1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH lớp ĐẢNG VIÊN mới

52 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thu Hoạch Lớp Bồi Dưỡng Đảng Viên Mới
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trường học Trường THCS Yên Trung
Thể loại bài thu hoạch
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 76,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thu hoạch lớp đảng viên mới, sau khi học xong các lớp bồi dưỡng Đảng viên mới của trung tâm chính trị huyện: 1. Những điểm mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa, và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Đại hội XIII) đã đề ra những quan điểm, chủ trương toàn diện về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết toàn dân tộc. Quan điểm này vừa kế thừa, vừa bổ sung, phát triển lên một tầm mới và ngày càng hoàn thiện hơn những quan điểm mà Đảng ta đã xây dựng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. a) Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật đảm bảo”. Đây là những quan điểm được tổng kết, có tính khái quát cao về dân chủ, khẳng định bản chất của chế độ xã hội ta là “dân chủ” và “nhân dân làm chủ”, trở thành một trong tám đặc trưng của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Các văn bản quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội cũng tiếp tục khẳng định quan điểm này. Hiến pháp năm 2013 được ban hành với nhiều điểm mới, trong đó có vấn đề liên quan đến dân chủ, quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống các văn bản pháp luật về dân chủ trong hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước được cụ thể hóa và thể chế hóa. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Đại hội XII khẳng định, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng”; “Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế”. Quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước được quan tâm. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội.

Trang 1

HUYỆN ỦY YÊN PHONG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAMTRUNG TÂM BD CHÍNH TRỊ

BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG ĐẢNG VIÊN MỚI

Lớp K2 – Năm 2021

Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Ngọc

Ngày sinh: 30/03/1996

Quê quán: Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội

Đơn vị công tác: Trường THCS Yên Trung

Ngày kết nạp Đảng: 25/06/2021

Câu 1: Nghiên cứu văn kiện Đại hội XIII của Đảng:

1. Những điểm mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa, và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Đại hội XIII) đã đề ra nhữngquan điểm, chủ trương toàn diện về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoànkết toàn dân tộc Quan điểm này vừa kế thừa, vừa bổ sung, phát triển lên một tầmmới và ngày càng hoàn thiện hơn những quan điểm mà Đảng ta đã xây dựng trongsuốt quá trình lãnh đạo cách mạng

a) Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ

ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Xây dựng và từngbước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiệntrong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷluật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật đảm bảo”.Đây là những quan điểm được tổng kết, có tính khái quát cao về dân chủ, khẳngđịnh bản chất của chế độ xã hội ta là “dân chủ” và “nhân dân làm chủ”, trở thànhmột trong tám đặc trưng của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xâydựng Các văn bản quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị - xã hội cũng tiếp tục khẳng định quan điểm này Hiến pháp năm

2013 được ban hành với nhiều điểm mới, trong đó có vấn đề liên quan đến dân

Trang 2

chủ, quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân Hệ thống các văn bản phápluật về dân chủ trong hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước được cụ thểhóa và thể chế hóa.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Đại hội XII khẳng định, “Dân chủ xãhội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng”; “Quyền làm chủ của nhândân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủtrực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế” Quyềnlàm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn, hệ trọng của đấtnước được quan tâm Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa

vụ của công dân; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội.Tuy nhiên, dân chủ hóa trong các lĩnh vực chưa đồng bộ với yêu cầu đổi mới đấtnước Còn nhiều hạn chế trong tổ chức thực hiện Một số nội dung về dân chủ,quyền con người chưa được cụ thể hóa thành luật, chính sách; nhận thức của một

số cấp ủy, chính quyền về dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa đầy

đủ Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dânchủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương phápluật Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện về quan điểm, chủ trương cũng như

tổ chức thực hiện trong nhiệm kỳ Đại hội XIII…

Đại hội XIII xác định phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân với những điểm mới sau:

Một là, bổ sung nội dung, phương châm thực hiện dân chủ, như thêm “dân giám

sát, dân thụ hưởng” trong phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,dân giám sát, dân thụ hưởng” Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hànhdân chủ theo tinh thần Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến phápnăm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Thực hiện đúngđắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở Làmtốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giámsát, dân thụ hưởng”

Hai là, xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ

quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ Đảng vàNhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chínhtrị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Cấp ủy, tổchức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, côngchức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức

xã hội

Trang 3

Ba là, khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược

phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nền tảng chính trị,pháp lý để nhân dân thực hiện quyền làm chủ Điều đó đòi hỏi phải phát huy tínhtích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xâydựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ,công chức

Bốn là, nêu rõ yêu cầu: “Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị,

đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ,tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội” trong thực hành dân chủ, trong thực hiệncác nhiệm vụ chính trị Trên cơ sở đó: “Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổchức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hộihoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân” Xâydựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thếtrận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân Động viênnhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổchức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộngđồng; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hóa

b) Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: “… không ngừng củng cố,tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc,đoàn kết quốc tế” Điều lệ Đảng, các văn kiện quan trọng khác của Đảng, Nhànước luôn đề cập tới vấn đề đại đoàn kết, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của

tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêubiểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư

ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhândân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp,phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồngthuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạtđộng đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Những nội dungtrên luôn được cụ thể hóa trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng

Sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt là 10 nămthực hiện Cương lĩnh năm 2011, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã cónhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, tính chủ động cao hơn, hướng

Trang 4

nhiều hơn về cơ sở; tổ chức bộ máy từng bước được sắp xếp lại phù hợp hơn vớiyêu cầu mới của đất nước; xác định rõ hơn nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong từngnhiệm kỳ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, để phản ánh tiếng nóicủa người dân trong các sự kiện lớn của đất nước Trong nhiệm kỳ Đại hội XII củaĐảng, đã phát huy tốt hơn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnhđạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểmtương đồng; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoandung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tôn trọngnhững điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; tăngcường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới củakhối đại đoàn kết toàn dân tộc Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năngsáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong nhiệm kỳ vừa qua,Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phươngthức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêunước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân…

Đại hội XIII tiếp tục xác định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bổ sung nhiều điểm mới:

Một là, đã khái quát quan điểm của Đảng đối với các tầng lớp nhân dân, khẳng

định những quan điểm chung nhất là: Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, củacán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân; bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi íchtrong xã hội

Hai là, trong phần nói về giai cấp công nhân đã bổ sung nhiệm vụ, giải pháp về

hoạt động của công đoàn: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởngcho giai cấp công nhân; xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng caobản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phongcông nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư Nhấn mạnh yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với

cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốctế”, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân;tập trung làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng củacông nhân, tập thể công nhân Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các

tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay

Trang 5

Ba là, trong phần nói về giai cấp nông dân, đã nêu giải pháp trong điều kiện mới:

Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình côngnghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quátrình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa nông thôn, tạo điều kiện để

cư dân nông thôn trở thành cư dân đô thị mà không dẫn đến di cư quy mô lớn Đặcbiệt nêu giải pháp, có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang cácngành phi nông nghiệp Huy động và phát huy mọi nguồn lực từ nông dân, nôngthôn cùng với các nguồn lực khác để thực hiện thành công mô hình nông nghiệpsinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh

Bốn là, đối với trí thức, bên cạnh khẳng định quan điểm: Xây dựng đội ngũ trí thức

ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trongtình hình mới Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu,đổi mới sáng tạo của trí thức Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề caođạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học Tiếp tục nhấn mạnh quan điểmthực sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện củachuyên gia, đội ngũ trí thức “Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, cácnhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước vànước ngoài”, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trìcác nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng

Năm là, đối với đội ngũ doanh nhân, bên cạnh các quan điểm đã được khẳng định

trong văn kiện Đại hội XII, Báo cáo chính trị Đại hội XIII đã bổ sung: Phát triểnđội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiếncho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinhdoanh giỏi Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nhân khởi nghiệp sángtạo, kinh doanh lành mạnh, cống hiến tài năng, khuyến khích doanh nhân thực hiệntrách nhiệm xã hội và tham gia phát triển xã hội Tôn vinh, khen thưởng kịp thời,xứng đáng những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Sáu là, nhấn mạnh khát vọng vươn lên của thế hệ trẻ Quan tâm tạo động lực cho

thanh niên xung kích trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp.Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng caolòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên;nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội; làm chủ các kiến thứckhoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, phát triển toàn diện và bảođảm quyền của trẻ em; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho

Trang 6

trẻ em - tương lai của đất nước; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động,giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất

và giá trị thẩm mỹ cho thế hệ trẻ

Bảy là, đề xuất quan điểm về xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới Nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hộinhập quốc tế Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ,khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp,chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới Tăng cường các chươngtrình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khókhăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Kiên quyết xử lý nghiêm theopháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em

Tám là, nhấn mạnh yêu cầu về động viên cựu chiến binh, công an hưu trí Tăng

cường vai trò của hội viên trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạngcho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệthống chính trị trong sạch, vững mạnh Trong điều kiện mới, phát huy bản chất,truyền thống Bộ đội Cụ Hồ và Công an nhân dân Việt Nam cách mạng trong xâydựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nềntảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúpnhau làm kinh tế, cải thiện đời sống

Chín là, đối với người cao tuổi, Báo cáo chính trị nhấn mạnh yêu cầu phát huy trí

tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội, cộngđồng và gia đình Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi Bảo trợ, giúp đỡngười cao tuổi gặp khó khăn, cô đơn không nơi nương tựa Nhấn mạnh chủ trươngtiếp tục xây dựng gia đình kiểu mẫu “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảohiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”

Mười là, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, bổ sung quan điểm: Bảo đảm các

dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển Chú trọng tínhđặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thựchiện chính sách dân tộc Đặc biệt là: “Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực,

tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiệngiảm nghèo đa chiều, bền vững” Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uytín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Huy động, phân bổ, sử dụng,quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản vềkinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Chống kỳ thịdân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành độngchia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trang 7

Mười một là, tiếp tục thực hiện các chủ trương về vận động, đoàn kết, tập hợp các

tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực chocông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đứctốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước Bảođảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương,điều lệ được Nhà nước công nhận Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minhnhững đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủnghĩa; chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Mười hai là, trong điều kiện mới, coi trọng nhiệm vụ hỗ trợ để người Việt Nam ở

nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xãhội nước sở tại Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bàohướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc,

có chính sách thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tíchcực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộcông dân, quản lý lao động, du học sinh Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếngViệt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc

Mười ba là, nêu tên cuộc vận động mới: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn

mới, đô thị văn minh” Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạtđộng, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcchính trị - xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư Xây dựng thế trận lòngdân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước đểxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệmcủa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoànkết toàn dân tộc, tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêunước, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội Thực hiện tốt vai trò giámsát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng củađoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đốingoại nhân dân

2. Quan điểm, chủ trương mới về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng:

- Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước

Đại hội XIII của Đảng xác định lộ trình với các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua

Trang 8

mức thu nhập trung bình thấp Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nhà nước (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng XHCN Đây chính là khát vọng và tầm nhìn của Đảng và nhân dân Việt Nam trong thời đại mới Để thực hiện được khát

vọng và tầm nhìn ấy, Đại hội XIII xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường

dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” Vì vậy, cần khơi dậy động lực tinh thần to lớn, vô song của dân tộc, con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, xây dựng đất nước phồn vinh hạnh phúc; khơi dậy và phát huy giá trị văn hóa, tài năng, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, sức mạnh của con người Việt Nam là trung tâm,

là mục tiêu, là nguồn lực nội sinh, là động lực quan trọng nhất để đạt tới các mục tiêu của phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI

Phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, đồng thuận xã hội, ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, trường tồn, nhân dân ấm no, hạnh phúc là

phương hướng cơ bản đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tất cả các cấp, các ngành phải quán triệt sâu sắc và ra sức tổ chức thực hiện Nếu như trong

chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, khát vọng độc lập, tự do, tinh thần

“Không có gì quý hơn độc lập tự do” và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là động lực tinh thần

to lớn đưa nhân dân ta nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự

do, thì ngày nay, khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc cần và phải là động lực tinh thần to lớn đưa nhân dân ta xây dựng thành

công một nước Việt Nam phát triển hiện đại “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công

bằng, văn minh” Khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc ngày nay cũng chính là mong muốn, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,

bởi như Người đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự

do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”

Trang 9

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới Theo đó, cần khai

thác và phát huy cao nhất các giá trị tốt đẹp, bền vững của văn hóa, con người và gia đình Việt Nam Nghiên cứu, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa và con người Việt Nam trong sự nghiệp Đổi mới và hội nhập quốc

tế, khi “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tếnhư ngày nay” Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp nhằm xử lý đúng đắn mối quan

hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc với việc xây dựng con người, phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững Quan tâm chăm lo công tác giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử, cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc cho mọi người Việt Nam, đặc biệt là cho thế hệ trẻ Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản

lý Khuyến khích các tìm tòi mới trong sáng tạo văn hóa, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi người Việt Nam; làm cho văn hóa thấm sâu vào trong toàn bộ đời sống và các hoạt động xã hội; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là

trung tâm; xây dựng Đảng toàn diện là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên “Xây dựng,

phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy giá trị văn hóa, conngười Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững” Điều đó, đòi hỏi phải kế thừa và phát huy giá trị văn hóa và con người Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc đã được vun đắp nên qua lịch

sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân

- gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Đó là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể “là minh chứng độc đáo cho truyền thống văn hóa hoặc một nền văn minh đang tồn tại”, là “vẻ

Trang 10

đẹp tự nhiên đặc biệt và có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ” của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, sinh thái trên mọi miền của Tổ quốc Các giá trị và sức mạnh đó của văn hóa và con người Việt Nam đã làm nên nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc

- Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế:

Đại hội XIII của Đảng xác định, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước Vì vậy, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

Coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vữngtrong truyền thống văn hóa dân tộc Thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm

mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam Xây dựng, hoàn thiện các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, tâmhồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế

Đại hội XIII với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, lần đầu tiên đã nêu yêu cầu: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt

Nam” Phải chăng đó là tâm lý tiểu nông, là tính ỷ lại, dựa dẫm, tính đố kỵ, thiếu

kỹ năng hợp tác, thiếu ý thực tôn trọng pháp luật Các mặt hạn chế của con

Trang 11

người Việt Nam cần phải được nhận biết, được phê bình, tự phê bình nghiêm khắc, cần phải được sửa chữa, khắc phục để cho dân giàu, nước mạnh.

Phát triển mạnh mẽ nền văn hoá và con người Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, chúng ta đứng trước yêu cầu cấp thiết là phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nhất là các giá trị văn hoá truyền thống và cáchmạng; đấu tranh chống các khuynh hướng đồng hoá, nô dịch về văn hoá Đồng thời, coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hoá, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà cốt lõi là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, cũng chính là quá trình xây dựng con người, phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người - khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ

xã hội chủ nghĩa Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, trở thành sức mạnh nội sinh, động lực đột phá cho phát triển đất nước và hội nhậpquốc tế

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển” Cần thực hiện tốt hơn cácchính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phúc lợi văn hóa, an ninh văn hóa, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân Tǎng đầu tư của nhà nước và xã hội cho phát triển sự nghiệp vǎn hóa; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư Hoàn thiện và bổ sung các cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa đúng định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu cấp thiết:

Thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cho thấy, hiện nay, vấn

đề còn bất cập lớn nhất là vấn đề nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất

Trang 12

lượng cao chứ không phải là vốn hay kỹ thuật Việt Nam có dân số đông, dân số

trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn nhưng tỷ lệ lao động được đào tạo vẫn thấp Hằng năm, có khoảng hơn một triệu người đến tuổi bổ sung vào đội ngũ lao động, nhưng trên 60% trong số đó vẫn chưa được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ

Số lao động này chưa thể đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp đòi hỏi trình độ công nghệ cao Đây vẫn là khó khăn lớn của nước ta khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ Đại hội XI năm 2011, Đảng ta đã chỉ ra: “Chất lượng nguồn nhân lực là một điểm nghẽn cản trở sự phát triển Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng tâm là hiện đại hóa giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng”; “Chuẩn bị nguồn nhân lực cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số”

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; chủ động tham gia vào thị trường đàotạo nhân lực quốc tế đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

và hội nhập quốc tế sâu rộng là vấn đề cần được quan tâm nhất hiện nay Điều đó đòi hỏi việc đào tạo nguồn nhân lực phải gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ; hình thành các trung tâm nghiên cứu, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh Nguồn nhân lực được đào tạo phải bảo đảm cả tri thức, kỹ năng về khoa học công nghệ, khả năng tiếp nhận và làm chủ được những thành tựu khoa học công nghệ mới, quản lý hiện đại, có năng lực đổi mới sáng tạo, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế Tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, văn hóa số, các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, nhân lực quản lý, quản trị công nghệ, quản trị doanh nghiệp, nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người; phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài

Trang 13

- Phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh quốc gia:

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ: “Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số”;

“Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”

“Đổi mới sáng tạo”, “đổi mới sáng tạo quốc gia” là những nội dung mới lần đầu được nêu lên trong Văn kiện Đại hội XIII Theo đó, đổi mới sáng tạo (Innovation)

là việc tạo ra và ứng dụng các thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa, sức cạnh tranh của quốc gia và tham gia nhiều hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu Đó là quá trình biến các ý tưởng, công nghệ, tri thức thành giá trị, của cải Đây là một thứ lợi thế cạnh tranh,một tài sản vô hình cho doanh nghiệp (bất kể quy mô nào) và mở rộng ra là cho

cả nền kinh tế quốc gia Làn sóng khởi nghiệp (Start-up) phải được đến từ đổi mới sáng tạo Nó phải hướng đến việc xây dựng cho các thế hệ con người Việt Nam hiện nay học hỏi, phấn đấu, dấn thân, “lập thân, lập nghiệp”, tạo ra nhiều giátrị cho bản thân và cho xã hội, sớm đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng XHCN Hiện nay, các quốc gia phát triển, các nền kinh tế lớn đang dựa chủ yếu vào tri thức khoa học, các tài sản vô hình như trí tuệ hay công nghệ cao Các ngành kinh tế, ngân hàng, tài chính, công nghệ chế tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng đang tận dụng các thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối (Blockchain) nhằm thay đổi mô thức sản xuất, kinh doanh Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh triển khai các sáng kiến về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trên nền tảng khoa hoc, công nghệ cao là cách nhanh nhất

để bắt nhịp với cuộc Cách mạng này

Trang 14

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định vị trí, vai trò là “động lực chính” của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển đất nước trong bối cảnhcuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tăng tốc Cần xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển khoa học - công nghệ và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, coi đây là yếu tố quan trọng, chính yếu để thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhanh chóng vượt qua bẫy thu nhập trung bình Đây cũng là yêu cầu tất yếu khách quan, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vàhội nhập quốc tế.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cơ hội lớn cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam có thể rút ngắn quá trình phát triển bằng cách “đi tắt, đón đầu”, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao hơn Đây là cơ hội để Việt Nam nâng cao năng suất lao động, khả năng cạnh tranh của các ngànhtruyền thống cũng như việc tiếp cận thị trường thế giới trên nền tảng số/internet

để tăng trưởng nhanh với giá trị gia tăng cao và bền vững Cách mạng công

nghiệp lần thứ tư đang và sẽ mang lại cơ hội cho phát triển nền kinh tế số, xã hội

số, văn hóa số, sản xuất và dịch vụ thông minh; các loại hình kinh tế, công

nghiệp, nông nghiệp, du lịch, tài chính, ngân hàng, logistic, robotics… thông minh hóa Cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn giúp tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất, quản lý, mang lại lợi ích to lớn cho Nhà nước, doanh nghiệp và người dân “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Phải đổi mới tư duy và hành động,chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh

tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng

suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh” Đổi mới sáng tạo dựa trên việc đẩy

mạnh đào tạo nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển khoa học - công nghệ, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiến hành chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số là những nội dung rất mới mà

Trang 15

Đại hội XIII của Đảng xác định, tạo động lực và xung lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.

- Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam:

Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm Nền văn hóa đó có hệ giá trị và bản sắc riêng và không bị đồng hóa bởi bất kỳ kẻ thù xâm lược nào Hệ giá trị và bản sắc đó đã tạo nên sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh,quốc phòng, đối ngoại…) thì nguồn lực văn hóa đang được nhiều quốc gia coi là một “sức mạnh mềm” quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị

trí, vai trò trên trường quốc tế Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã yêu cầu “Khẩn

trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa

và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”

Thuật ngữ “sức mạnh mềm”, “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớncủa đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế

Để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam hiện nay, trước hết, cần đặc biệt quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa quốc gia “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới

và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc

tốt đẹp do cha ông để lại” Quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực

Trang 16

văn hóa, môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa đương đại phong phú,

đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục gia tăng thêm cơ tầng sức mạnhmềm văn hóa Việt Nam và lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam ra thế giới Cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng các nội dung chủ yếu về tư

tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

ta và nhân dân thế giới; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thâm nhập sâu rộng, bền chặt trong đời sống tinh thần của xã hội, trongcộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế Có thêm nhiều hình thức tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài Tổ chức tuyển chọn, biên dịch, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài Tiếp tục đẩy mạnh giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của các danh nhân lịch sử, văn hóa, quân sự tiêu biểu của dân tộc ta , làm lan tỏa, củng cố giá trị văn hóa Việt Nam trong trong lòng nhân dân thế giới Đẩy mạnh các hoạt độngđối ngoại và ngoại giao văn hóa để phổ biến và lan tỏa hình ảnh đất nước, văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam; giúp nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến, ủng

hộ, hợp tác, giúp đỡ Việt Nam phát triển; ủng hộ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tăng cường mở rộng đầu tư, kinh doanh,

du lịch vào Việt Nam… Cần đầu tư phát triển mạnh ngành công nghiệp văn hóa,

mở rộng thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa trong nước và quốc tế Các sản phẩm công nghiệp văn hóa quốc gia khi ra khỏi biên giới sẽ không chỉ đơn thuần

là những hàng hóa văn hóa mà nó còn là biểu tượng, bản sắc, hình ảnh, thương hiệu quốc gia, thể hiện sức mạnh mềm của văn hóa quốc gia Chính vì vậy, cần cóchiến lược, kế hoạch phát triển có trọng điểm, trọng tâm ngành công nghiệp văn hóa, trên cơ sở xác định rõ giá trị, bản sắc và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trên mỗi sản phẩm từ hình thức, mẫu mã đến nội dung chuyển tải tinh thần văn hóa, giá trị văn hóa Việt Nam Tiếp thu, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới để phát triển ngành công nghiệp văn hóa và lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam Để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, phải gắn kết chặt chẽ văn hóa với pháttriển kinh tế; “Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, phấn đấu đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, giữ gìn tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau” Du lịch, nhất là du lịch văn hóa chính là cách thức, là

Trang 17

con đường có hiệu quả cao để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, thu hút du khách quốc tế thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng, đầu tư,kinh doanh, gia tăng nguồn thu nhập cho các địa phương và đất nước.

Những kết quả về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có tác động to lớn đến phát triển văn hóa và con người Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, con người đối với phát triển bền vững đất nước trong các tổ chức Đảng và tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan nhà nước, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn Văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh

tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả tích cực Công tác xây dựng Đảng về đạo đức, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán

bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt các cấp đã góp phần thúc đẩy xây dựng văn hóa đạođức, lối sống lành mạnh trong Đảng và ngoài xã hội Tuy nhiên, trong thời gian qua, “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán

bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi” Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn nhiều lúng túng, chậm trễ trong việc thể chế hóa quan điểm chủ trương của Đảng

về văn hóa Đầu tư cho văn hóa chưa đúng mức, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”; “Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định

Trang 18

hướng XHCN; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ,

công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường” Thực trạng này đòi hỏi, để

xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong thời gian tới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng môitrường văn hóa đạo đức lành mạnh trong xã hội; kiên quyết, kiên trì ngăn chặn vàđẩy lùi các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong Đảng và ngoài xã hội

Đại hội XIII của Đảng xác định xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa

trong lãnh đạo, quản lý và tập trung xây dựng Đảng về đạo đức với nhiều nhiệm

vụ, giải pháp mới Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩycác phong trào cách mạng Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điềukiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và danh dự, trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài

xã hội “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội” Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, cần phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; quán triệt sâu sắc quan điểm:“Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”, lấy “dân là gốc”, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” Thực hiện nghiêm túc việc học tập và làm theo

Trang 19

tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người tiêu biểu và kết tinh nhất trí tuệ và đạo đức cách mạng của Đảng và của dân tộc ta Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng toàn diện gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành dân chủ sâu rộng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm, chủ trương rất mới, sâu sắc

và toàn diện, đột phá về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực; xác định ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực cho công tác lãnhđạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến

cơ bản về chất lượng giáo dục đào tạo; đẩy mạnh và thúc đẩy, đa dạng hóa các loại hình và hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học

- công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam Đây là đường hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước đi lên, lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Namtrong thời đại mới

3. Những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2020-2025:

a Mục tiêu tổng quát

Bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô,phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phấn đấu tốc độ tăng trưởngkinh tế cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016 - 2020, đến năm 2025 là nước đangphát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình

thấp Nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thực hiện các

giải pháp khắc phục tác động của đại dịch Covid-19, nhanh chóng phục hồi kinh tế.Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, con người Việt Nam và sức sáng tạo của mỗi cánhân Từng bước xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh; bảo đảm cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.Bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Chú trọng bảo vệ môi

Trang 20

trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu Tăng cường quốc phòng, an ninh;kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triểnđất nước Chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vịthế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

b Các chỉ tiêu chủ yếu

* Về kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm khoảng6,5 - 7%

- GDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 4.700 - 5.000 USD

- Tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 25% GDP; kinh tế số đạt khoảng20% GDP

- Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng45%

- Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân trên 6,5%/năm

- Tỉ lệ đô thị hoá khoảng 45%

* Về xã hội

- Tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh đạt tốithiểu 67 năm

- Tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo là 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 28 - 30%

- Tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%

- Tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1 - 1,5%/năm

- Có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/1 vạn dân

- Tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số

- Tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80%, trong đó có 10% đạt chuẩn nôngthôn mới kiểu mẫu

*Về các cân đối lớn

Trang 21

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy tăng tổngtích luỹ tài sản chiếm khoảng 27 - 28% GDP và duy trì tỉ trọng tiêu dùng cuối cùngkhông thấp hơn 73% GDP.

-Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 - 34% GDP.-Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2021 - 2025 đạt 15 - 16% GDP;đến năm 2025, nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP.Bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 bình quân 3,7% GDP

-Bảo đảm cân đối năng lượng quốc gia

c.Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

*Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúcđẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô

-Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để hoàn thiện cơ bản các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thi hành nghiêm phápluật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, đầy đủ, đồng bộ, khả thi, chi phí tuân thủ thấp,hiện đại, hội nhập, có sức cạnh tranh quốc tế Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sởhữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, kinh tế hợp tác,hợp tác xã, các yếu tố, các loại thị trường Vận hành đồng bộ thị trường quyền sửdụng đất, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và côngnghệ, thị trường tài chính theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiệnđại, hội nhập quốc tế Tiếp tục phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý, tạo điềukiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạtđộng đầu tư, kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

+Ðổi mới mạnh mẽ hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướngchuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức

xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng Đổimới mạnh mẽ phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp trong lãnh đạo,chỉ đạo, điều hành Nhà nước quản lý các cân đối lớn, giữ vai trò định hướng pháttriển chung cho cả nước Chính quyền địa phương tập trung thực hiện chức năngcung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, giải quyết các vấn đề xã hội, thực thi pháp luật, cảithiện môi trường kinh doanh và bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn

+Phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, nghềnghiệp và cộng đồng trong tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát thực hiệnpháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, mặt trận và các đoàn thể nhân dân để thi đua phát triển kinh tế - xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng chính quyền các cấp

+Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số Đẩy nhanh xây dựngkhung chính sách, pháp luật đối với xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chínhphủ số Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình

Trang 22

kinh doanh mới ứng dụng công nghệ cao, mô hình kinh tế chia sẻ, giao dịch, quản

lý các tài sản kỹ thuật số, đầu tư mạo hiểm, các phương thức thanh toán mới, hệthống xác thực và định danh điện tử Sớm hoàn thành việc xây dựng và đưa vàokhai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quan trọng và nền tảng kết nối, chia sẻ quốc gia.+Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực đầu tư, ưu tiên thu hút các nguồn lực của xãhội phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các cực tăng trưởng, các đô thị lớn, cácngành mũi nhọn, các công trình trọng điểm quốc gia và các dự án lớn mang tínhliên kết vùng Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đápứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế Thực hiện chế độ kiểm toán, kế toán,thống kê phù hợp với chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng công tác phântích, dự báo, cảnh báo phục vụ quản lý, điều hành Hoàn thiện hệ thống thông tin,thống kê phục vụ chỉ đạo, điều hành và đánh giá, xây dựng chính sách Khẩntrương hoàn thành Quy hoạch tổng thể quốc gia, các quy hoạch ngành quốc gia,quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh

-Về tài chính, tiền tệ và hoạt động ngân hàng

+Tiếp tục điều hành đồng bộ, linh hoạt các chính sách vĩ mô Điều hành chính sáchtiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hoà với các chính sách khácnhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bềnvững, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối Tăng cường phối hợp và trao đổithông tin giữa các bộ, ngành trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô Tăng cườnghiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ vàchuẩn mực quốc tế

+Nghiên cứu, sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước, đổi mới phân cấp ngân sách nhànước theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, phù hợp vớitrình độ phát triển của nền kinh tế Phấn đấu đến năm 2025, tỉ trọng thu nội địa đạttrên 85% tổng thu ngân sách nhà nước Xây dựng cơ chế quản lý tài chính cho các

đô thị lớn, trong đó đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính,ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước Sửa đổi, bổ sung các luật về thuế,phí theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, gắn với cơ cấu lạinguồn thu, mở rộng cơ sở thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế

và áp dụng mức thuế suất hợp lý, hướng tới một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấubền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, đồngthời góp phần thiết lập môi trường cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập, pháttriển của nền kinh tế

+Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng bền vững, tăng tỉ trọng chiđầu tư phát triển, giảm tỉ trọng chi thường xuyên, hỗ trợ thực hiện hiệu quả cácmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện nghiêm nguyên tắc chỉ vay nợ chochi đầu tư phát triển Đổi mới, xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý ngân sáchnhà nước nhằm tăng cường hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính

Trang 23

ngân sách nhà nước gắn với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế Tăng cường quản lý,đẩy nhanh tiến độ giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công Tiếptục cơ cấu lại nợ công theo hướng bền vững Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính -ngân sách nhà nước Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí.

-Về xuất, nhập khẩu và phát triển thị trường trong nước

+Khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng và đa dạng hoá thịtrường xuất khẩu, không để phụ thuộc quá lớn vào một thị trường Tích cực đàmphán các hiệp định thương mại song phương và đa phương Nâng cao hiệu quảhoạt động của các đại diện thương mại, xúc tiến thương mại của Việt Nam tại cácquốc gia Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại phù hợp với điều kiện của đấtnước và hội nhập quốc tế Nghiên cứu các biện pháp phòng vệ thích hợp, xây dựnghàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất và lợi ích người tiêu dùng không trái với cáccam kết quốc tế

+Nghiên cứu phương án để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các cuộc xung độtthương mại đến xuất khẩu Đa dạng hoá đối tác nhập khẩu, tránh tình trạng phụthuộc vào một đối tác Ưu tiên nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư đầu vào đượctạo ra từ công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, hàng hoá trong nước chưa sản xuấtđược; kiểm soát hiệu quả việc nhập khẩu hàng hoá không thiết yếu, trong nước sảnxuất được

+Tăng cường quản lý biên mậu, gia tăng xuất, nhập khẩu chính ngạch, theo hợpđồng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, chống gian lận thương mại, nhãn hiệu hànghoá, xuất xứ hàng hoá Đổi mới, nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các bộ,ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp trong việc xử lý các vấn đề phát sinhtrong thương mại quốc tế

+Tiếp tục triển khai các giải pháp phát triển bứt phá thị trường trong nước gắn vớinâng cao uy tín, chất lượng hàng Việt Nam, bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng.Phấn đấu tốc độ tăng của tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ xã hộiluôn cao hơn tăng trưởng GDP Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam.Tập trung thu hút đầu tư vào hạ tầng thương mại, nhất là hạ tầng tại các khu vựckhó khăn; khuyến khích liên kết giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp phân phối; bảođảm cân đối cung - cầu hàng hoá thiết yếu Đẩy mạnh phát triển thương mại điện

tử và sự hài hoà giữa thương mại điện tử với thương mại truyền thống

*Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển nền kinh tế số

-Cơ cấu lại các ngành sản xuất và dịch vụ

+Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên nền tảng của khoa học,công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lầnthứ tư, trong đó tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao nhưcông nghiệp công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông; an toàn, an ninh mạng; côngnghiệp chế tạo thông minh; tài chính - ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp

Trang 24

số; du lịch số; công nghiệp văn hoá số; y tế; giáo dục và đào tạo Xây dựng nềnkinh tế tự chủ, nâng cao khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế.Thực hiện Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động nhằm hiện đại hoánền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh Tập trung phát triển sảnphẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao Thực hiện các giải phápkhắc phục tác động của đại dịch Covid-19 và thiệt hại do thiên tai lũ lụt, nhanhchóng phục hồi nền kinh tế trong những năm đầu (2021 - 2022), tận dụng hiệu quảcác cơ hội mới cho bứt phá, phát triển đất nước trong những năm cuối (2023 -2025) Tăng cường phòng, chống và xây dựng kế hoạch ứng phó với dịch bệnh kéodài Tổ chức thực hiện hiệu quả và thực chất các nội dung cơ cấu lại các ngành,gồm:

+Về công nghiệp: Phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng như công nghiệp

năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, hoá chất, phân bón, vật liệu Ưu tiên pháttriển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghiệp công nghệcao, công nghiệp hỗ trợ như công nghệ thông tin và viễn thông, điện tử, trí tuệnhân tạo, sản xuất robot, công nghiệp ô tô, công nghệ sinh học, điện tử y sinh, sảnxuất phần mềm, sản phẩm số, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo Tập trung pháttriển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với công nghệ thông minh; chú trọngphát triển công nghiệp xanh Hình thành thí điểm một số mô hình cụm liên kếttrong các ngành công nghiệp ưu tiên Thúc đẩy tiến độ các dự án công nghiệp lớn,

có tác động lan toả; đồng thời, xử lý quyết liệt các dự án chậm tiến độ, kém hiệuquả Phát triển sản xuất công nghiệp quy mô lớn tại các khu kinh tế ven biển, trong

đó chú trọng các ngành sản xuất công nghiệp nặng, chế biến sâu, hình thành cácchuỗi giá trị Tăng cường liên kết giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhất làcác tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp trong nước trong phát triển chuỗi cungứng của các ngành công nghiệp Khơi dậy nội lực, khuyến khích mạnh mẽ sự pháttriển của doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp

cơ khí, chế biến, chế tạo, công nghệ số, công nghiệp công nghệ thông tin; hìnhthành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế, bảo đảm chất lượng,quy định về truy xuất nguồn gốc Phát triển một số doanh nghiệp viễn thông, côngnghệ thông tin chủ lực thực hiện tốt vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ, tạo nềntảng cho nền kinh tế số, xã hội số

+Về xây dựng: Nâng cao năng lực thiết kế, thi công xây lắp, quản lý xây dựng theo

hướng tiên tiến, hiện đại, từng bước mở rộng sự tham gia của các doanh nghiệp xâydựng Việt Nam ở nước ngoài Phát triển các loại vật liệu xây dựng mới, thông minh,tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, trong đó ưu tiên phát triển những côngnghệ tiên tiến, hiện đại, mức độ tự động hoá cao sử dụng tối đa công nghệ số, côngnghệ nano, vật liệu không nung, sử dụng nhiên liệu tái chế, các loại chất thải để sảnxuất các sản phẩm chất lượng cao

Trang 25

+Về nông nghiệp: Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn

gắn với xây dựng nông thôn mới Phát triển nông nghiệp hàng hoá tập trung quy

mô lớn theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng vàphát triển bền vững Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệpsinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, thích ứngvới biến đổi khí hậu Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới theo hướng gắn với quá trình đô thị hoá, đi vào chiều sâu, hiệu quả,bền vững; thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu vàxây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản Phấn đấu đến năm 2025, có khoảng 40% số

xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, có 50% đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoànthành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, mạngsản xuất, nhân rộng mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp Hỗ trợ, khuyếnkhích phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và các tổ hợp tác

Xây dựng chính sách, rà soát lại diện tích đất trồng lúa để bảo đảm an ninh lươngthực quốc gia trong tình hình mới; thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợpvới lợi thế và nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu từng vùng, miền;chuyển đổi một phần đất trồng lúa sang trồng cây khác có hiệu quả cao hơn hoặclàm đất chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp,nông thôn Hỗ trợ phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại hiệu quả cao, thân thiệnvới môi trường Phát triển các giống đặc sản, chăn nuôi hữu cơ tạo ra sản phẩm cólợi thế cạnh tranh

Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinhhọc, bảo vệ môi trường sinh thái Nâng cao chất lượng rừng trồng, chú trọng pháttriển trồng rừng gỗ lớn, lâm đặc sản Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thốngrừng đặc dụng, phòng hộ, phát triển rừng phòng hộ ven biển Phát triển ngành thuỷsản theo hướng khai thác xa bờ hiện đại góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đẩymạnh nuôi trồng thuỷ sản trên biển và ven biển Xây dựng trung tâm nghề cá lớngắn với ngư trường trọng điểm; nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàuthuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quản lýnghề cá

+Về dịch vụ: Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ, ưu

tiên những ngành có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăngcao Phát triển các loại hình dịch vụ mới, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ trong cáclĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, pháp lý, y tế, giáo dục - đào tạo, viễnthông và công nghệ thông tin, logistics và vận tải, phân phối Xây dựng thươnghiệu sản phẩm dịch vụ Quy hoạch xây dựng hạ tầng thanh toán số quốc gia theohướng đồng bộ, thống nhất, dùng chung, tận dụng và khai thác có hiệu quả hạ tầngmạng lưới viễn thông để triển khai các dịch vụ thanh toán cho người dân với chiphí thấp Nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics Tiếp tục ban hành và thực hiện cácchính sách phát triển du lịch thực sự thành ngành kinh tế mũi nhọn; tập trung quy

Trang 26

hoạch và đầu tư để hình thành một số khu du lịch quốc gia tầm cỡ quốc tế Xâydựng và định vị thương hiệu du lịch quốc gia gắn với hình ảnh chủ đạo, độc đáo,mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Phát triển đồng thời cả du lịch quốc tế và dulịch trong nước Phát triển và tăng cường quản lý hoạt động du lịch văn hoá tâmlinh, sinh thái, lịch sử Tập trung giải quyết các điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng dulịch, nhất là tình trạng quá tải tại các cảng hàng không, một số cảng biển và cảngthuỷ nội địa chuyên dùng; cải thiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ đường sắt phục

vụ khách du lịch

- Cơ cấu lại các lĩnh vực trọng tâm

+Tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ cấu lại đầu tư công theo hướng tập trung vốn vàocác ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, các công trình, dự án trọng điểm, cósức lan toả, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, tạo đột phá thu hút nguồn vốnkhu vực tư nhân trong và ngoài nước theo phương thức đối tác công - tư, giữ vữngvai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và bảo đảm phát triển hài hoà giữa cácvùng, miền Kiểm soát chặt chẽ các nguồn vốn vay để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội Rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹthuật, đơn giá xây dựng, suất đầu tư xây dựng công trình phục vụ các ngành kinh tế.Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác lựa chọn nhà thầu, quản lý đấu thầu Đổimới, nâng cao vai trò công tác giám sát, đánh giá đầu tư trong hoạt động quản lý đầu

tư theo hướng giảm các hoạt động tiền kiểm và tăng cường hậu kiểm Công khai,minh bạch thông tin và tăng cường giám sát, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, phòng,chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư công Đẩy mạnh ứng dụng côngnghệ thông tin, tin học hoá trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư

+Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng, hỗ trợ tiến trình

cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu Phát triển hệ thống các tổ chức tíndụng theo hướng các tổ chức tín dụng trong nước đóng vai trò chủ lực, hướng tớiđạt trình độ phát triển của nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN vào năm 2025.Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt; đến cuối năm 2025, tỉ trọngtiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức dưới 8% Tăng tỉ trọng vốn tíndụng ngân hàng đầu tư vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, các ngành sảnxuất và tiêu dùng ít các-bon Phát triển thị trường xếp hạng tín dụng Nâng cao quy

mô và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán để thực sự trở thành mộtkênh huy động vốn chủ yếu của nền kinh tế

+Tiếp tục thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung giữ những lĩnhvực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh; nhữnglĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư Củng

cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả,

có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốtcủa nền kinh tế Bảo đảm công khai, minh bạch trong cơ cấu lại doanh nghiệp nhànước, nhất là trong cổ phần hoá và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp Đến năm

Ngày đăng: 18/12/2021, 08:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w