1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương ôn tập có đáp án môn Đường lối cách mạng của D(CSVN

35 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 270,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Chứng minh sự ra đời của cương lĩnh chính trị đầu tiên mang tính khoa học, tính cách mạng và tính đúng đắn 2.Chứng minh sự ra đời của Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mac – Lenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3–2–1930 không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự tác động, vận động và phát triển tất yếu của ba nhân tố kết hợp : chủ nghĩa Mác Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Chủ nghĩa Mác Lênin trang bị lí luận, chỉ ra mục tiêu, lí tưởng, nhiệm vụ, phương pháp khoa học, soi đường dẫn lối cho giai cấp vô sản và quần chúng lao động tiến hành đấu tranh cách mạng xoá bỏ chế độ xã hội cũ, chế độ người áp bức bóc lột người và xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác Lênin còn chỉ ra : Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, giai cấp công nhân cần phải lập ra Đảng vô sản của mình, Đảng đó phải là bộ tham mưu, đội tiên phong của giai cấp công nhân, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc, Đảng đó phải là Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác Lênin được truyền bá, thâm nhập vào Việt Nam trở thành nhân tố quan trọng dẫn tới sự ra đời của Đảng. + Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam : cứu nước theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin. Từ năm 1921 đến 1930, Người đã tích cực hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam. Nhờ những đóng góp thiết thực của Người : xuất bản báo chí, viết bài, báo cáo tham luận... đặc biệt là hai tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp và Đường Kách mệnh những tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin đã ngày càng được thâm nhập rộng rãi vào Việt Nam. Thông qua việc sáng lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và các hoạt động của nó, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện được việc truyền bá và giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin cho quần chúng lao động và giai cấp công nhân Việt Nam. + Qua đó, vai trò của chủ nghĩa Mác Lênin đã được thể hiện : những tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN đã thức tỉnh những người Việt Nam hướng theo con đường cách mạng đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản ; Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN ; xác định đúng vấn đề động lực cách mạng, liên minh giai cấp ; vị trí của cách mạng thuộc địa, phương pháp cách mạng bạo lực... ; đó là cơ sở lí luận cho cương lĩnh cách mạng của Đảng sau này. Nhờ có chủ nghĩa Mác Lênin mà phong trào công nhân đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Sự lớn mạnh của phong trào công nhân đòi hỏi phải có một chính Đảng duy nhất và thống nhất lãnh đạo. Phong trào công nhân là điều kiện cơ bản, quyết định dẫn tới sự ra đời của Đảng. Đầu thế kỉ XX, giai cấp công nhân Việt Nam đã được hình thành và bước vào trận tuyến đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào công nhân chưa trở thành lực lượng riêng biệt, còn hoà lẫn vào phong trào dân tộc. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến 1925, giai cấp công nhân được tăng cường về số lượng và chất lượng, phong trào công nhân đã trưởng thành, xuất hiện những cuộc bãi công lớn đòi các quyền lợi về kinh tế, chính trị, trở thành lực lượng riêng biệt và bước đầu xuất hiện những tổ chức sơ khai. Từ năm 1926 – 1930, do tiếp thu được chủ nghĩa Mác Lênin, phong trào công nhân đã phát triển dần lên trình độ tự giác với sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản trong năm 1929 : Sự thống nhất ba tổ chức cộng sản được đặt ra thành một yêu cầu cấp bách của cách mạng nước ta ; đồng thời đánh dấu bước trưởng thành và chín muồi của một chính Đảng vô sản duy nhất. Như vậy, phong trào công nhân ngày một trưởng thành, đi từ tự phát đến tự giác là một trong những điều kiện tất yếu dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. + Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời còn là do nhu cầu đòi hỏi của phong trào yêu nước Việt Nam. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta với tinh thần yêu nước nồng nàn đã liên tục vùng dậy đánh đuổi đế quốc Pháp để giành độc lập dân tộc.Từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, các phong trào yêu nước tiêu biểu đã xuất hiện : phong trào nông dân và phong trào Cần vương... Từ năm 1919 đến 1930, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển theo hai khuynh hướng rõ rệt : khuynh hướng tư sản và khuynh hướng vô sản. (...) Khuynh hướng tư sản : bao gồm các phong trào của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, tiêu biểu như : Phong trào chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá, chống độc quyền cảng Sài Gòn... ; những phong trào mít tinh, biểu tình của tầng lớp tiểu tư sản : phong trào đòi thả Phan Bội Châu, phong trào truy điệu Phan Châu Trinh... và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam quốc dân đảng phát động... Các phong trào theo khuynh hướng tư sản diễn ra rất sôi nổi, anh dũng nhưng kết quả cuối cùng đều thất bại. (...) Khuynh hướng vô sản : Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và những hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1920 – 1930, phong trào theo khuynh hướng vô sản ngày càng phát triển mạnh mẽ, điển hình nhất là các hoạt động của các tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng, đã có nhiều thanh niên yêu nước được giác ngộ trở thành đảng viên cộng sản. => Như vậy, đến cuối năm 1929 đầu 1930, cả ba yếu tố : Chủ nghĩa Mác Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nứớc đã được kết hợp chặt chẽ với nhau. Sự kết hợp đó đã tạo điều kiện thuận lợi để Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 3.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là gì ? Tại sao trong thời kì đổi mới Đảng ta lại chủ trương coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu? Em hãy phân tích những mặt tích cực và hạn chế trong đường lối này ? Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Trang 1

Hoang Le

QH17

Trang 2

1 Chứng minh sự ra đời của cương lĩnh chính trị đầu tiên mang tính khoa học, tính cách mạng và tính đúng đắn

2 Chứng minh sự ra đời của Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mac – Lenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước

S ra ự đời cua ̉ Đảng C ng s n Vi t Nam ngày 3–2–1930 không ph i là m t hi n tộ ả ệ ả ộ ệ ượng ng u ẫnhiên, mà là k t qu c a s tác ế ả ủ ự động, v n ậ động và phát tri n t t y u c a ba nhân t k t ể ấ ế ủ ố ế

h p : ch ngh a Mác Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nợ ủ ĩ ước Vi t Nam Ch ệ ủngh a Mác Lênin trang b lí lu n, ch ra m c tiêu, lí tĩ ị ậ ỉ ụ ưởng, nhi m v , phệ ụ ương pháp khoa h c,ọsoi đường d n l i cho giai c p vô s n và qu n chúng lao ẫ ố ấ ả ầ động ti n hành ế đấu tranh cách

m ng xoá b ch ạ ỏ ế độ xã h i c , ch ộ ũ ế độ người áp b c bóc l t ngứ ộ ười và xây d ng xã h i m i, ự ộ ớ

xã h i XHCN và c ng s n ch ngh a Ch ngh a Mác Lênin còn ch ra : Trong cu c ộ ộ ả ủ ĩ ủ ĩ ỉ ộ đấu tranh ch ng k thù giai c p và trong s nghi p xây d ng xã h i m i, giai c p công nhân c n ố ẻ ấ ự ệ ự ộ ớ ấ ầ

ph i l p ra ả ậ Đảng vô s n c a mình, ả ủ Đảng ó ph i là b tham m u, đ ả ộ ư đội tiên phong c a giai ủ

c p công nhân, trung thành v i l i ích c a giai c p công nhân và dân t c, ấ ớ ợ ủ ấ ộ Đảng ó ph i là đ ả

ng ki u m i c a giai c p công nhân Ch ngh a Mác Lênin c truy n bá, thâm nh p

vào Vi t Nam tr thành nhân t quan tr ng d n t i s ra ệ ở ố ọ ẫ ớ ự đờ ủ Đải c a ng

+ N m 1920, Nguy n Ái Qu c ã tìm th y con ă ễ ố đ ấ đường c u nứ ướ đc úng đắn cho dân t c Vi t ộ ệNam : c u nứ ước theo con đường cách m ng c a ch ngh a Mác Lênin T n m 1921 ạ ủ ủ ĩ ừ ă đến

1930, Ngườ đi ã tích c c ho t ự ạ động truy n bá ch ngh a Mác Lênin vào Vi t Nam Nh ề ủ ĩ ệ ờ

nh ng óng góp thi t th c c a Ngữ đ ế ự ủ ười : xu t b n báo chí, vi t bài, báo cáo tham lu n ấ ả ế ậ đặc

bi t là hai tác ph m n i ti ng B n án ch ệ ẩ ổ ế ả ế độ ự th c dân Pháp và Đường Kách m nh nh ng t ệ ữ ư

tưởng c a ch ngh a Mác Lênin ã ngày càng ủ ủ ĩ đ được thâm nh p r ng rãi vào Vi t Nam ậ ộ ệThông qua vi c sáng l p t ch c H i Vi t Nam cách m ng thanh niên và các ho t ệ ậ ổ ứ ộ ệ ạ ạ động c a ủ

nó, Nguy n Ái Qu c ã th c hi n ễ ố đ ự ệ được vi c truy n bá và giáo d c ch ngh a Mác Lênin cho ệ ề ụ ủ ĩ

qu n chúng lao ầ động và giai c p công nhân Vi t Nam.ấ ệ

+ Qua ó, vai trò c a ch ngh a Mác Lênin ã đ ủ ủ ĩ đ được th hi n : nh ng t tể ệ ữ ư ưởng v cách ề

m ng gi i phóng dân t c và cách m ng XHCN ã th c t nh nh ng ngạ ả ộ ạ đ ứ ỉ ữ ười Vi t Nam hệ ướng theo con đường cách m ng úng ạ đ đắ đn, ó là con đường cách m ng vô s n ; ạ ả Đảng C ng s n ộ ả

là l c lự ượng lãnh đạo cách m ng dân t c dân ch và cách m ng XHCN ; xác nh úng v n ạ ộ ủ ạ đị đ ấ

ng l c cách m ng, liên minh giai c p ; v trí c a cách m ng thu c a, ph ng pháp

cách m ng b o l c ; ó là c s lí lu n cho cạ ạ ự đ ơ ở ậ ương l nh cách m ng c a ĩ ạ ủ Đảng sau này

Nh có ch ngh a Mác Lênin mà phong trào công nhân ã chuy n t t phát sang t giác ờ ủ ĩ đ ể ừ ự ự

S l n m nh c a phong trào công nhân òi h i ph i có m t chính ự ớ ạ ủ đ ỏ ả ộ Đảng duy nh t và th ng ấ ố

nh t lãnh ấ đạo Phong trào công nhân là i u ki n c b n, quy t nh d n t i s ra đ ề ệ ơ ả ế đị ẫ ớ ự đờ ủi c a

ng u th k XX, giai c p công nhân Vi t Nam ã c hình thành và b c vào tr n

tuy n ế đấu tranh ch ng áp b c, bóc l t Trố ứ ộ ước Chi n tranh th gi i th nh t, phong trào côngế ế ớ ứ ấnhân ch a tr thành l c lư ở ự ượng riêng bi t, còn hoà l n vào phong trào dân t c T sau Chi nệ ẫ ộ ừ ếtranh th gi i th nh t ế ớ ứ ấ đến 1925, giai c p công nhân ấ đượ ăc t ng cường v s lề ố ượng và ch t ấ

Trang 3

lượng, phong trào công nhân ã trđ ưởng thành, xu t hi n nh ng cu c bãi công l n òi các ấ ệ ữ ộ ớ đquy n l i v kinh t , chính tr , tr thành l c lề ợ ề ế ị ở ự ượng riêng bi t và bệ ướ đầc u xu t hi n nh ng tấ ệ ữ ổ

ch c s khai T n m 1926 – 1930, do ti p thu ứ ơ ừ ă ế được ch ngh a Mác Lênin, phong trào côngủ ĩnhân ã phát tri n d n lên trình đ ể ầ độ ự t giác v i s xu t hi n c a ba t ch c c ng s n trong ớ ự ấ ệ ủ ổ ứ ộ ả

n u th k XX, các phong trào yêu n c tiêu bi u ã xu t hi n : phong trào nông dân và

phong trào C n vầ ương T n m 1919 ừ ă đến 1930, phong trào yêu nước Vi t Nam phát tri n ệ ểtheo hai khuynh hướng rõ r t : khuynh hệ ướng t s n và khuynh hư ả ướng vô s n.ả

( ) Khuynh hướng t s n : bao g m các phong trào c a giai c p t s n và ti u t s n, tiêu ư ả ồ ủ ấ ư ả ể ư ả

bi u nh : Phong trào ch n h ng n i hoá, bài tr ngo i hoá, ch ng ể ư ấ ư ộ ừ ạ ố độc quy n c ng Sài ề ảGòn ; nh ng phong trào mít tinh, bi u tình c a t ng l p ti u t s n : phong trào òi th ữ ể ủ ầ ớ ể ư ả đ ảPhan B i Châu, phong trào truy i u Phan Châu Trinh và nh cao là cu c kh i ngh a Yên ộ đ ệ đỉ ộ ở ĩBái do Vi t Nam qu c dân ệ ố đảng phát động Các phong trào theo khuynh hướng t s n di nư ả ễ

ra r t sôi n i, anh d ng nh ng k t qu cu i cùng ấ ổ ũ ư ế ả ố đều th t b i.ấ ạ

( ) Khuynh hướng vô s n : Do nh hả ả ưởng c a Cách m ng tháng Mủ ạ ười Nga và nh ng ho t ữ ạ

ng truy n bá ch ngh a Mác Lênin c a Nguy n Ái Qu c trong nh ng n m 1920 – 1930,

phong trào theo khuynh hướng vô s n ngày càng phát tri n m nh m , i n hình nh t là các ả ể ạ ẽ đ ể ấ

ho t ạ động c a các t ch c H i Vi t Nam cách m ng thanh niên và Tân Vi t cách m ng ủ ổ ứ ộ ệ ạ ệ ạ

ng, ã có nhi u thanh niên yêu n c c giác ng tr thành ng viên c ng s n

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sảnxuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Trang 5

4 Tại sao Đảng chủ trương: Con đường Công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Để rút ngắn thời gian chúng ta cần phải đảm bảo những yêu cầu nào.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong khi chưa qua phát triển chủ nghĩa tư bản Đây không phải là hiện tượng rút ngắn đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại, nhưng chúng ta là một trong những quốc gia đầu tiên xác định và kiên trì sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến.

Phát triển rút ngắn bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội hay phát triển rút ngắn từng giai đoạn trong bản thân một hình thái tự thân nó là một quá trình hợp lý và phù hợp với lịch sử tự nhiên

Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế còn lạc hậu so với thế giới hiện đại, nên để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trước mắt là tránh nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình, đòi hỏi Việt Nam phải tạo ra được sự phát triển mạnh mẽ, vượt cấp của lực lượng sản xuất Muốn vậy, điều quan trọng trước hết là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Về mặt kinh tế, có thể nói cốt lõi của

sự phát triển rút ngắn tại Việt Nam, chính là rút ngắn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã cho thấy, không ít nền kinh tế đã thực hiện thành công việc rút ngắn tiến trình công nghiệp hóa như Phần Lan, Nhật Bản và Hàn Quốc Nếu như Tây Âu phải đi qua chặng đường gần 5 thế kỷ (vào cuối thế kỷ XIV khởi đầu chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu), thì với Nhật Bản chỉ mất 100 năm đã sánh ngang với các quốc gia tư bản Tây Âu về trình độ phát triển kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa rút ngắn Với định hướng sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nền kinh tế chậm phát triển với mục tiêu đặt ra đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, rõ ràng cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, thực hiện phát triển rút ngắn Và trong thời đại toàn cầu hóa, tri thức hóa nền kinh tế hiện nay, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa và dựa trên nền kinh tế tri thức.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn đối với Việt Nam hiện nay không chỉ là rút ngắn thời gian của quá trình vươn lên trình độ hiện đại của thế giới mà còn phải có phương thức phù hợp cho phép đi tắt đón đầu, thông qua các bước quá độ, hoặc vượt qua một số bước tuần tự để đi thẳng lên hiện đại Quá trình rút ngắn này phải bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong phát triển, tức là phải bảo đảm tính bền vững trong phát triển Để rút ngắn thời gian, đương nhiên phải tạo được tốc độ phát triển nhanh Phát triển nhanh trên cơ sở huy động các nguồn lực nội tại và tận dụng các cơ hội thông qua giao lưu hội nhập quốc

tế Chỉ có phát triển nhanh mới bảo đảm thu hẹp khoảng cách với các nước hiện có trình

độ phát triển hơn chúng ta Trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển cần tránh khuynh hướng “say tốc độ”, tức là tăng trưởng mà không chú ý đến hiệu quả.

Cùng với tốc độ phát triển, cần có phương thức phù hợp tìm ra con đường đi tắt mới bảo đảm nhanh chóng theo kịp các nước đi trước Chẳng hạn về mặt công nghệ có thể thông qua hình thức du nhập công nghệ, trên cơ sở đó tiếp cận các công nghệ hiện đại, tạo ra sự phát triển nhanh và mạnh của lực lượng sản xuất Bên cạnh đó tiếp cận các hình thức tổ

Trang 6

chức sản xuất tiên tiến phù hợp với sự phát triển mới của sức sản xuất, tạo cơ sở cho việc

hạ giá thành và nâng cao hơn năng xuất lao động Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh là cơ

sở để giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường… Song cũng chính do tăng trưởng nhanh

đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường… Như vậy cần có cơ chế bảo đảm cho việc đi liền với tăng trưởng phải bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện môi trường Nói cách khác, công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn nhưng bền vững Bền vững về cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và con người

5 Hãy lý giải tại sao Đảng ta tiến hành đồng thời 2 quá trình CNH HĐH Theo em VN cần phải làm gì để bắt kịp trình độ phát triển của các nước trên TG.

6 Chứng minh kinh tế thị trường định hướng xhcn là con đường phát triển tất yếu để đưa nước ta tiến tới mục tiêu dân giàu nc mạnh, dân chủ công bằng văn minh ?

7 Thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xhcn? Có ý kiến cho rằng kt thị trg định hướng xhcn là sự gán ghép chủ quan giữa kt thị trg và cnxh E hãy bình luận ý kiến trên? Theo e đó là sự gắn kết chủ quan hay là động lực của sự pt

ng ta ã th ng nh t nh n th c v n n kinh t th tr ng nh h ng XHCN Vi t

Nam: “ ó là n n kinh t th tr Đ ề ế ị ườ ng hi n ệ đạ i và h i nh p qu c t ; có s qu n lý c a ộ ậ ố ế ự ả ủ Nhà n ướ c pháp quy n XHCN, do ề Đả ng C ng s n Vi t Nam lãnh ộ ả ệ đạ o, nh m m c ằ ụ tiêu dân giàu, n ướ c m nh, dân ch , công b ng, v n minh; có quan h s n xu t ti n ạ ủ ằ ă ệ ả ấ ế

b phù h p v i trình ộ ợ ớ độ phát tri n c a l c l ể ủ ự ượ ng s n xu t; có nhi u hình th c s ả ấ ề ứ ở

h u, nhi u thành ph n kinh t , trong ó kinh t nhà n ữ ề ầ ế đ ế ướ đ c óng vai trò ch ủ đạ o, kinh

t t nhân là m t ế ư ộ độ ng l c quan tr ng c a n n kinh t ; các ch th thu c các thành ự ọ ủ ề ế ủ ể ộ

ph n kinh t bình ầ ế đẳ ng, h p tác và c nh tranh theo pháp lu t; th tr ợ ạ ậ ị ườ ng óng vai trò đ

ch y u trong huy ủ ế độ ng và phân b các ngu n l c phát tri n, là ổ ồ ự ể độ ng l c ch y u ự ủ ế để

gi i phóng s c s n xu t; các ngu n l c nhà n ả ứ ả ấ ồ ự ướ đượ c c phân b theo chi n l ố ế ượ c, quy ho ch, k ho ch phù h p v i c ch th tr ạ ế ạ ợ ớ ơ ế ị ườ ng.

Kinh tế thị trường và CNXH hoàn toàn không mâu thuẫn nhau Kinh tế thị trường không phải là cái riêng

có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu chung của nhân loại, nó được tồn tại và phát triển qua cácphương thức sản xuất khác nhau Dưới chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường được coi là mục tiêu Vì vậy,

họ lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh,chiếm đoạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt Vai trò của chủ nghĩa tư bản trong cơn lốc toàn cầu hóa kinh

tế đã đe dọa lợi ích đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới Tự cho mình quyền tự do chiếm đoạt, tự

do xâm lược, tự do bóc lột, tự do khủng bố, tự do phân biệt chủng tộc…Bất chấp tất cả miễn sao chiếm

Trang 7

đoạt được nhiều lợi nhuận Đối với chúng ta coi kinh tế thị trường là phương tiện, cách thức để xây dựng

cơ sở vật chất cho CNXH gắn chặt với việc không ngừng nâng cao đời sống toàn diện của nhân dân,tuyệt nhiên không phải là mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như CNTB đã làm Vậy thìkinh tế thị trường và CNXH làm gì có mâu thuẫn

Thực chất của quan điểm này chính là tìm mọi cách để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước,tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, xóa bỏ định hướng XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH ở nước ta Nếu không cókinh tế Nhà nước đủ mạnh thì lấy gì để hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác vươn lên đứng vữngtrong cạnh tranh với các đối tác nước ngoài xây dựng một nền kinh tế phát triển thống nhất trong đadạng, hội nhập toàn cầu hiện nay ở nước ta Ngay cả các nước tư bản chủ nghĩa, kinh tế Nhà nước luônđóng vai trò là “ bà đỡ”, “người cứu tử” đối với các doanh nghiệp khi họ rơi vào tình trạng khó khăn, cónguy cơ sụp đổ, làm chao đảo nền kinh tế quốc dân như: (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) trong những nămgần đây, đã không dưới hai lần Nhà nước của các quốc gia này phải dùng sức mạnh kinh tế của mình đểcứu lấy hàng trăm công ty trên các lĩnh vực kinh tế quan trọng của họ lâm vào cảnh phá sản, đổ vỡ trước

“cơn bão tài chính” năm 2008 và các vụ thăng trầm của thị trường chứng khoán thế giới những năm qua.Đối với Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước luôn luônkhuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển, hợp tác cạnh tranhbình đẳng Xin hỏi ông Do: hãy đánh giá một cách vô tư xem đã có mấy doanh nghiệp tư nhân trongnước hay nước ngoài đầu tư vào phát triển các ngành kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng quan trọng như cácnhà máy thủy điện ở vùng sâu, vùng xa Khi hàng loạt “cơn sốt ác tính” của thị trường bất động sản, ximăng, sắt thép… đồng loạt bùng phát, tưởng như không vượt qua, có nguy cơ tàn phá kinh tế đất nước,trước nguy cơ đó đã có mấy ông kinh tế tư nhân ra tay cứu trợ, nếu không phải là kinh tế Nhà nước gánhvác thành công trọng trách đầy cam go đó Trong việc giải quyết những vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, cóông kinh tế tư nhân nào sẵn sàng vô tư nhảy vào làm những việc cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự tàn phákhốc liệt của thiên tai không ? Trên thực tế, việc đó chỉ có thể được giải quyết tốt, khi kinh tế Nhà nướcchủ động ra tay giải quyết Vậy thì tại sao “vai trò chủ đạo lại không thuộc về kinh tế Nhà nước”

Mô hình kinh t th tr ế ị ườ ng nh h đị ướ ng XHCN không ph i là s gán ghép ch quan gi a ả ự ủ ữ kinh t th tr ế ị ườ ng và CNXH, mà là s n m b t và v n d ng xu th v n ự ắ ắ ậ ụ ế ậ độ ng khách quan

c a kinh t th tr ủ ế ị ườ ng trong th i ờ đạ i ngày nay.

Th c ti n ã cho th y, nh ng ph ự ễ đ ấ ữ ươ ng án và mô hình phát tri n kinh t th tr ể ế ị ườ ng khác nhau mang tính đặ c thù, ph thu c vào nh ng i u ki n xác nh, hoàn c nh phát tri n c ụ ộ ữ đ ề ệ đị ả ể ụ

th c a qu c gia - dân t c ể ủ ố ộ

M t qu c gia i sau không nh t thi t ph i v n d ng c ng nh c các nguyên lý lý lu n; c ng ộ ố đ ấ ế ả ậ ụ ứ ắ ậ ũ không nh t thi t ph i r p khuôn các mô hình kinh t th tr ấ ế ả ậ ế ị ườ ng có s n âu ó, dù là mô ẵ ở đ đ hình hi u qu , ệ ả để ả gi i quy t các v n ế ấ đề phát tri n mang nhi u nét ể ề đặ c thù c a mình ủ

ng C ng s n Vi t Nam trên c s nh n th c tính quy lu t phát tri n c a th i i và s

Trang 8

8 Phân tích những mặt tích cực và hạn chế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp? Thế nào là kt thị trg định hướng xhcn? Hãy phân tích để làm rõ tính định hg xhcn trg kt thị trg ở VN?

Trang 9

Theo chúng tôi, n i dung c a nh h ộ ủ đị ướ ng xã h i ch ngh a trong phát tri n kinh t th ộ ủ ĩ ể ế ị

tr ườ ng Vi t Nam ở ệ đượ c th hi n nh sau: ể ệ ư

- Phát tri n kinh t th tr ể ế ị ườ ng ph i nh m góp ph n th c hi n m c tiêu phát tri n ả ằ ầ ự ệ ụ ể đấ t

n ướ c là t ng b ừ ướ c quá độ lên ch ngh a xã h i, làm cho “dân giàu, n ủ ĩ ộ ướ c m nh, dân ạ

ch , công b ng, v n minh, do nhân dân làm ch ” ủ ằ ă ủ

B ng phát tri n kinh t th tr ằ ể ế ị ườ ng hi n ệ đạ ừ i, t ng b ướ ạ ậ c t o l p nh ng c s kinh t k ữ ơ ở ế ỹ thu t c n thi t cho phát tri n ậ ầ ế ể đấ ướ t n c theo h ướ ng hi n ệ đạ i trong nhi u th p niên ề ậ

Trang 10

t i, tr ớ ướ c m t là ắ đế n n m 2020 v c b n tr thành n ă ề ơ ả ở ướ c công nghi p theo h ệ ướ ng

hi n ệ đạ đế i, n gi a th k này tr thành n ữ ế ỷ ở ướ c công nghi p hi n ệ ệ đạ i Ch có trên c ỉ ơ

s ó m i làm cho dân giàu, n ở đ ớ ướ c m nh, có i u ki n kinh t ạ đ ề ệ ế để ả gi i quy t t t ế ố

nh ng v n ữ ấ đề dân ch , công b ng, v n minh, nhân dân làm ch ủ ằ ă ủ

- Gi i quy t t t nh ng m i quan h l n trong quá trình th c hi n m c tiêu phát tri n ả ế ố ữ ố ệ ớ ự ệ ụ ể

t n c t ng giai o n quá lên ch ngh a xã h i.

Nh ng m i quan h l n này ph i c u thành nh ng nguyên t c ph n ánh ữ ố ệ ớ ả ấ ữ ắ ả đặ c thù

qu c gia trong phát tri n và qu n lý n n kinh t th tr ố ể ả ề ế ị ườ ng nh h đị ướ ng xã h i ch ộ ủ ngh a Vi t Nam ó là quan h hài hòa gi a ĩ ở ệ Đ ệ ữ đổ i m i, n nh và phát tri n ớ ổ đị ể đấ t

n ướ c; gi a ữ đổ i m i kinh t và ớ ế đổ i m i chính tr ; gi a xây d ng và b o v T qu c; ớ ị ữ ự ả ệ ổ ố

v và làm giàu môi tr ệ ườ ng theo yêu c u phát tri n b n v ng ầ ể ề ữ

- B o ả đả m hi u l c và hi u qu qu n lý c a Nhà n ệ ự ệ ả ả ủ ướ c pháp quy n Vi t Nam c a ề ệ ủ dân, do dân và vì dân d ướ ự i s lãnh đạ o c a ủ Đả ng C ng s n Vi t Nam trong quá ộ ả ệ trình phát tri n ể đấ ướ t n c nói chung và phát tri n kinh t th tr ể ế ị ườ ng hi n ệ đạ i.

Nhà n ướ c pháp quy n Vi t Nam c a dân, do dân và vì dân d ề ệ ủ ướ ự i s lãnh đạ o c a ủ

ng C ng s n Vi t Nam là m t thành t n i t i c a mô hình kinh t th tr ng nh

h ướ ng xã h i ch ngh a Vi t Nam ây là cái ộ ủ ĩ ở ệ Đ đặ c thù, riêng có c a n n kinh t th ủ ề ế ị

tr ườ ng Vi t Nam và ph n ánh s khác bi t v b n ch t so v i nh ng n n kinh t ở ệ ả ự ệ ề ả ấ ớ ữ ề ế

th tr ị ườ ng khác trên th gi i Nâng cao hi u l c, hi u qu qu n lý c a Nhà n ế ớ ệ ự ệ ả ả ủ ướ c pháp quy n Vi t Nam c a dân, do dân và vì dân d ề ệ ủ ướ ự i s lãnh đạ o c a ủ Đả ng có b n ả

l nh và trí tu ĩ ệ đồ ng th i c ng là nhân t quan tr ng nh t ờ ũ ố ọ ấ để ả đả đị b o m nh h ướ ng xã

h i ch ngh a trong phát tri n kinh t th tr ộ ủ ĩ ể ế ị ườ ng Vi t Nam ở ệ

9 Tại sao Đảng ta khg định đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa ? Là đội ngũ tri thức hoạt động trg lĩnh vực kt trg tương lai, a/c cần phải làm gì để phát huy vai trò của mình trg xd và pt nền vh ?

Trong xu thế phát triển của nhân loại nói chung và của nền kinh tế tri thức nói riêng hiện nay, lao động trí óc đang ngày càng chiếm ưu thế, lao động chân tay đang thu hẹp dần Nhiều quá trình sản xuất ra của cải vật chất xã hội được tự động hóa, tin học hóa, đòi hỏi người sản xuất phải có trình độ tri thức, chuyên môn cao, làm việc theo phương thức sáng tạo Do vậy, tầng lớp trí thức đang phát triển nhanh chóng và chắc chắn sẽ trở thành bộ phận dân cư lớn, không những về số lượng mà cả vai trò, sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến diễn tiến chính trị, kinh tế, xã hội Đồng thời,

họ sẽ là những người tạo ra phần lớn nhất của cải xã hội.

Trang 11

Mặt khác, trong nền kinh tế tri thức, ranh giới của tầng lớp trí thức với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội cũng không còn tách biệt rõ ràng như trước đây Đã xuất hiện những bộ phận của giai cấp công nhân, nông dân và của các tầng lớp khác được trí thức hóa, lao động theo những đặc điểm của lao động trí thức Chính vì thế, quan niệm về trí thức và giới trí thức cũng đã thay đổi, không còn nguyên nghĩa như trước đây, khi mà công nghệ thông tin chưa ra đời.

Cho dù quan niệm về trí thức có thể thay đổi do sự vận động của các điều kiện lịch sử xã hội, thì trong xã hội thời nào cũng vậy, tầng lớp tri thức đều có 5 vai trò chủ yếu là:

- Tiếp thu và truyền bá tri thức;

- Sáng tạo các giá trị mới của tri thức;

- Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương, chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội;

- Dự báo phát triển và định hướng dư luận xã hội;

- Tham gia gián tiếp và trực tiếp vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.

Cùng với những vai trò quan trọng kể trên, tầng lớp trí thức còn là bộ phận người rất nhạy cảm,

có uy tín lớn cũng như tầm ảnh hưởng rộng trong xã hội Những đặc điểm này của trí thức là do những điều kiện khách quan và vị trí của tầng lớp trí thức trong xã hội Trước hết, đây là bộ phận

người có trình độ học vấn cao nhất của xã hội Họ cũng là những người có điều kiện thuận lợi

trong việc tiếp nhận sớm nhất, nhiều nhất, nhanh nhất những thông tin xã hội Những lời nói, hành vi của một cá nhân trí thức, đôi khi có thể ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội, thậm chí có thể tạo nên những phản ứng phức tạp liên quan đến an ninh trật tự của một địa phương hoặc cả nước.

Hoạt động của tầng lớp trí thức ngày nay ngày càng gắn bó với thị trường Kết quả lao động của trí thức, dưới những hình thức khác nhau đều trở thành hàng hóa Ngay cả chất xám của trí thức cũng dần dần bị chi phối, tác động bởi những quy luật thị trường Đến lượt nó, sự nảy nở của ý thức thị trường lại kích thích hoạt động sáng tạo của trí thức, góp phần cho sự phát triển của xã hội và giúp cải thiện đời sống của họ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và sự tác động của cơ chế thị trường, vai trò chính trị, vị trí xã hội, địa vị kinh tế của tầng lớp trí thức cũng đang thay đổi nhanh chóng Họ không còn chỉ là người tham mưu, đứng bên lề các tiến trình kinh tế, xã hội, mà đã trực tiếp tham gia và giữ vai trò quan trọng trong các tiến trình đó Vì thế, quan niệm về giá trị trong tầng lớp trí thức ngày càng đa dạng hóa, giàu tính hiện thực hơn.

Như vậy, xét từ tất cả các bình diện như đặc điểm, vai trò, vị trí xã hội đều có thể thấy rằng, việc

xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức không chỉ có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm nguồn lực con người cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong toàn bộ chiến lược xây dựng và phát triển đất nước.

Trang 12

10 Phân tích quan điểm gắn tăng trưởng kt vs tiến bộ và công bằng xh trong từng bc và từng chính sách pt

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Nội hàm tăng trưởng kinh tế là tăng lên về số lượng trong một thời gian nhất định, khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ chất lượng của sự tăng trưởng.

Tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minh hiện đại Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát từ con người, vì con người và hướng tới sự tiến bộ của con người Sự tiến bộ xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở

hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội.

Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia Công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường cong Lorenz; Hệ số GINI; mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là thước đo của tiến bộ và công bằng xã hội; tiến bộ, công bằng xã hội là nhân tố động lực để có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; tiến bộ, công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế Như vậy, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội không phải là những yếu tố đối lập mà có quan hệ nhân quả với nhau.

Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọi thời đại Tuy nhiên, việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn và trong thực tiễn đã có những ý kiến cho rằng có sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội Giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn luôn là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước Bài toán đặt ra hiện nay đối với các quốc gia là thực hiện tăng trưởng kinh tế trước, sau đó mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội hay đặt tiến bộ và công bằng xã hội lên trước, sau đó mới chú trọng cho việc tăng trưởng kinh tế hay giải quyết hài hòa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội? Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy không thể thực hiện tiến bộ hay công bằng xã hội trước nếu như không bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao, liên tục theo hướng phát triển bền vững Mặt khác, nếu sự tăng trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng trưởng này cũng không có ý nghĩa Những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Mặt khác, những chính sách dựa trên ưu tiên mục tiêu tiến bộ

Trang 13

và công bằng xã hội có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế, kết cục cả mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế đều không thực hiện được.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của các nhà kinh điển Mác Lê-nin trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Người khẳng định mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, làm cho đời sống của người dân ngày càng đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc Đời sống vật chất, theo Người, trước hết giải quyết vấn đề ăn, mặc, nhà ở, chữa bệnh Đời sống tinh thần, theo Hồ Chí Minh, trước hết

-là bảo đảm học hành cho mọi người Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Xuất phát

từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, điều này chi phối quan điểm phân phối Để bảo đảm tính công bằng trong phân phối, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ phải chí công, vô tư Người quan tâm đến vấn đề phúc lợi xã hội, tuy nhiên theo Người, phúc lợi phải gắn với hiệu quả sản xuất Như vậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được xem xét trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Mục đích của xây dựng kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần cho nhân dân; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội một cách khoa học Đảng ta cho rằng, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội, không thể có công bằng, tiến bộ xã hội nếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế Mặt khác, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là động lực, điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững Mỗi bước tiến của tăng trưởng kinh tế gắn với việc từng bước thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội ở từng giai đoạn phát triển của đất nước Đại hội X của Đảng khẳng định: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục , giải quyết tốt các vấn đề

-xã hội vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội".

2 - Thực tiễn giải quyết quan hệ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Những thành tựu đạt được

Thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986), quá trình đổi mới tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng Ba trụ cột chính của đổi mới tư duy, nhất là

tư duy kinh tế, là: Thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện bước chuyển

từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện chính sách mở cửa, tích cực chủ động hội nhập kinh tế

Trang 14

quốc tế Những tư duy này được phát triển qua các đại hội Đảng tạo nên tính năng động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, huy động các nguồn lực phát triển kinh tế Hình thành cơ chế chính sách, huy động các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và người lao động phát triển sản xuất kinh doanh, xem mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận; khẳng định chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo Chúng ta khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu nhằm phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững Thực hiện sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa Xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta đã khẳng định chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm tạo điều kiện cho mọi người với tư cách từng cá nhân và cả cộng đồng đều có cơ hội phát triển, sử dụng tốt năng lực của mình Trong nhiệm kỳ Đại hội X, Trung ương Đảng đã xây dựng

và ban hành các nghị quyết về giai cấp công nhân, về tầng lớp trí thức, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đồng thời xác định nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, xây dựng đội ngũ các doanh nhân Việt Nam có trình độ, bản lĩnh thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Các chủ trương, quan điểm của Đảng đã được Chính phủ thể chế hóa thành các chính sách, kế hoạch, chương trình dự án cụ thể để đưa vào cuộc sống Nhờ vậy, qua gần 25 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Điểm quan trọng là đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể đã chuyển sang tinh thần năng động, chủ động và tích cực xã hội của tất cả các tầng lớp dân cư Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu tượng; thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân, cào bằng, đã từng bước thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Nhờ vậy, công bằng xã hội được thể hiện ngày một rõ hơn Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm

đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động tham gia tạo việc làm Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã

đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm về việc xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh Đã coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học

và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện để ai cũng được học hành; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo.

Trang 15

Nhờ đổi mới tư duy về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội nên kinh tế tăng trưởng khá nhanh và liên tục trong nhiều năm Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 - 2008, Việt Nam vẫn là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá và là một trong số ít nước có tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2009 Việt Nam sớm khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế và có nhiều triển vọng tiếp tục tăng trưởng kinh tế khá cao trong những năm tiếp theo Bảng sau đây cho chúng ta thấy điều đó:

Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

xã hội có xu hướng được cải thiện rõ rệt Chỉ số HDI đo sự tiến bộ trung bình của một nước về phát triển con người bao gồm tuổi thọ, trình độ dân trí và thu nhập GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 2007 đã lên tới 0,725, tăng hơn so với năm 2006 (đạt 0,709) và thứ hạng HDI của Việt Nam được cải thiện 4 bậc (từ thứ 109/177 lên 105) Chỉ số phát triển con người của Việt Nam cao hơn một số nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn nước ta.

Nhìn chung, sau gần 25 năm đổi mới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải quyết một cách khá hiệu quả Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Những mặt còn hạn chế

Thách thức đặt ra về tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội cho Việt Nam hiện nay là rất to lớn và phức tạp bởi tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dưới tiềm năng và thiếu bền vững; chủ yếu dựa trên xuất khẩu và các yếu tố tài nguyên; chất lượng thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế chậm được cải thiện Trong 3 năm qua, theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam liên tục bị giảm bậc, chỉ số cạnh tranh của môi trường kinh doanh cũng ở thứ hạng thấp Tỷ lệ nghèo đói so với chuẩn thế giới còn lớn Những mặt trái của cơ chế thị trường đang làm nảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp như: phân hóa giàu nghèo gia tăng; sự cách biệt

Trang 16

về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền; sự gia tăng các tệ nạn xã hội; môi trường sinh thái ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng ảnh hưởng đến các thế hệ mai sau Điều này đòi hỏi phải có sự kết hợp hiệu quả giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, kết hợp ngay từ đầu và trong từng bước phát triển giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ

Quan điểm cụ thể:

Một là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; tiến bộ,

công bằng xã hội là động lực cho tăng trưởng kinh tế cao, ổn định.

Hai là, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là hai nhân tố chủ lực của phát triển bền

vững.

Ba là, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa, bảo đảm các quyền con người và bảo vệ

môi trường.

Bốn là, không có công bằng tuyệt đối và cần phải xóa bỏ chủ nghĩa cào bằng, bình quân.

Trên cơ sở quan điểm tổng quát xin nêu ra một số nguyên tắc chỉ đạo nhằm thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011 -

2020 như sau:

- Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội được thực hiện ngay trong từng quá trình phát triển và từng giai đoạn phát triển Điều này phải thể hiện trong hành động thực tiễn cụ thể, trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương, không dừng ở chủ trương, cơ chế, chính sách Phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ.

- Thống nhất chính sách phát triển kinh tế và chính sách xã hội Do vậy, mỗi chính sách phát triển kinh tế phải đồng thời hướng tới thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội Ngược lại, mỗi chính sách xã hội phải tạo điều kiện thúc đẩy cao nhất cho sự phát triển kinh tế, mối quan hệ hữu cơ này được giải quyết hài hòa sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói riêng, nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư nói chung.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân có quyền tiếp cận các thông tin và các dịch vụ xã hội

cơ bản nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần cải thiện đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội Muốn vậy, phải rà soát hệ thống chính sách và các thể chế bảo đảm minh bạch, bình đẳng, dễ thực hiện đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Trang 17

Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cần tập trung vào những giải pháp về cơ chế, chính sách chủ yếu sau:

Thứ nhất, hoàn thiện mô hình tổng quát giai đoạn 2011 - 2020 Mô hình phát triển kinh tế Việt

Nam lựa chọn trong giai đoạn tới là mô hình phát triển toàn diện, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế và tiến bộ, công bằng xã hội Nội dung chính của mô hình này là thực hiện việc kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với công bằng xã hội ngay từ đầu khi xây dựng, thực thi chính sách kinh tế,

xã hội và trong toàn bộ tiến trình phát triển Phát triển kinh tế của Việt Nam là quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa cả ba mặt là kinh tế, xã hội và môi trường.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng tạo sự

thống nhất về nhận thức và hành động Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng nhằm giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phát triển kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, với hai khu vực kinh tế là nhà nước và dân doanh Khuyến khích làm giàu hợp pháp

đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, từng bước làm cho mọi thành viên trong xã hội đều có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc.

Thứ ba, xây dựng và thực thi chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội Thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế

đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội

vì mục tiêu phát triển con người.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách phân phối Chính sách phân phối và phân phối lại phải bảo đảm

lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội

Thứ năm, đổi mới chính sách phúc lợi xã hội Mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành hệ

thống chính sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc Đây là một trong những chỉ báo quan trọng của một xã hội công bằng và văn minh

Ngày đăng: 16/09/2019, 13:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w