Do đó, Athens được coi là nơi chế độ dân chủ đầu tiên trên thế giới, nơi mọi người dân đều được tham gia chính sự.Với tính chất tự do tư tưởng mà Athens trở thành một môi trường thuận lợ
Trang 1BÀI TẬP TRIẾT
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ARISTOTLE
I TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP ARISTOTLE
Hy lạp cổ đại không phải một nước thống nhất như ngày nay mà bao gồm nhiềuthành quốc được tổ chức như những quốc gia riêng biệt, gọi là các thị quốc Mỗi thịquốc độc lập với nhau và có cách tổ chức chính trị khác nhau Các thị quốc nổi tiếngnhư Athens, Thebes và Sparta Tuy cùng một chủng tộc nhưng dân thị quốc này lại coidân thị quốc khác như thù địch và chém giết lẫn nhau Sparta và Athens là hai thái cựcđối lập nhau Người Sparta được huấn luyện sống khắc kỷ từ nhỏ, một đời sống giản
dị và cực kỳ trọng võ Ngược lại, người Athens sống xa hoa, ưa công nghệ và thươngmại Về chính trị, các thị quốc Hy Lạp cổ đại đều theo quân chủ Sau khi vuaAlcmaeon băng hà năm 753 TCN, Athens được tổ chức theo mô hình dân chủ nghịviện, tức là công dân được quyền bầu cử “Viện Nguyên lão” (một hình thức Nghịviện), nhưng chức vụ thẩm phán vẫn dành cho giới quý tộc Đến thế kỷ thứ 5 TCN,Athens hoàn toàn theo thể chế dân chủ trực tiếp Mọi công dân đều trực tiếp tham giaviệc nước: nghị luận, bàn cãi, bầu bán, biểu quyết Do đó, Athens được coi là nơi chế
độ dân chủ đầu tiên trên thế giới, nơi mọi người dân đều được tham gia chính sự.Với tính chất tự do tư tưởng mà Athens trở thành một môi trường thuận lợi cho cáctriết gia như Socrates và sau đó, học trò của ông là Platon đã phát triển học thuật đủmọi ngành, hệ tư tưởng triết học và các quan điểm nhận thức thế giới tự nhiên, vậtchất cũng sâu sắc và phong phú Từ đó, Athens trở thành trung tâm tư tưởng và họcthuật của cả bán đảo Greece; sau này chính là cái nôi văn hóa tư tưởng của TâyPhương
2 Tiểu sử Aristotle
Aristotle, cái có nghĩa là “mục đích tốt nhất”, là một nhà triết học và khoa học thời
Hy Lạp cổ đại, đồng thời ông cũng là học trò xuất sắc của triết gia Platon, là thầy dạycủa Alexandros Đại đế Di bút của ông bao gồm nhiều lĩnh vực như vật lý học, siêuhình học, thi văn, kịch nghệ, âm nhạc, luận lý học, tu từ học (rhetoric), ngôn ngữ học,Kinh tế học, chính trị học, đạo đức học, sinh học, và động vật học Ông được xem làngười đặt nền móng cho môn luận lý học và được mệnh danh là “Cha đẻ của Khoahọc chính trị” Cùng với Platon và Socrates, Aristotle là một trong ba trụ cột tinh hoacủa văn minh Hy Lạp cổ đại Những quan điểm và tư tưởng triết học của ông có ảnh
Trang 2hưởng sâu rộng tới các lĩnh vực của Châu Âu, tiêu biểu là các quan điểm chính trị vàxây dựng một nhà nước dân chủ.
Aristotle sinh tại Stagira thuộc Vương quốc Macedonia
cách thành Athens 200 dặm về phía bắc, tức là ở phía đông
Thessaloniki ngày nay, vào năm 384 TCN Cha của ông là
bác sĩ riêng, bạn thân của quốc vương Macedonia Amyntas
III (tổ phụ của Alexandros Đại đế) Từ nhỏ Aristoteles sống
với cha mẹ và được cha dạy cho về y khoa Năm 17 tuổi,
Aristoteles đến thành Athena và theo học nghề thầy thuốc
Aristoteles đến Athens từ lúc 18 tuổi và trở thành học viên
trong Học viện Platon Ông học ở đó khoảng 20 năm trước
khi rời Athens vào 348/47 TCN
Hình 1: Chân dung Aristotle (384-322TCN
Trong khoảng thời gian theo học tại Học viện Platon, Aristotle không chỉ là một
sinh viên mã đã trở thành trợ giản cho Plato Aristotle chú trọng đặc biệt tới siêu hình học (metaphysics), môn học nghiên cứu về ý tưởng, những gì bên ngoài và ở bên kia
thực tại, không phụ thuộc vào giác quan, cùng thiên văn học, triết học và chính trị học.Người ta có thể tưởng tượng rằng thời kỳ sống với Platon là một thời kì lý tưởng trongcuộc đời Aristoteles Một môn đệ thông minh xuất chúng được ở gần một giáo sư toànnăng Sự thật thì mối liên quan giữa hai thầy trò không phải luôn luôn tốt đẹp Platonlớn hơn Aristoteles gần 43 tuổi, chỉ sự cách biệt ấy cũng không làm dễ dàng sự thôngcảm Platon công nhận rằng Aristoteles là một môn đệ thông minh xuất chúng, hiếuhọc vì Aristoteles là một trong những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại biết sưutầm những tài liệu viết tay thời bấy giờ để lập thành một thư viện Nhà của Aristotelesđược Platon gọi là nhà đọc sách, nhiều người cho đó là một lời khen, nhưng cũng cóngười cho đó là một lời chê có ý ám chỉ đến tinh thần quá chú trọng vào sách vở củaAristoteles
Hình 2: Platon và Aritotle cùng các môn đệ tại Học viện Palton (tranh: Raphael)
Trang 3Năm 347 TCN, Palton quan đời ở tuổi 80 Trong thời gian này, có hai sự kiện đánhdấu bước ngoặt lớn trong đời Aristotle Thứ nhất, quê hương Stagira của ông bị quânđội của vua Philip xứ Macedonia tiêu diệt, khiến ông trở thành một người mất nước.Thứ hai, quan trọng hơn, người kế nhiệm Palton làm Viện trưởng Học viện khôngđược Aristotle và một số đồng môn khác tâm phục Hai sự kiện này khiến Aristotle từgiã Athens, bắt đầu du hành đây đó và đem sở học ra áp dụng trong suốt 12 năm.Trong cuộc hành trình này, Aristotle cùng Xenocrates, người sau này trở thành Việntrưởng Học viện Platon, liên lạc với các đồng môn sống rải rác khắp bán đảo Hy Lạp,nhằm truyền bá học thuật Platon Trước hết Aristotle và Xenocrates vượt biển Algeađến Troad nơi có hai người bạn đồng môn là Erastus và Coricus, noi gương thầy, làm
cố vấn chính trị cho Hermias, rằng muốn cai trị lâu dài thì phải cai trị khoan dung vànhân hậu hơn là độc tài sắt máu Tại đây, cùng với Aristotle và Xenocrates, họ thànhlập học viện thu hút sự tham dự của học sinh từ các miền lân cận Aristotle trở thànhbạn thân của vua Hermias được nhà vua gả cháu gái làm vợ Tại đây, Aristotle cũng
có cơ hội quan sát tận mắt chế độ quân chủ và rút ra được nhiều bài học
Sau đó, Aristotle dọn sang sống tại đảo Lesbos và được vua Philip xứ Macedoniamời đến Pella, thủ đô của Macedonia để dạy học cho hoàng tử Alexander từ lúc ônghoàn này mới 13 tuổi cho đến khi 19 tuổi Alexander trở thành Đại đế khi 19 tuổi.Ngoài các môn học về văn chương, chủ yếu là trường ca Odyssey của Homer và triếthọc Hy Lạp, Aristotle còn dạy Alexander về khoa học thiên nhiên Khi Alexander lênlàm vua và bắt đầu chinh chiến, Aristotle ở lại Macedonia một thời gian sau đó quaytrở lại trung tâm văn hóa học thuật Hy Lạp, Athens
Năm 335 TCN, tại Athens, Aristotle cho mở trường Lyceum Tuy nhiên Athenslúc này không phải Athens tự do của 12 năm trước Alexander đã chiếm toàn cõi HyLạp và đặt Athens làm đất bảo hộ của Macedonia dưới quyền cai trị của Toàn quyềnAntipater thuộc Liên minh Corinth Trong cương vị Toàn quyền, Antipater ủng hộchính trị quả đầu (oligarchy), một chế độ chính trị dựa trên giai cấp có tài sản và quýtộc nên cai trị Athens theo chiều hướng đó Một điều ngẫu nhiên, cả Aristotle vàAntipater đã quen nhau trước đó tại Macedonia và vẫn giữu liên lạc, nay họ tái ngộ tạiAthens với hai địa vị khác nhau Tuy nhiên tình bạn của họ vẫn khăng khít và chínhsách của Antipater đã ảnh hưởng không ít tới những tác phẩm của Aristotle, cụ thểAristotle chủ trương xây dựng một thể chế trung dung ủng hộ giai cấp có tài sản.Năm 328 TCN, một biến cố nghiêm trọng đã ảnh hưởng tới Aristotle và học viênLyceum của ông Callisthenes, học trò và cháu ruột của Aristotle, trước đó là một bộtrưởng của Alexander, bị Alexander ra lệnh xử tử vì có tham gia vào một âm mưu thívua làm phản Callisthenes bị giết khiến cả Lyceum phẫn nộ và xem xét lại khả năngtrị nước của Alexander
Năm 324 TCN, Alexander bắt dân Hy Lạp phải vinh danh ông như thần thánh vàcho phép những người Hy Lạp bị lưu đày được trở về Sau khi Alexander băng hà,nhân cơ hội này Athens tuyên bố chiến tranh với Macedonia và đòi lại tự do TạiAthens, Toàn quyền Antipater đương nhiên trở thành đối tượng của cuộc chiến và
Trang 4Aristotle là bạn của Antipater, là thầy của Alexander phải bỏ Athens sang tị nạn tại xứChalcis Sau đó ông cũng qua đời tại đây vào năm 322 TCN.
Sau khi Aristotle qua đời, Demetrius, học trò của Aristotle, lên cai trị Athens vàbiến những gì Aristotle đã dạy tại Lyceum thành luật Ảnh hưởng của Aristotle khôngchỉ giới hạn tại Athens, triết lý theo trường pháo Aristotle đã trở thành nền tảng chotriết học Duy Thực tại Tây Phương Về phương diện triết lý chính trị, tác phẩmPolitics của ông với việc luận bàn mộ Nhà nước kiểu mẫu trở thành kinh điển chokhoa học chính trị tại Tây phương cho đến ngày nay
3 Các quan điểm triết học có ảnh hưởng tới Aristotle
a Các quan điểm khoa học Hy Lạp trước Aristotle
Học giả Renan cho rằng Socrate đem triết lý cho nhân loại, còn Aristote đem khoahọc cho nhân loại Đành rằng trước Socrate và trước Aristote cũng có khoa học vàtriết lý nhưng còn trong trạng thái thô sơ Đã có nhiều cuộc nghiên cứu của người HyLạp để phát triển khoa học nhưng những cuộc nghiên cứu ấy ngày nay không thể xem
là khoa học mà chỉ có thể xem như một loại thần học Nói một cách khác, dân Cổ HyLạp có khuynh hướng giảng giải tất cả những hiện tượng thiên nhiên như là hành vicủa các thần linh
Một vài người tiên phong tìm cách đi ra khỏi ngõ bí ấy Thalès (649 - 550 tTL)được coi là cha đẻ của triết lý xuất thân là một nhà thiên văn lên tiếng công kích thói
mê tín, xem các tinh tú trên trời như những thần linh Môn đệ của Thalès làAnaximandre có công vẽ những vị trí của những tinh tú và đưa ra thuyết táo bạo rằng
vũ trụ trước kia chỉ là một khối loãng, các hành tinh và định tinh từ trong khối ấy mà
ra Vũ trụ xoay vần theo từng chu kỳ hợp rồi tan, tan rồi hợp Trái đất nằm trên khôngtrung nhờ sức hút, tất cả các hành tinh đều có chất lỏng, dần dần chất lỏng ấy bốc hơi
do ảnh hưởng của mặt trời Đời sống bắt đầu ở dưới biển và lần lần xuất hiện trên mặtđất vì biển bị bốc hơi Những con vật không còn nước để sống dần dần tập thở khôngkhí, đó là thuỷ tổ của những giống vật sống trên đất Ngay cả loài người cũng phải cómột hình dáng khác bây giờ Vì nếu loài người quá yếu ớt lúc sơ sinh và đòi hỏi quánhiều thời gian để trưởng thành như ngày nay thì không sao có thể tồn tại đến ngàynay
Một triết gia khác Anaximènes cho rằng vũ trụ bắt đầu bằng một khối chất loãng.Khối ấy dần dần cô đọng lại thành gió, mây, nước, đất và đá Ba trạng thái của vật làtrạng thái khí, lỏng và đặc là 3 giai đoạn của sự cô đọng Động đất là do sự cô đọngchất lỏng trong lòng đất Đời sống và linh hồn là một sức mạnh tiềm tàng có mặt khắpnơi Anaxagoras tìm cách giảng giải nhật thực và nguyệt thực Ông là thầy học củadanh tướng Periclès Ông khám phá sự hô hấp của cây cỏ và loài vật Ông đưa ra giảthuyết rằng sở dĩ loài người thông minh hơn súc vật là nhờ biết đi 2 chân trong khidành 2 tay để làm những việc khác
Một học giả khác tên là Héraclite đã hy sinh tất cả của cải để hiến mình cho sựnghiên cứu khoa học Ông tìm thấy rằng tất cả mọi vật đều thay đổi Tạo hoá xoay vần
Trang 5theo từng chu kỳ Sự đấu tranh là cha đẻ của vạn vật Một học giả khác đã đưa rathuyết tiến hoá: ông cho rằng các bộ phận trong cơ thể của muôn loài đều thay đổitheo với luật đào thải Những bộ phận nào đáp ứng với nhu cầu và thích hợp với hoàncảnh sẽ được tồn tại trong khi những bộ phận khác không thích hợp sẽ bị đào thãi.Một vài học giả khác đã đi gần đến thuyết nguyên tử dù một cách rất thô sơ Họ chorằng ngoài thế giới hiện tại còn có vô số thế giới khác Các hành tinh trong vũ trụthường va chạm nhau và làm tan vỡ nhiều thế giới Trên đây là những điều mà các họcgiả Hy Lạp dưới thời Aristote đã tìm thấy Cần phải công nhận mặc dù với nhữngdụng cụ thô sơ, công trình phát minh của họ không phải nhỏ Mặt khác, chính chế độ
nô lệ làm trì hoãn các phát minh khoa học giúp ích đời sống: trong khi các nô lệ làmtất cả những công việc nặng nhọc thì không ai nghĩ đến việc phát minh máy móc làm
gì Trái lại phần lớn tư tưởng các học giả hướng về các vấn đề chính trị và xã hộitrong một nước Hy Lạp bị chia rẽ bởi nhiều phe nhóm chống đối nhau gay gắt Do đótriết lý và khoa học chính trị có phần phong phú hơn những ngành khoa học khác
b Các tư tưởng gia trước Aristotle
Heraclitus
Heraclitus khoảng 535 TCN – 475 TCN) xuất thân trong một gia đình quý tộc ởIonia nhưng ông sống một cuộc đời rất nghèo khổ và cô độc Về cơ bản, ông là mộtnhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng Những tư tưởng biệnchứng của ông rất sâu sắc, tuy vậy cách thức thể hiện lại rất phức tạp và khó hiểu vìvậy ông thường được gọi là nhà triết học tối nghĩa Hiện nay, tài liệu của ông chỉ cònkhoảng 130 đoạn bàn về tự nhiên
Trong khi Thales cho rằng bản nguyên của thế giới là nước thì Heraclitus lại cho
rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” “Lửa sống nhờ đất chết, không khí sống nhờ lửa chết, nước sống nhờ không khí chết, đất sống nhờ nước chết” Heraclitus cho rằng, vũ trụ không do ai sáng tạo ra, luôn luôn là lửa, sống động, vĩnh cửu, bùng cháy theo những quy luật của mình: “Thế giới này chỉ
là một đối với mọi cái Không do một thần thánh hay một người nào đó sáng tạo ra
nó, nhưng nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy, và mức độ của những cái đang lụi tàn”.
Không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũngnhư dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếusáng đưa ra chuẩn mực của mọi sự vật đó là logos Đó là cái chung phổ biến, tính bềnvững một mối liên hệ mang tính xuyên suốt của tiến trình thế giới Tính khách quancủa logos thể hiện ở chỗ, logos được hiểu như là những quy luật bất biến, vĩnh hằngcủa vũ trụ, là cái mang tính quy luật, là giới hạn hay độ mà các sự vật đang biến đổiphải tuân theo: “logos là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào logos củanó” Heraclitus khẳng định logos là quy luật biến đổi phổ biến của vạn vật trong vũtrụ: sự chuyển của Lửa là đầu tiên thành biển, biển thành đất và thành gió xoáy đấtlại hóa thành biển và tuân theo logos mà trước kia, biển hóa thành đất đã tuân theo
Trang 6Bản thân logos là sự thống nhất của những mặt đối lập Vũ trụ là một thể thống nhấtnhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lậpnhau Những cuộc đấu tranh đó luôn luôn diễn ra trong một sự hài hòa nhất định và bịquy định bởi logos.
Democritos
Democritos là một triết gia người Hy Lạp sống trước thời kỳ Socrates Ông sinh ravào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứ Thrace(phần đất thuộc Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) Democritus là học trò củaLeucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ Theo thuyết nguyên
tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng khác nhau của các phần tử khôngchia nhỏ được, không nhìn thấy được, cái mà ông gọi là atoma (nguyên tử) Đó là ýtưởng độc nhất vô nhị của Democritus, chính vì thế mà từ khi Democritos đưa ra kháiniệm đó cho đến tận sau này khi khoa học đã phát triển người ta mới có những bằngchứng cụ thể về sự tồn tại của nguyên tử và tiếp tục phát triển lý thuyết về nguyên tử.Democritos cũng là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp
cổ đại, người mà như V.I.Lênin đã nói, làm nên “đường lối Democritos” trong lịch sử
tư tưởng triết học nhân loại Không chỉ nổi tiếng với thuyết nguyên tử cổ điển về cấutạo vật chất mà dựa vào đó, lần đầu tiên, bức tranh nguyên tử về thế giới đã được conngười hình dung một cách tương đối hoàn chỉnh, Democritos còn được thừa nhận với
tư cách người đã có công lao to lớn trong việc đưa lý luận nhận thức duy vật lên mộtbước phát triển mới về chất so với các nhà triết học thuộc trường phái Elê bằng quanniệm hết sức độc đáo về những “hình ảnh”, “hình tượng” (eiδωλα- Iđôlơ) đặc biệt.Khi xây dựng học thuyết duy vật về nhận thức, Democritos đã xuất phát từ quanniệm coi con người vừa là thực thể sinh học, vừa là chủ thể nhận thức Theo ông, với
tư cách một thực thể sinh học, con người là một sinh vật được cấu thành bởi hai yếu tố
- thể xác và linh hồn, và do vậy, trong con người có cả đời sống tâm lý lẫn hoạt động
ý thức Còn với tư cách chủ thể nhận thức, con người là một kết cấu phức tạp của cácnguyên tử, là “một Vũ trụ thu nhỏ” Rằng, “con người - đó là tất cả những gì màchúng ta đã nhận biết được” Giải thích quan niệm này của Democritos về con ngườivới tư cách chủ thể nhận thức, Aristotle cho rằng, khi Democritos nói “con người - đó
là tất cả những gì mà chúng ta đã nhận biết được” thì điều đó chỉ có nghĩa là, vớiDemocritos, mọi cái mà con người đã nhận biết được về chính bản thân mình là nhữngcái mà con người thể hiện ra ở cái vẻ bề ngoài của họ, theo hình dạng của họ và cùngvới hiểu biết đó, nhận thức của con người còn hướng tới những cái chưa rõ ràng, chưađược bộc lộ ra ở họ, ở con người Với Democritos, việc nhận thức cái đã trở nên rõràng là cần thiết, song cần thiết hơn vẫn là nhận thức cái còn chưa rõ ràng Ông viết:
“Con người cần phải hướng nhận thức đến cái chưa rõ ràng, chứ không phải cái tuyệtđối hiển nhiên” Khi nói rõ hơn về quan niệm này của mình, Đêmôcrít cho rằng, mộtkhi cái bản chất vật chất của con người còn chưa được làm sáng tỏ một cách đầy đủthì vấn đề con người nhận thức thế giới cũng chưa rõ ràng và do vậy, nhận thức cầnphải hướng tới cái chưa rõ ràng ấy Với quan niệm này, khi khẳng định khả năng nhận
Trang 7thức thế giới của con người, Democritos đã chia nhận thức của con người thành haidạng - nhận thức mờ tối (nhận thức cảm tính, nhận thức theo “dư luận chung” - υομφ))
và nhận thức chân lý (nhận thức lý tính – έτεή, nhận thức nguyên tử và chân không)
Ông viết: “Nhà thông thái là thước đo của mọi cái hiện tồn Nhờ cảm giác, ông ta trở thành thước đo của mọi sự vật cảm tính; còn nhờ lý tính, ông ta là thước đo của các
sự vật lý tính”.
Socrates
Socrates là một triết gia Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh là bậc thầy về truyvấn Về năm sinh của ông hiện vẫn chưa có sự thống nhất giữa năm 469 hay 470.(469–399 TCN), (470–399 TCN) Ông sinh ra tại thành phố Athena, thuộc Hy lạp, và
đã sống vào một giai đoạn thường được gọi là hoàng kim của thành phố này Thời trẻ,ông nghiên cứu các loại triết học thịnh hành lúc bấy giờ của các "triết học gia trướcSokrates", đó là nền triết học nỗ lực tìm hiểu vũ trụ thiên nhiên chung quanh chúng ta.Sokrates được coi là nhà hiền triết, một công dân mẫu mực của thành Athena, HyLạp cổ đại Ông là nhà tư tưởng nằm giữa giai đoạn bóng tối và giai đoạn ánh sángcủa nền triết học Hy Lạp cổ đại Sokrates còn được coi là người đặt nền móng chothuật hùng biện dựa trên hệ thống những câu hỏi đối thoại Ông có tư tưởng tiến bộ,nổi tiếng về đức hạnh với quan điểm: "Hãy tự biết lấy chính mình", "Tôi chỉ biết mỗimột điều duy nhất là tôi không biết gì cả" Ông bị chính quyền khi đó kết tội làm bạihoại tư tưởng của thanh niên do không thừa nhận hệ thống các vị thần cũ được thànhAthena thừa nhận và bảo hộ và truyền bá các vị thần mới Vì thế ông bị tuyên phạt tự
tử bằng thuốc độc, mặc dù vậy ông vẫn có thể thoát khỏi án tử hình này nếu như ôngcông nhận những cáo trạng và sai lầm của mình, hoặc là rời bỏ Athena Nhưng vớiquan điểm "Thà rằng chịu lỗi, hơn là lại gây ra tội lỗi.", ông kiên quyết ở lại, đối diệnvới cái chết một cách hiên ngang Theo ông sự thật còn quan trọng hơn với cả sự sống
Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của ông cho tư tưởng phương Tây là phương pháptruy vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi "phương pháp Sokrates" hay phươngpháp "bác bỏ bằng logic" (elenchus) Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu choviệc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như Tốt đẹp và Côngbằng Platon là người đầu tiên miêu tả phương pháp này với tác phẩm "Các cuộc hộithoại của Sokrates" Để giải quyết một vấn đề, người ta chia nhỏ nó thành một hệthống các câu hỏi, các câu trả lời sẽ dần dần kết tinh ra lời giải mà ta tìm kiếm Ngàynay, ảnh hưởng của cách tiếp cận này có thể thấy rõ nhất ở việc sử dụng phương phápkhoa học, mà bước đầu tiên là đặt ra giả thuyết Sự phát triển và sử dụng phương phápnày là một trong những đóng góp bền vững nhất của Sokrates, đó là thành tố chínhtrong việc đánh giá ông là cha đẻ của triết học chính trị, luân lý học, và là người khởiđầu của các xu hướng chính trong triết học phương Tây
Phương pháp Sokrates có thể được diễn tả như sau; một loạt câu hỏi được đặt ra đểgiúp một người hay một nhóm người xác định được niềm tin cơ bản và giới hạn củakiến thức họ Phương pháp Sokrates là phương pháp loại bỏ các giả thuyết, theo đó
Trang 8người ta tìm ra các giả thuyết tốt hơn bằng cách từng bước xác định và loại bỏ các giảthuyết dẫn tới mâu thuẫn Nó được thiết kế để người ta buộc phải xem xét lại các niềmtin của chính mình và tính đúng đắn của các niềm tin đó Thực tế, Sokrates từng nói,
"Tôi biết anh sẽ không tin tôi, nhưng hình thức cao nhất của tinh túy con người là tựhỏi và hỏi người khác"
Nếu có một nhận xét tổng quát về niềm tin triết học của Sokrates, thì có thể nóirằng về mặt đạo đức, tri thức, và chính trị, ông đi ngược lại những người đồng hươngAthena Khi bị xử vì tội dị giáo và làm lũng đoạn tâm thức của giới trẻ Athena, ôngdùng phương pháp phản bác bằng lôgic của mình để chứng minh cho bồi thẩm đoànrằng giá trị đạo đức của họ đã lạc đường Ông nói với họ rằng chúng liên quan đến giađình, nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị của họ trong khi đáng ra họ cần lo lắng về
"hạnh phúc của tâm hồn họ" Niềm tin của Sokrates về sự bất tử của linh hồn và sự tintưởng chắc chắn rằng thần linh đã chọn ông làm một phái viên có vẻ như đã làmnhững người khác tức giận, nếu không phải là buồn cười hay ít ra là khó chịu.Sokrates còn chất vấn học thuyết của các học giả đương thời rằng người ta có thể trởnên đức hạnh nhờ giáo dục Ông thích quan sát những người cha thành công (chẳnghạn vị tướng tài Pericles) nhưng không sinh ra những đứa con giỏi giang như mình.Sokrates lập luận rằng sự ưu tú về đạo đức là một di sản thần thánh hơn là do sự giáodục của cha mẹ Niềm tin đó có thể đã có phần trong việc ông không lo lắng về tươnglai các con trai của mình
Sokrates thường xuyên nói rằng tư tưởng của ông không phải là của ông mà là củacác thầy ông Ông đề cập đến một vài người có ảnh hưởng đến ông: nhà hùng biệnProdicus và nhà khoa học Anaxagoras Người ta có thể ngạc nhiên về tuyên bố củaSokrates rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai người phụ nữ ngoài mẹ ông Ôngnói rằng Diotima, một phù thủy và nữ tu xứ Mantinea dạy ông tất cả những gì ông biết
về tình yêu, và Aspasia, tình nhân của Pericles, đã dạy ông nghệ thuật viết điếu văn.John Burnet cho rằng người thầy chính của ông là Archelaus (người chịu ảnh hưởngcủa Anaxagoras), nhưng tư tưởng của ông thì như Platon miêu tả Còn Eric A.Havelock thì coi mối quan hệ của Sokrates với những người theo thuyết Anaxagoras
là căn cứ phân biệt giữa triết học Platon và Sokrates
Platon
Platon, khoảng 427-347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem làthiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đạicùng với Sokrates là thầy ông Sinh ra ở Athen, ông được hấp thụ một nền giáo dụctuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và đặc biệt là triếthọc, ngành học mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp Sokrates Ông đã từng bị bánlàm nô lệ và được giải thoát bởi một người bạn, sau đó, ông đã trở về Athena khoảngnăm 387 TCN và sáng lập ra Akademia (tên lấy theo khu vườn nơi ông ở) Đây có thểđược coi là trường đại học đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu,giảng dạy khoa học và triết học Aristoteles đã theo học tại đây khi 20 tuổi và sau nàylập ra một trường khác là Lyceum
Trang 9Platon là nhà triết học duy tâm khách quan Điểm nổi bật trong hệ thống triết họcduy tâm của Platon là học thuyết về ý niệm Trong học thuyết này ông đưa ra hai quanniệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm Trong đó thế giới các sựvật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra vàmất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ýniệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vậtcảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm Nhận thức của con người không phải là phản ánhcác sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ýniệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Từ quan niệm trên Platon đãđưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại" "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất,cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất Còn "không tồntại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất Về mặt nhận thứcluận Platon cũng mang tính duy tâm Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứkhông phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó Nhậnthức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại,hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ Theo Platon tri thức đượcphân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là trithức ý niệm có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhậnthức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân lý Về xã hội, Platon đưa ra quan niệm
về nhà nước lý tưởng trong đó sự tồn tại và phát triển của nhà nước lý tưởng dựa trên
sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyếtcác mâu thuẫn xã hội
II CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC – CHÍNH TRỊ
1 Các quan điểm triết học về nhận thức
Aristotle cho rằng bản chất con người là khát vọng hướng đến tri thức, con ngườisinh ra để nhận thức, kẻ nào không nhận thức, kẻ đó không phải là người Nhận thức
là quá trình xuất phát từ thực tại khách quan, trải qua giai đoạn cảm giác, biểu tượngđến tư duy, lý luận Không có sự tác động của đối tượng nhận thức vào giác quan thì
sẽ không có một tri thức nào; nhận thức cảm tính không có khả năng đi sâu vào bảnchất sự vật; chỉ có nhận thức lý tính mới khám phá được cái phổ biến, tất yếu, tức cáibản chất của sự vật, hiện tượng Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quanbên ngoài vào trong linh hồn, là ghi chép lên linh hồn những dòng chữ tri thức Đểtránh sai lầm trong quá trình tìm hiểu về bản chất, khám phá quy luật của hiện thựckhách quan, thì linh hồn lý tính phải được trang bị các phương pháp suy nghĩ đúngđắn, phải tuân thủ những yêu cầu của logic học (luận lý học)
Như vậy, Aristotle phân biệt tri thức với kinh nghiệm và thường kiến Tri thứckhác với kinh nghiệm, bởi lẽ tri thức có tính phổ biến và tính tất yếu, còn kinhnghiệm, nhất là thường nghiệm, có tính đơn nhất và tính ngẫu nhiên Nhưng kinhnghiệm là khởi điểm của cả tri thức lẫn nghệ thuật Tri thức khác với thường kiến nhưcái xác thực khác với cái xác suất, cái chắc chắn khác với cái phỏng đoán Sự khácnhau căn bản giữa Aristotle và Platon trong lý luận nhận thức ở chỗ nếu Platon xuất
Trang 10phát từ sự tồn tại của tri thức, thì Aristotle xuất phát từ sự tồn tại của đối tượng trithức Nhận thức luận của Aristotle là sự sửa chữa lại nhận thức luận của Platon Nhậnthức được Aristotle xem xét như một quá trình từ cảm tính đến lý tính, từ nhận thứccái đơn nhất đến nhận thức các tiểu loại, chủng loại Platon cũng nói đến điều đó,nhưng triển khai theo hướng đi xuống: lý tính - giác tính - niềm tin - mô phỏng, trong
đó hai nấc thang đầu thuộc về hoạt động tư duy, hai nấc thang sau - thường kiến Sựliên kết bốn nấc thang nhận thức, theo Platon, tạo nên một quá trình nhận thức thốngnhất, mà cơ sở của nó là tồn tại đích thức, thế giới các ý niệm Bác bỏ Platon, Aristotlecho rằng, khoa học lấy cái phổ biến làm đối tượng, nhưng cái phổ biến là sự trừutượng hóa từ thực tại cụ thể cảm tính, nên trước hết cần nhận thức những cái đơn nhất,thế giới các sự vật cảm tính
Nhận thức cảm tính, theo nghĩa đó, là nấc thang đầu tiên, cần thiết của quá trìnhnhận thức Tri thức phổ biến xuất phát từ kinh nghiệm và được trừu tượng hóa ở tưduy, là sự khái quát tri thức về những cái đơn nhất Tri thức về cái phổ biến hình thànhtrong linh hồn lý tính, thứ linh hồn đặc biệt, chỉ có ở con người, tồn tại không lệ thuộcvào thân xác Linh hồn là nguyên nhân và khởi đầu của vơ thể sống, trong đó phầnsiêu việt nhất thuộc về lý tính, nhưng ngay ở lý tính lại có phần lý tính siêu việt thuầntúy - siêu việt của những siêu việt Về phần mình lý tính siêu việt phân thành lý tínhtích cực (năng động) và lý tính thụ động Aristotle đặt lý tính siêu việt tích cực ở đỉnhchóp bảng phân tầng linh hồn và xem nó như lý tính sáng tạo Lý tính ấy trong khi suyniệm về sự vật cũng đồng thời sắp xếp các sự vật Lý tính thụ động, thu nhận, là sự đitìm những mô thức, hay khả năng đạt tới những mô thức Tri thức về cái phổ biếnđược đặt vào lý tính thụ động dưới dạng khả năng Để khả năng tri thức trở thành trithức thực sự cần có cả lý tính tích cực (diễn đạt theo ngôn ngữ hiện đại: tính tích cựccủa ý thức) lẫn sự tác động của thế giới khách quan lên linh hồn
2 Các tư tưởng chính trị
Các tư tưởng triết học về hình thành một nhà nước và xã hội cũng như quan điểmchính trị đã được Aristotle tổng hợp trong tác phẩm Chính trị luận, một kinh điển chokhoa học chính trị Tây phương cho đến ngày nay Aristotle viết Chính trị luận vàonăm 350 TCN và có ảnh hưởng sâu rộng tới các tư tưởng gia đời sau như Cirero, St.Augustine, Aquinas và các lý thuyết gia thời Trung cổ Các lý thyết gia hiện đại nhưMachiavelli, Hobbes và các nhà tư tưởng thời Khai Sáng đều dựa trên nền tảng này
mà phê phán lý thuyết và mô hình chính trị kiểu Aristotle, nhờ vậy họ đã phát triểnnên hệ tư tưởng mới
Aristotle đã sử dụng phương pháp luận lý quy nạp, đi từ đơn vị xã hội nhỏ nhất làgia đình tới xã hội và cuối cùng là quốc gia để tìm ra những đặc tính thiết yếu mà nhànước phải có để trở thành một nhà nước lý tưởng Đồng thời, Aristotle cũng so sánhgiữa mô hình nhà nước “lý tưởng” và mô hình nhà nước trong thực tế và đưa ra nhữngnguyên lý xây dựng một nền chính trị mang lại điều tốt nhất cho con người
a Lý thuyết về gia đình và nô lệ
Trang 11Aristotle từng nói “mỗi cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới một cái tốt nào đó;
vì hoạt động của con người luôn luôn nhằm đạt được cái mà nó nghĩ là tốt Nhưng nếu tất cả các cộng đồng đều nhắm đến cái tốt, thì nhà nước hay cộng đồng chính trị, cộng đồng cao nhất và bao trùm tất cả các cộng đồng – phải nhắm tới cái tốt đẹp cao
cả hơn mọi cái tốt đẹp khác, và phải là cái tốt ở mức độ cao nhất” Aristotle đã nhắc
đến vai trò của nô lệ khi phân tích các thành phần tạo nên hộ gia đình Mối tươngquan trong hộ gia đình gồm có quan hệ giữa chủ nhân và nô lệ, giữa chông và vợ, giữacha mẹ và con cái Lập luận của Aristotle về nô lệ dĩ nhiên không còn phù hợp vớithời đại của chúng ta, như nô lệ là một thành phần không thể thiếu trong xã hội HyLạp cổ đại, thời kỳ mà nền kinh tế dựa vào sức lao động của nô lệ để sản xuất
Theo Aristotle có 2 loại nô lệ: những kẻ sinh ra đã là nô lệ và những kẻ bị buộclàm nô lệ Aristotle đã lập luận như sau: những kẻ nào mà trời sinh ra kém thôngminh, không làm được gì hơn là chỉ làm những việc lao động chân tay, thì những kẻ
ấy trời sinh ra làm nô lệ, đó là những kẻ không đủ trí phán đoán khôn ngoan Aristotlecòn cho rằng đối với những người như vậy có được chủ nhân là điều tốt cho họ Ngoài
ra, những kẻ chiến bại là những kẻ bị buộc làm nô lệ, những kẻ chiến bại này chắcchắn phải kém hơn người chiến thắng chứ nếu không thì thua sao được? Như vậy bịbắt làm nô lệ cũng hợp với luân lý mà thôi
Đồng thời, Aristotle cũng lập luận về vai trò của phụ nữ trong hộ gia đình Ông
quan niệm: “người nam do bản chất tự nhiên, ngoại trừ trường hợp bị tậ bẩm sinh, thích hợp với vai trò chỉ huy hơn người nữ, cũng tương tự như với tuổi tác và sự chín chắn thích hợp với vai trò chỉ huy hơn tuổi trẻ thiếu khôn ngoan” Aristotle không nói
“chỉ huy” cái gì nhưng nhận định thêm rằng vai trò của người chồng đối với vợ cũnggiống như vai trò của nhà lãnh đạo chính trị đối với công dân, và vai trò của người chađối với con gái cũng giống như của nhà vua đối với thần dân Quan niệm của Aristotlecũng là quan niệm của Tây phương về vai trò phụ nữ là lo việc quản trị gia đình Aristotle cũng đưa ra những lập luận để phân tích mối quan hệ giữa con người vànhà nước Theo ông, mỗi nhà nước là một hình thức quần tụ nào đó của con người –một công đồng, và mỗi cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới một cái tốt nào đó.Aristotle đã chứng minh rằng gia đình là sự tụ hội cần thiết và tự nhiên, và nếu làngmạc là sự tăng trưởng tự nhiên của gia đình, và nhà nước (polis) là sự tăng trưởng củacác làng mạc, thì sự phát triển của nhà nước cũng là sự phát triển tự nhiên Ông lậpluận khi nhiều làng mạc liên kết lại với nhau thành một cộng đồng duy nhất, một cộngđồng đủ lớn để có thể tự túc được, thì nhà nước được khai sinh từ những nhu cầu cơbản của đời sống và tiếp tục tồn tại cho một đời sống tốt đẹp, nhà nước là một kết quả
cuối cùng của xã hội, và tính tự nhiên của sự vật chính là chung cục của nó Cũng theo
Aristotle, con người là “một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhànước Nếu có kẻ nào đó vì bản tính tự nhiên, không phải vì tai nạn ngẫu nhiên, chọnsống ngoài cộng đồng chính trị, kẻ đó hoặc chẳng ra gì, hoặc là một siêu nhân hơnngười” Như vậy, Aristotle coi con người là một sinh vật chính trị, sự phối hợp giữacác sinh vật có ý thức này tạo nên gia đình và nhà nước
Trang 12Tuy nhiên, Aristotle cũng cho rằng nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước các
cá nhân, vì nhà nước là tổng thể, còn cá nhân là cá thể Mọi cá nhân không thể nào tựtúc được khi sống cô lập, vì mọi cá nhân là vô vàn các cá thể cùng lệ thuộc vào một
cái tổng thể, nhà nước Aristotle từng nói: “một cá nhân sống biệt lập, hoặc là vì không thể chia sẻ các phúc lợi do sự quần tụ chính trị đem lại, hoặc không cần chia sẻ
gì hết vì hắn đã đạt được tự túc rồi, thì không còn là một thành phần của nhà nước nữa, như vậy, phải hoặc là thú, hoặc là thần mà thôi”
b Tư tưởng về nhà nước lý tưởng
Aristotle đặt vấn đề, theo ông có ba chọn lựa có thể xảy ra: công dân của một nhànước hoặc là có chung mọi thứ, hoặc là không có chung thứ gì hết, hoặc là chỉ cóchung một số điều nào đó mà thôi Lựa chọn công dân không có chung thứ gì hết hiểnnhiên là điều không thể xảy ra, vì cơ cấu chính trị là một cộng đồng Nhưng liệu mộtnhà nước được cai trị khéo léo sẽ có chung nhau mọi điều hay chỉ có chung nhau một
số điều? Bởi vì như Socrates đã đưa ra mô hình nhà nước được Platon mô tả lại, theo
đó mọi công dân đều có chung của cải vật chất, bao gồm chung cả vợ con Aristotle đãphê bình mô hình nhà nước lý tưởng này của Socrates và Platon, một nhà nước đượcxây dựng theo kiểu “cộng sản nguyên thủy” Aristotle cũng phản bác mô hình của các
lý thuyết gia khác như Phaleas, Hippodamus Ông nhận diện các nhà nước mà theoông đã tiến đến gần lý tưởng như Sparta, Crete, Carthage cùng với các khuyết điểmsâu sắc các nhà nước này mắc phải và đưa đến sự suy vong sau này
Từ đó, Aristotle đưa ra nhận định chẳng khi nào con người có thể đạt được mộtnhà nước lý tưởng, nhưng con người có thể xây dựng được cho mình một chế độ tốtnhất có thể Đó là một chế độ Trung dung, ở giữa chế độ Dân chủ (dân chủ trực tiếp,mọi người dân đều tham gia vào chính trị từ nghị luận việc công đến thi hành phápluật) và chế độ Quả đầu (thiểu số cai trị nhưng không phải là quý tộc)
c Bản chất công dân và các mô hình hiến pháp
Aristotle cho rằng tư cách công dân của một người không được tạo nên chỉ vìngười đó sinh ra và cư trú trên một đất nước nào đó Tư cách công dân chỉ cần mộttiêu chuẩn để xác định: công dân là người có quyền hạn tham gia chính sự và giữ chức
vụ trong chính quyền Tuy nhiên có quyền tham chính và giữ chức vụ trong chínhquyền không có nghĩa người dân sẽ trở thành công dân tốt Aristotle đưa ra một câuhỏi thiết yếu: “liệu một người tốt có trở thành một công dân tốt” Theo Aristotle, haiđiều này thuộc phạm trù khác nhau Ông đưa ra hình ảnh so sánh người dân trong mộtnước với những thủy thủ trên một con tàu, mỗi người một nhiệm vụ phải thi hành,người lo việc lái tàu, người lo việc chèo chống Mỗi người đều phải làm tốt phầnviệc của mình Tuy nhiên tất cả đều có nhiệm vụ chung là giữ con tàu được an toàn, điđược tới mục tiêu đã định Công dân cũng vậy, mục đích tối hậu là giữ cho chế độđược an toàn, và đó là đức hạnh chung của công dân Công dân, dù giữ chức vụ lãnhđạo hay chỉ là dân thường cũng phải có kiến thức và khả năng lãnh đạo cũng như biết
Trang 13tuân phục Riêng với nhà lãnh đạo, Aristotle đòi hỏi phải có thêm đức tính nữa mà cáccông dân khác không có, đó là sự khôn ngoan chính trị.
Aristotle cũng đã phân tích các chế độ chính trị được thể hiện qua các loại hiếnpháp khác nhau Vì bản năng tự nhiên của con người là sống quần tụ với nhau hòngđạt được đời sống tốt đẹp hơn lúc sống đơn lẻ, do đó mục đích tối hậu của mọi chế độ
là tạo dựng và bảo vệ đời sống tốt đẹp cho mọi người Chế độ nào đtạ được mục đíchnày là chế độ đúng đắn, và ngược lại chế độ nào chỉ phục vụ cho giới cầm quyền làchế độ bất công, vì quốc gia là sự kết hợp của những con người tự do và bình đẳng.Theo Aristotle, cơ cấu chính trị do hiến pháp đặt ra là cơ cấu tối thượng Cơ cấunày có thể do một người, vài người hoặc đa số nắm giữ Aristotle phân loại các chế độchính trị như sau: Quân chủ (một người), Quý tộc (vài người), và Đa số (gồm cáccông dân có tài sản) Dù dưới hình thức nào, khi cơ cấu tối thượng này cai trị nhằmđem lại cái tốt chung cho mọi người, thì nhất thiết nó phải là cơ cấu chính trị đúng đắn
và tốt nhất Nếu các chế độ trên chỉ lo cho quyền lợi riêng thì chúng đã bị biến tháithành những chế độ xấu xa, như Bạo chúa thay cho Quân chủ, Quả đầu thay cho Quýtộc, và Dân chủ thay cho Đa số (Aristotle và người Hy Lap cổ đại cho rằng Dân chủchỉ lo cho quyền lợi của dân nghèo) Đối với một đất nước có đa số dân giàu và thiểu
số dân nghèo, Aristotle cho rằng con số nhiều ít chỉ có tính tương đối, và nhấn mạnhmột chế độ được xem là chế độ Quả đầu nếu những người cai trị lo cho quyền lợi củangười giàu (bất kể nhiều hay ít) và một chế độ được xem là Dân chủ nếu do thànhphần dân nghèo cai trị
Những người theo chế độ Dân chủ cho rằng vì mọi người sinh ra đều có quyềnbình đẳng, như vậy trên căn bản công bằng, mọi người đều có quyền ngang nhau.Những người theo chế độ Quả đầu lại nghĩ khác: nếu mọi người giàu nghèo khácnhau, thì theo công lý, họ cũng có những quyền khác nhau; những người đóng gópcho nhà nước một đồng không thể ngang quyền với những người đóng góp một trămđồng Theo Aristotle cả hai lập luận trên đều sai lầm vì cả hai phe đều đưa ra nhận
định và phán xét dựa trên quyền lợi của mình Ông đã nói: “Mọi người, như một quy luật, đều là những quan tòa không ngay thẳng khi phán đoán những gì có liên quan đến quyền lợi riêng tư của mình” Thêm vào đó, nhận định sai lạc của hai phe nằm ở
chỗ không nắm vững mục tiêu tối hậu của nhà nước Quốc gia không phải một tập hợpdân chúng cư ngụ trên cùng một lãnh thổ, hay là noi dân chúng buôn bán, giao dịch dễdàng với nhau, hay cùng nhau chống lại các hiểm họa Tất cả những điều này cầnnhưng chưa đủ, vì chỉ tạo nên đời sống xã hội chứ chưa tạo thành một quốc gia Mụcđích tối hậu của một quốc gia là hướng tới một cuộc sống tốt đẹp, và các mối dây ràngbuộc xã hội chỉ là phương tiện để đạt được mục đích này mà thôi Do đó, những aiđem tài năng và hành hành động của mình, cống hiến nhiều cho quốc gia thì sẽ hưởngnhiều vinh dự hơn Đây là lý thuyết phân bố công lý gọi là bình đẳng theo tỷ lệ và dựatrên tài năng Qua đây Aristotle bác bỏ lập luận xây dựng nhà nước dựa trên giai cấp
xã hội
Trang 14Aristotle cũng đề cập đến một vấn đề quan trọng cho việc tổ chức quốc gia, đó làthành phân sẽ nắm quyền tối thượng: dân nghèo, dân giàu, thành phần ưu tú, mộtngười có tài năng kiệt xuất hay bạo chúa? Nếu thành phần đa số, không kể giàu nghèo,tịch thu tài sản của thành phần thiểu số để chia cho nhau, thì đất nước sẽ bị tiêu hủy.Nếu thành phần ưu tú nắm quyền thì đa số còn lại sẽ không có cơ hội để tham chính
và giữ trọng trách trong chính quyền Nếu chỉ có một người cai trị, thì tuyệt đại đa số
sẽ chẳng bao giờ có cơ hội tham chính Và Aristotle đưa ra một đề nghị là “Pháp trị”,
tức là để pháp luật, chứ không phải con người có quyền tối thượng, vì con người luônluôn để tư lợi và tình cảm xen vào Aristotle nhận định rằng, có thể có một hoặc mộtnhóm người siêu việt và xuất chúng hơn mọi người, chỉ một mực chăm lo cho lợi íchchung của quốc gia, và theo luận lý tự nhiên người hay nhóm người này sẽ nắm quyền
tối thượng, tuy nhiên cũng lưu ý rằng, những người như vậy là “thần thánh chứ không phải con người”.
d Nguyên nhân của Cách mạng và sự thay đổi thể chế
Quan điểm hiện đại về Cách mạng thường mang ý nghĩa tích cực hơn, đổi cái cũbằng cái mới tiến bộ hơn Tuy nhiên cách mạng theo Aristotle thuần túy chỉ là sự thayđổi chế độ, mang tính khách quan, không tốt và cũng không xấu Chế độ mới có thểtốt hơn, nhưng cũng có thể xấu hơn chế độ vừa bị cách mạng Cũng theo Aristotle,nguyên nhân của cách mạng do sự diễn dịch khác nhau của các thành phần dân chúngkhác nhau về công lý và bình đẳng Những người theo Dân chủ quan niệm rằng hễnhững ai bình đẳng trên một phương diện, thì cũng bình đẳng trên mọi phương diện;những người theo quan niệm Quả đầu lại cho rằng những ai không bình đẳng trên mộtphương diện thì tất yếu cũng không bình đẳng trên mọi phương diện; hai quan điểmnày xung đột và dẫn đến tranh chấp và hành vi dấy loạn Aristotle cho rằng nguyênnhân sâu xa dẫn đến sự dấy loạn, tranh chấp ở chỗ: động cơ tâm lý: là những cảm xúc
và nhiệt tình với sự bình đẳng, những kẻ thua thiệt đấu tranh và đòi bình đẳng với kẻkhác, những kẻ khá giả đấu tranh để giữ được địa vị xã hội của mình Mục tiêu tranhchấp và điều kiện tranh chấp suy cho cùng là danh và lợi, khi là mục tiêu danh-lợi tạo
sự bất mãn, khi là điều kiện dẫn đến bất mãn
Trong chế độ Dân chủ, nguyên nhân gây sụp đổ chế độ là những kẻ mị dân, lànhững chính khách lợi dụng thành kiến, cảm xúc, sợ hãi, hy vọng và ngay cả lòng áiquốc để kích động đám đông cho mưu đồ chính trị (tiêu biểu thời hiện đại là Hitler).Tất cả những kẻ mị dân lên nắm quyền đều trở thành độc tài, bạo ngược Chế độ Quảđầu bị sụp đổ vì giai cấp thiểu số thống trị đàn áp và đối xử bất công với đa số bị trị(các cjees độ độc đảng ngày nay là hình thức rõ rệt nhất của chế độ Quả đầu) Chế độQuý tộc bị sụp đổ vì giai cấp cai trị đi chệch hướng nguyên tắc công bằng của chế độ,nhất là khi chức vụ được sử dụng như phương tiện để mưu lợi cá nhân Để bảo vệ chế
độ, Aristotle đề nghị phải giáo dục quần chúng sống và hành động theo đúng tinh thầncủa hiến pháp tạo dựng ra chế độ
e Các phương thức thiết lập chế độ Dân chủ và Quả đầu