yêu cầu tuân thủ một kết quả về môi trường đã định trước, nhưng họ yêu cầu các nhà ra quyết định phải tính đến các giá trị môi trường trong các quyết định của mình kết hợp cùng với việc khảo sát lấy ý kiến của người dân để đưa ra quyết định phù hợp nhất.

Trang 1

-o0o -

MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

VỀ NHÃN SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GVHD: PGS TS Lê Quốc Tuấn HVTH: Nguyễn Vũ Đức Thịnh

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 4

1.Tính cấp thiết của đề tài 4

2.Mục tiêu của đề tài 5

Chương 1 TỔNG QUAN 7

1.1.Khái niệm về nhãn sinh thái 7

1.2Các nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng và cấp nhãn sinh thái 8

1.2.1 Nguyên tắc tự nguyện 8

1.2.2 Nguyên tắc công khai, minh bạch 8

1.2.3 Nhất quán với nguyên tắc hoạt động của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 9

1.2.4 Nguyên tắc giám sát, kiểm tra định kỳ 9

1.3.ISO 14000 và cấu trúc của nó trong việc cấp nhãn sinh thái 9

1.4.Quy trình cấp nhãn sinh thái 12

1.4.1 Cơ cấu tổ chức 12

1.4.2 Lựa chọn sản phẩm 12

1.4.3 Thiết lập tiêu chí 13

1.4.4 Tính công khai và việc tư vấn 13

1.4.5 Đăng ký và cấp giấy chứng nhận 13

1.4.6 Quản lý và giám sát sau cấp khi nhãn 13

1.5.Tình hình áp dụng nhãn sinh thái trên Thế giới và Việt Nam 13

1.5.1 Tình hình áp dụng nhãn sinh thái trên thế giới 13

1.5.2 Tình hình áp dụng nhãn sinh thái tại Việt Nam 17

1.6.Đặc điểm của khu vực nghiên cứu – Thành phố Hồ Chí Minh 18

1.6.1 Vị trí địa lý 18

1.6.2 Khí hậu 18

1.6.3 Đặc điểm vật lý 18

1.6.4 Dân số 18

1.6.5 Đặc điểm kinh tế 18

1.6.6 Các hệ thống siêu thị và chuỗi cửa hàng bán lẻ 18

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 3

2.1.Nội dung 19

2.2.Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Các loại dữ liệu 19

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.3 Phương pháp lấy mẫu 20

2.2.4 Phân tích dữ liệu 21

Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những thập niên gần đây, mức độ quan tâm của con người ngày càng tăng lên về các vấn đề về môi trường như sự nóng lên toàn cầu, ô nhiễm các nguồn tài nguyên, suy giảm tầng ozone, sự khai thác tài nguyên quá mức cũng như việc bất bình đẳng trong kinh tế xã hội Những vấn đề này, ở một mức độ nào đó chính là do việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên quá mức (Tanner & Kast, 2003) Một giải pháp giải quyết các vấn đề môi trường hiệu quả sẽ đòi hỏi những thay đổi trong hành vi và tập quán của con người để giảm tiêu thụ, cùng với sự phát triển của công nghệ sạch hơn và hiệu quả hơn (Tanner & Kast, 2003) Việc tiêu thụ nguyên liệu ít hơn, giảm chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất sẽ giảm các tác động đến môi trường, sau cùng dẫn tới sự tiêu dùng bền vững Tiêu dùng bền vững được định nghĩa là việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản và mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn đồng thời giảm thiểu việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và vật liệu độc hại, đồng thời giảm thiểu phát sinh chất thải và chất ô nhiễm trong suốt thời gian vòng đời của sản phẩm, như vậy cũng không gây nguy hại cho các nhu cầu của thế hệ tương lai (Fuchs & Lorek, 2005) Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (The World Business Council for Sustainable Development) công nhận vai trò lãnh đạo của các doanh nghiệp trong việc phát triển bền vững của mức tiêu thụ thông qua hợp tác với người tiêu dùng, chính phủ và các bên liên quan khác Một yếu tố quan trọng trong bài toán tiêu thụ bền vững hiện nay là khuyến khích người tiêu dùng tham gia thị trường tích cực và chịu mua những sản phẩm

“xanh” hơn, bền vững hơn (Funchs &Lorek, 2005) Những sản phẩm “thân thiện” là những sản phẩm được chứng nhận bởi tổ chức bên thứ ba là đã đạt các tiêu chuẩn và tiêu chí cụ thể với nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái nhằm mục đích giáo dục và nâng cao nhận thức người tiêu dùng về các tác động môi trường của một sản phẩm, khuyến khích người tiêu dùng mua các sản phẩm ít có tác động đến môi trường hơn Mạng lưới Nhãn sinh

Trang 5

thái Toàn cầu (The Global Ecolabeling) định rõ nhãn sinh thái như một phương pháp tự nguyện để cấp giấy chứng nhận về môi trường và đã được thực hiện trên toàn thế giới Các công ty đã phát hiện ra rằng người tiêu dùng sẽ quyết định mua sản phẩm, hoặc tránh mua sản phẩm của họ dựa trên các cân nhắc về môi trường (Lampe & Gazda, 2000)

Với mục đích tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường thông qua việc khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường được Nhà nước đánh giá chứng nhận, từ năm 2009 – 2015, Bộ TN&MT thực hiện Chương trình cấp nhãn sinh thái – Nhãn xanh Việt Nam trên phạm vi toàn quốc Với những nỗ lực trên hiện nay chúng ta cần đánh giá hiệu quả của chương trình nhằm xác định nhận thức của người tiêu dùng với nhãn sinh thái Từ nhu cầu thực tế trên, tác giả tiến hành thực

hiện đề tài “Đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về nhãn sinh thái trên

địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tầm quan trọng của nhãn sinh thái (một công cụ nâng cao nhận thức về môi trường) ở thị trường đô thị Vì nhận thức về môi trường của người tiêu dùng cuối cùng ảnh hưởng đến thái độ kinh doanh của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất Do đó nghiên cứu này tìm cách trả lời những câu hỏi sau:

1 Điều gì gắn với môi trường là quan trọng như một tiêu chí quyết định mua hàng?

2 Sự khác biệt như thế nào trong nhận thức của người tiêu dùng về nhãn sinh thái ở các vị trị địa lý khác nhau?

3 Những nhãn sinh hiện có mặt trong thị trường ở TP.HCM?

4 Người tiêu dùng ở TP.HCM có nhận ra nhãn sinh thái hiện tại hay không?

Và sự hưởng ứng của người tiêu dùng ở TP.HCM như thế nào về nhãn sinh thái?

Trang 6

5 Tác động của những đặc điểm tiêu dùng khác nhau như độ tuổi, giới tính, trình độ giáo dục về sự công nhận của người tiêu dùng của nhãn sinh thái

là gì?

6 Mối quan hệ về nhận thức môi trường khi mua hàng và việc công nhận nhãn sinh thái của người tiêu dùng như thế nào?

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm về nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái hay còn gọi là “nhãn xanh”, “nhãn môi trường” là các nhãn mác của sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại Nói cách khác, nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời, ký hiệu, sơ đồ nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm được gắn trên sản phẩm, bao gói, tạp chí kỹ thuật

Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu về nhãn sinh thái còn có nhiều khái

niệm khác nhau Theo Mạng lưới sinh thái toàn cầu (GEN): “Nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm”

Theo quan điểm của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Ngân hàng

thế giới, nhãn sinh thái được định nghĩa: “Một công cụ do các tổ chức phát hành

ra để truyền thông và quảng bá tính ưu việt tương đối về tác động tới môi trường của một sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại”

Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) lại đưa ra khái niệm: “Nhãn sinh thái

là sự khẳng định biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu trưng, biểu đồ trên sản phẩm”

Tại Diễn đàn về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc vào năm

1992, nhãn sinh thái được ghi nhận: “cung cấp thông tin về môi trường có liên quan luôn sẵn có tới người tiêu dùng”

Dù với những định nghĩa, khái niệm khác nhau nhưng tất cả đều thể hiện mức độ giảm thiểu tác động xấu của sản phẩm đến môi trường trong quá trình sản xuất, đóng gói, sử dụng và thải bỏ sản phẩm đó Nhãn sinh thái chỉ được cấp cho những sản phẩm ít tác động xấu đến môi trường nhất so với các sản phẩm khác cùng loại Về bản chất, nhãn sinh thái là một thông điệp truyền tải tính ưu việt đối với môi trường của sản phẩm

Trang 8

Như vậy, việc áp nhãn sinh thái sẽ khuyến khích hoạt động sản xuất và

tiêu dùng những sản phẩm thân thiện hơn với môi trường, xây dựng ý thức bảo

vệ môi trường trong cộng đồng

1.2 Các nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng và cấp nhãn sinh thái

Qua những tài liệu về nhãn sinh thái cho thấy với mỗi một chương trình của một tổ chức lại có những quy tắc riêng, tuy vậy tất cả đều tuân theo một số những nguyên tắc nhất định đó là:

- Sự tham gia tự nguyện

- Tính công khai, minh bạch

- Nhất quán với nguyên tắc hoạt động của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000

- Giám sát, kiểm tra định kỳ

1.2.1 Nguyên tắc tự nguyện

Chương trình cấp nhãn sinh thái được xây dựng và quản lý theo nguyên tắc tự nguyện Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà cung cấp dịch vụ và các đối tác kinh doanh có thể tự quyết định tham gia vào chương trình cấp nhãn sinh thái mà không gặp bất cứ một sự bắt buộc nào từ phía cơ quan quản lý, từ phía tổ chức cấp nhãn sinh thái Các cơ quan quản lý, tổ chức cấp nhãn không có quyết định bắt buộc các nhà sản xuất phải sự dụng nhãn khi đã đước chứng nhận và cấp Nếu không muốn sử dụng nhãn, nhà sản xuất có thể huỷ bỏ hợp đồng với chương trình

1.2.2 Nguyên tắc công khai, minh bạch

Việc xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn sinh thái phải công khai,

mở rộng đối với tất cả các bên liên quan Thông tin về quy trình, phương pháp luận phải có sẵn Thông tin về nhóm sản phẩm, tiêu chí và hoạt động quản lý của chương trình (trừ những thông tin cần bảo mật) cần đảm bảo được cung cấp kịp thời và đầy đủ theo yêu cầu

Những thông tin về lợi ích, đặc tính môi trường phải dễ tiếp cận với người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể sẽ không tin tưởng để lựa chọn khi họ còn nghi ngờ về tính chính xác, rõ ràng của những cam kết về môi trường của sản phẩm

Trang 9

Thông tin thiếu minh bạch, thiếu sự rõ ràng sẽ làm giảm uy tín của nhãn sinh thái

mà chương trình gây dựng nên

1.2.3 Nhất quán với nguyên tắc hoạt động của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000

Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về Quản lý môi trường , với mục tiêu làm giảm những tác động xấu đến môi trường trong quá trình khai thác, sản xuất, sử dụng và thải bỏ hàng hoá Do việc chấp nhận và thông qua các tiêu chuẩn ISO 14000 của các cơ sở công nghiệp và các chính phủ ngày càng tăng, điều đó cho thấy sự nhất quán tuân thủ các tiêu chuẩn chung về việc cải thiện môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế Nhãn sinh thái là một trong các tiêu chuẩn của ISO 14000 vì vậy việc cần tuân thủ các nguyên tắc hoạt động của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 trong quá trình hoạt động

1.2.4 Nguyên tắc giám sát, kiểm tra định kỳ

Khi xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn sinh thái, nguyên tắc giám sát và kiểm tra định kỳ là rất cần thiết Chương trình phải thường xuyên tiến hành giám sát và kiểm tra để đảm bảo người sử dụng nhãn sinh thái tuân theo các yêu cầu đã đề ra Nếu người sử dụng nhãn sinh thái vi phạm các yêu cầu, chương trình buộc họ phải tuân thủ đúng theo yêu cầu đã cam kết hoặc có thể huỷ bỏ quyền sử dụng nhãn sinh thái

1.3 ISO 14000 và cấu trúc của nó trong việc cấp nhãn sinh thái

Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 gồm nhiều tiêu chuẩn khác nhau, cấu trúc của

nó được thể hiện trong sơ đồ sau đây:

Trang 10

Sơ đồ 1.1: Hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000 và cấu trúc trong nhãn sinh thái

Ghi nhãn sinh thái nằm trong các tiêu chuẩn về đánh giá sản phẩm bao gồm:

- ISO 14020 - Các nguyên tắc cơ bản cho các kiểu nhãn sinh thái

- ISO 14021 - Các khẳng định môi trường tự công bố - Nhãn sinh thái kiểu II

- ISO 14022 - Các ký hiệu cấp nhãn sinh thái

- ISO 14023 - Phương pháp luận về thử nghiệm và kiểm định

- ISO 14024 - Các nguyên tắc và các thủ tục - Nhãn sinh thái kiểu I

- ISO 14025 - Các công bố môi trường và nhãn sinh thái - Nhãn sinh thái kiểu III

Tiêu chuẩn ISO 14020 - Các nguyên tắc cơ bản cho các kiểu nhãn sinh thái

ISO 14020 cung cấp một sự tiếp cận quốc tế đối với các chương trình ghi nhãn môi trường chung Vì vậy, khi gắn một nhãn sinh thái thì sản phẩm đó phải thoả mãn các yêu cầu quốc gia, đồng thời phải thực hiện sự phù hợp với các yêu

ISO 14000-Bộ tiêu chuẩn về Quản lý môi

Đánh giá kết quả hoạt động môi trường

Ghi nhãn sinh thái

Khía cạnh môi trường trong các tiêu chuẩn

về sản phẩm

Đánh giá chu trình sống của sản phẩm

Trang 11

cầu của ISO có như mới sản phẩm của công ty mới có sức lôi cuốn đối với thị

trường thế giới

ISO 14024 – Các nguyên tắc và các thủ tục - Nhãn sinh thái kiểu I

Đây là chương trình tự nguyện, do một bên thứ ba cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn sinh thái trên sản phẩm, biểu thị sự thân thiện với môi trường dựa trên các nghiên cứu về vòng đời của sản phẩm Bên thứ ba có thể là

cá nhân hoặc tổ chức được thừa nhận như một bên độc lập Mối quan hệ giữa các bên trong chương trình cấp nhãn sinh thái được mô tả bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ1.2: Chương trình cấp Nhãn sinh thái kiểu I

Bên thứ nhất là nhà cung cấp: đó là những nhà sản xuất hàng hoá, dịch vụ, đại lý buôn bán, nhà nhập khẩu… Bên thứ hai là người tiêu dùng bao gồm: người tiêu dùng hiện tại và người tiêu dùng tiềm ẩn

14021 - Các khẳng định môi trường tự công bố - Nhãn sinh thái kiểu II

Đây là giải pháp môi trường do các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối… hoặc bất cứ ai được lợi nhờ các công bố môi trường mà không có sự tham gia của

cơ quan chứng nhận Do lợi ích của các “khẳng định môi trường tự công bố” nên

có nhiều tổ chức, cá nhân có thể lợi dụng để đưa ra các “khẳng định môi trường” trong khi họ hoàn toàn không có bất cứ một hoạt động nào làm giảm tác động xấu đến môi trường Vì vậy, đối với những khẳng định này cần có những yêu cầu:

Cơ quan cấp nhãn (Bên thứ ba)

Người tiêu dùng (Bên thứ hai) Nhà cung cấp

(Bên thứ nhất)

Trang 12

- Khẳng định phải rõ ràng, cụ thể

- Khẳng định phải chính xác, trung thực

- Phải là một khẳng định có thể xác minh

- Khẳng định môi trường cần phải có cơ sở so sánh

- Khẳng định môi trường phải hợp lý

ISO 14025 - Các công bố môi trường và nhãn sinh thái – Nhãn sinh thái kiểu III

Nhãn sinh thái kiểu III - chương trình tự nguyện của bên thứ ba do một ngành công nghiệp hoặc một tổ chức độc lập tư vấn cho ngành xây dựng nên, trong đó có việc đặt ra những yêu cầu tối thiểu đối với các loại chỉ tiêu về môi trường, lựa chọn các loại thông số, xác định sự liên quan của các bên thứ ba Như vậy, trong cả ba kiểu Nhãn sinh thái trên thì nhãn sinh thái kiểu I có ưu thế hơn cả do tính năng phổ biến, rộng rãi, minh bạch, độ tin cậy cao dễ tạo ra sự thúc đẩy cải thiện môi trường Trong thực tế, nhãn sinh thái kiểu I đang ngày càng chiếm ưu thế và được rất nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng

1.4 Quy trình cấp nhãn sinh thái

1.4.1 Cơ cấu tổ chức

Cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm trong chương trình nhãn sinh thái sẽ có nhiệm vụ đưa ra các những quyết định chính thủ tục và các tiêu chí cho hoạt động cấp nhãn Các cơ quan dưới sẽ hỗ trợ và xúc tiến cho chương trình để hoạt động được triển khai một cách rộng rãi

1.4.2 Lựa chọn sản phẩm

Những nhân tố được xem xét trong việc lựa chọn sản phẩm:

+ Mức độ tác động môi trường

+ Khả năng để làm giảm tác động môi trường

+ Sự quan tâm của công chúng và khả năng cung cấp thông tin

+ Sự quan tâm của nhà sản xuất

+ Cơ hội thực hiện

Ngày đăng: 03/01/2022, 18:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Hường, 2011. Cấp và dán nhãn sinh thái: Giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 9, 28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp và dán nhãn sinh thái: Giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009. Quyết định phê duyệt chương trình cấp nhãn sinh thái. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt chương trình cấp nhãn sinh thái
3. Fuchs D. A. & Lorek S., 2005. Sustainable consumption governance: A history of promises and failures. Journal of Consumer Policy, 28, 261–288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable consumption governance: A history of promises and failures
4. Kruger D., 2003. Integrating quantitative and qualitative in community research. The Community Psychologist, 36, 18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrating quantitative and qualitative in community research
5. Lampe M. & Gazda G., 2000. Green marketing in Europe and the United States: An evolving business and society interface. School of Business Administration, University of San Diego, San Diego, CA 92110, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green marketing in Europe and the United States: An evolving business and society interface
7. Ogunyo Miriam A. A., 2013. An assessment of consumers’ perception of eco-labels within Nairobi. Master’s method, University of Nairobi Sách, tạp chí
Tiêu đề: An assessment of consumers’ perception of eco-labels within Nairobi
8. Qing Liu, Zhen Yan and Jiehong Zhou, 2017. Consumer Choices and Motives for Eco-Labeled Products in China: An Empirical Analysis Based on the Choice Experiment. Sustainability, 9, 331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer Choices and Motives for Eco-Labeled Products in China: An Empirical Analysis Based on the Choice Experiment
9. Straughan R. & Roberts J., 1999. Environmental segmentation alternatives: a look at green consumer behavior in the new millennium. Journal Of Consumer Marketing, Vol. 16 No. 6 1999, Pp. 558-575, Mcb University Press, 0736-3761 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental segmentation alternatives: "a look at green consumer behavior in the new millennium
10. Tanner C. & Kast S., 2003. Promoting sustainable consumption: Determinants of green purchases by Swiss consumers. Journal of Psychology and Marketing, 20: 883–902. doi: 10.1002/mar.10101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Promoting sustainable consumption: "Determinants of green purchases by Swiss consumers
11. Thứgersen J., Haugaard P., Olesen A., 2010. Consumer responses to ecolabels. European Journal of Marketing, Vol. 44 Iss: 11/12, pp.1787 – 1810 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer responses to ecolabels
12. Thomas R. M., 2003. Contributing to Research Methodology. In: Thomas, R. M., (Ed.). Blending Qualitative & Quantitative Research Methods in Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contributing to Research Methodology
6. Ogenis Brilhante and Julia M. Skinner, 2015. Promoting sustainable construction in the EU: Green Labels, Certification Systems and Green Procurement Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w