Like the various dictionaries that came after it during the seventeenth century, Cawdray's tended to concentrate on 'scholarly' words; one function of the dictionary was to enable its st
Trang 1CONQUER IELTS TEST
READING SKILL
CAMBRIDGE IELTS
5
Trang 2Contents
Johnson's Dictionary 1
Nature or Nurture? 3
The Truth about the Environment 6
BAKELITE - The birth of modern plastics 9
What's so funny? 12
The Birth of Scientific English 15
Early Childhood Education 18
Disappearing Delta 22
The Return of Artificial Intelligence 24
The Impact of Wilderness Tourism 28
Flawed Beauty: the problem with toughened glass 31
The effects of light on plant and animal species 34
Trang 3Johnson's Dictionary
For the century before Johnson's Dictionary was published in 1775, there had been concern about the state of the English language Trong cả thế kỷ trước khi quyển Từ Điển của Johnson được phát hành vào năm 1775, người ta đã rất lo ngại về tình trạng của tiếng Anh There was no standard way of speaking or writing and no agreement as to the best way of bringing some order to the chaos of English spelling Thời kỳ đó không có bất kỳ tiêu chuẩn nào trong khi nói hay viết và cũng không có sự đồng thuận về phương cách tốt nhất để đưa một số quy tắc, trật tự vào tình trạng hỗn loạn trong việc đánh vần tiếng Anh Dr Johnson provided the solution
Tiến sĩ Johnson đã mang lại một giải pháp
There had, of course, been dictionaries in the past, the first of these being a little book of some
120 pages, compiled by a certain Robert Cawdray, published in 1604 under the title A Table Alphabeticall of hard usuall English wordes Tất nhiên trong quá khứ đã có nhiều quyển từ điển mà quyển đầu tiên trong số đó là một quyển sách nhỏ dày khoảng 120 trang, do ông Robert Cawdray nào đó soạn ra và xuất bản vào năm 1604 dưới tên gọi A Table Alphabeticall “of hard usuall English wordes” Like the various dictionaries that came after it during the seventeenth century, Cawdray's tended to concentrate on 'scholarly' words; one function of the dictionary was to enable its student to convey an impression of fine learning.Cũng như nhiều quyển từ điển khác xuất hiện sau nó trong thế kỷ XVII, Cawdray có ý định tập trung vào những từ “khoa học, uyên thâm” : một chức năng của từ điển là cho phép người học truyền tải ấn tượng về việc học hành giỏi giang
Beyond the practical need to make order out of chaos, the rise of dictionaries is associated with the rise of the English middle class, who were anxious to define and circumscribe the various worlds to conquer -lexical as well as social and commercial Ngoài nhu cầu thực tiễn là rút ra trật tự trong hỗn loạn thì sự xuất hiện của từ điển còn liên quan đến sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ở Anh – những người ao ước định nghĩa và giới hạn những thế giới đa dạng khác nhau để có thể chinh phục – cả về mặt
từ ngữ lẫn xã hội và kinh tế It is highly appropriate that Dr Samuel Johnson, the very model of an eighteenth-century literary man, as famous in his own time as in ours, should have published his Dictionary at the very beginning of the heyday of the middle class Chúng ta hiện đánh giá cao việc tiến
sĩ Samuel Johnson – ví dụ tiêu biểu cho hình mẫu nhà văn trong thế kỷ XVIII, nổi tiếng cả trong thời đó lẫn ngày nay – đã xuất bản quyển Từ Điển vào đúng giai đoạn bắt nguồn cho thời kỳ hoàng kim của tầng lớp trung lưu
Johnson was a poet and critic who raised common sense to the heights of genius Johnson là một nhà thơ, nhà phê bình, người đã nâng cảm quan thông thường lên tầm cao của thiên tài His approach to the problems that had worried writers throughout the late seventeenth and early eighteenth centuries was intensely practical Ông có cách tiếp cận cực kỳ thiết thực đối với những vấn đề đã khiến giới sáng tác văn chương phải lo lắng suốt từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII Up until his time, the task of producing a dictionary on such a large scale had seemed impossible without the establishment of an academy to make decisions about right and wrong usage Mãi cho đến trước thời kỳ của ông thì nhiệm
vụ viết ra quyển từ điển với quy mô lớn như vậy vẫn là điều bất khả thi nếu không có sự thành lập một học viện chuyên đưa ra quyết định về cách dùng đúng và sai Johnson decided he did not need an academy to settle arguments about language; he would write a dictionary himself; and he would do it single-handed Johnson signed the contract for the Dictionary with the bookseller Robert Dosley at a breakfast held at the Golden Anchor Inn near Holborn Bar on 18 June 1764 Johnson quyết định rằng
Trang 4ông không cần đến một học viện để giải quyết những tranh cãi liên quan đến ngôn ngữ: ông sẽ tự viết từ điển; và ông sẽ làm điều đó một mình Johnson ký hợp đồng về quyển Từ Điển với nhà buôn sách Robert Dosley trong bữa ăn sáng ở khách sạn Golden Anchor Inn gần Holborn Bar vào ngày 18/6/1764
He was to be paid £1,575 in instalments, and from this he took money to rent 17 Gough Square, in which he set up his 'dictionary workshop' Thù lao của ông là 1.575 bảng dưới dạng trả góp và từ khoản tiền này ông đã thuê căn nhà số 17, Gough Square – nơi mà ông gầy dựng nên “xưởng từ điển” của mình
James Boswell, his biographer described the garret where Johnson worked as 'fitted up like a counting house' with a long desk running down the middle at which the copying clerks would work standing up James Boswell – người viết tiểu sử của Johnson – đã mô tả căn gác xép nơi Johnson làm việc “được trang bị như trụ sở của một công ty” với chiếc bàn dài chạy dọc theo giữa phòng, nơi mà các nhân viên ghi chép sẽ đứng làm việc
Johnson himself was stationed on a rickety chair at an 'old crazy deal table' surrounded by a chaos of borrowed books Bản thân Johnson thì ngồi trên cái ghế ọp ẹp trước “chiếc bàn cũ, chẳng ai thèm mua”, bao quanh là la liệt những quyển sách mượn He was also helped by six assistants, two of whom died whilst the Dictionary was still in preparation Ông cũng được sáu trợ lý giúp đỡ, hai người trong số đó đã chết khi quyển Từ Điển vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị
The work was immense; filing about eighty large notebooks (and without a library to hand), Johnson wrote the definitions of over 40,000 words, and illustrated their many meanings with some 114,000 quotations drawn from English writing on every subject, from the Elizabethans to his own time Công việc có quy mô rất lớn, phủ kín khoảng 80 quyển vở loại lớn (và không có thư viện để chuyển giao) Johnson đã viết ra định nghĩa của trên 40 000 từ và minh họa cho ý nghĩa của chúng bằng khoảng
114 000 câu trích dẫn từ những tài liệu tiếng Anh thuộc mọi chủ đề, trải dài từ thời nữ hoàng Elizabeth đến giai đoạn của ông He did not expel to achieve complete originality Ông không mong đợi có thể đạt được sự mới mẻ hoàn toàn Working to a deadline, he had to draw on the best of all previous dictionaries, and to make his work one of heroic synthesis In fact, it was very much more Do làm việc cho kịp thời hạn nên ông buộc phải dựa vào tinh túy trong tất cả những quyển từ điển trước đây và biến công trình của mình thành một sự tổng hợp hào hùng Thực tế, nó còn nhiều hơn như vậy
Unlike his predecessors, Johnson treated English very practically, as a living language, with many different shades of meaning Không giống như những người đi trước, Johnson nhìn nhận tiếng Anh một cách rất thực tế, như là một ngôn ngữ sống với nhiều sắc thái nghĩa khác nhau He adopted his definitions on the principle of English common law - according to precedentAfter its publication, his Ông đưa ra định nghĩa của mình dựa trên nguyên tắc trong hệ thống luật pháp phổ thông kiểu Anh – dựa theo tiền lệ Dictionary was not seriously rivalled for over a century Sau khi được xuất bản, quyển
Từ Điển của ông đã hoàn toàn không có đối thủ thật sự nào trong suốt hơn một thế kỷ
After many vicissitudes the Dictionary was finally published on 15 April 1775 Sau nhiều sự thăng trầm thì cuối cùng quyển Từ Điển cũng được xuất bản vào ngày 15/4/1775 It was instantly recognised as a landmark throughout Europe 'This very noble work;' wrote the leading Italian lexicographer, will be a perpetual monument of Fame to the Author, an Honour to his own Country in particular, and a general Benefit to the republic of Letters throughout Europe Ngay lập tức nó được thừa nhận như bước ngoặc trên khắp Châu Âu Một nhà từ điển học hàng đầu người Ý đã viết rằng: “công trình rất xuất sắc này sẽ là cột mốc Danh tiếng bất diệt cho bản thân Tác giả, Niềm vinh hạnh cho Đất
Trang 5nước của ông ấy nói riêng và Lợi ích chung cho Giới văn học trên khắp Châu Âu” The fact that Johnson had taken on the Academies of Europe and matched them (everyone knew that forty French academics had taken forty years to produce the first French national dictionary) was cause for much English celebration Sự thật rằng Johnson đã thách đấu và sánh được với các Viện hàn lâm Châu Âu (mọi người đều biết rằng 40 viện sĩ người Pháp đã tốn đến 40 năm để đưa ra quyển từ điển tiếng Pháp chính thức đầu tiên) là nguyên nhân chính cho sự ăn mừng của người Anh
Johnson had worked for nine years, 'with little assistance of the learned, and without any patronage of the great; not in the soft obscurities of retirement, or under the shelter of academic bowers, but amidst inconvenience and distraction, in sickness and in sorrow' Johnson đã làm việc suốt chín năm,
“với rất ít sự trợ giúp từ giới học thức và không có bất kỳ sự bảo trợ nào từ giới quyền lực; không phải trong sự tĩnh mịch êm ái của giai đoạn nghỉ hưu hay dưới sự che chở của không gian học thuật chân thật,
mà là giữa sự bất tiện và xao lãng, trong tình trạng bệnh tật và buồn phiền” For all its faults and eccentricities his two-volume work is a masterpiece and a landmark, in his own words, 'setting the orthography, displaying the analogy, regulating the structures, and ascertaining the significations of English words' Mặc cho tất cả sai sót và điểm lập dị thì công trình gồm hai quyển của ông vẫn là một kiệt tác, bước ngoặc mà theo ông nói là “đặt ra quy tắc chính tả, chỉ ra điểm tương đồng, quy định cấu trúc và làm sáng tỏ ý nghĩa của các từ tiếng Anh” It is the cornerstone of Standard English, an achievement which, in James Boswell's words, 'conferred stability on the language of his country' Nó là nền tảng cho Tiếng anh Chuẩn, một thành tựu mà theo James Boswell là: “đem lại sự ổn định cho ngôn ngữ ở đất nước của ông ấy”
The Dictionary, together with his other writing, made Johnson famous and so well esteemed that his friends were able to prevail upon King George III to offer him a pension Từ Điển, cùng với những công trình khác đã khiến Johnson trở nên nổi tiếng và được kính mến đến mức bạn bè của ông đã thuyết phục thành công vua George III ban cho ông một khoản trợ cấp From then on, he was to become the Johnson of folklore Từ đó trở về sau, ông trở thành Johnson – nhà nghiên cứu văn hóa dân gian
Nature or Nurture?
A
A few years ago, in one of the most fascinating and disturbing experiments in behavioural psychology, Stanley Milgram of Yale University tested 40 subjects from all walks of life for their willingness to obey instructions given by a 'leader' in a situation in which the subjects might feel a personal distaste for the actions they were called upon to perform Vài năm trước, trong một trong những nghiên cứu thú vị và xáo trộn nhiều nhất về tâm lý học hành vi, Stanley Milgram ở trường đại học Yale đã tiến hành thí nghiệm trên 40 đối tượng thuộc nhiều tầng lớp, nghề nghiệp khác nhau về mong muốn của họ trong việc tuân theo sự hướng dẫn do một “người lãnh đạo” đưa ra trong tình huống đối tượng có thể cảm thấy không thích thú trước hành động mà họ bị kêu thực hiện Specifically, Milgram told each volunteer 'teacher-subject' that the experiment was in the noble cause of education, and was designed to test whether or not punishing pupils for their mistakes would have a positive effect
on the pupils' ability to learn Milgram giải thích một cách rõ ràng với từng người tình nguyện trong vai
“giáo viên-đối tượng” rằng thí nghiệm này chỉ nhằm mục đích phục vụ giáo dục và được thiết kế để kiểm tra xem liệu việc trừng phạt học sinh vì lỗi lầm mà chúng gây ra có tác động tích cực đến khả năng học tập của học sinh hay không
Trang 6B
Milgram's experimental set-up involved placing the teacher-subject before a panel of thirty switches with labels ranging from '15 volts of electricity (slight shock)' to '450 volts (danger - severe shock)' in steps of 15 volts each Công cuộc tiến hành thí nghiệm của Milgram bao gồm đặt đối tượng-giáo viên trước một bảng công tắc với nhãn dao động từ “dòng điện 15 volt (sốc điện nhẹ)” đến “450 volt (nguy hiểm – sốc điện nghiêm trọng)”, trong đó mỗi nhãn cách nhau 15 volt The teacher-subject was told that whenever the pupil gave the wrong answer to a question, a shock was to be administered, beginning at the lowest level and increasing in severity with each successive wrong answer Giáo viên-đối tượng được giải thích rằng mỗi khi học sinh đưa ra câu trả lời sai thì họ phải thực hiện một cú sốc điện, bắt đầu với mức thấp nhất và tăng dần cường độ theo từng câu trả lời sai liên tiếp The supposed 'pupil' was in reality an actor hired by Milgram to simulate receiving the shocks by emitting a spectrum
of groans, screams and writhings together with an assortment of statements and expletives denouncing both the experiment and the experimenter “Học sinh” ở đây thật ra là một diễn viên do Milgram thuê để giả vờ như đang bị sốc điện bằng cách phát ra chuỗi âm thanh rên rỉ, la hét, quằn quại cùng với đủ loại câu, từ phê phán, lăng mạ cả cuộc thí nghiệm lẫn người tiến hành thí nghiệm Milgram told the teacher-subject to ignore the reactions of the pupil, and to administer whatever level of shock was called for, as per the rule governing the experimental situation of the moment Milgram yêu cầu đối tượng-giáo viên phớt lờ phản ứng của học sinh và tiến hành bất kỳ mức độ sốc điện nào được yêu cầu theo nguyên tắc quy định môi trường thí nghiệm ở thời điểm đó
be followed through to the end His final argument was, 'You have no other choice Nếu đối tượng vẫn ngập ngừng không muốn tiến hành tiếp, Milgram nói rằng tuân thủ đúng quy trình cho đến khi kết thúc
là cực kỳ quan trọng đối với sự thành bại của cuộc thí nghiệm You must go on.' Luận điểm cuối cùng của anh ta là “Bạn không có lựa chọn nào khác Bạn phải tiếp tục.”What Milgram was trying to discover was the number of teacher-subjects who would be willing to administer the highest levels of shock, even
in the face of strong personal and moral revulsion against the rules and conditions of the experiment Điều mà Milgram cố gắng khám phá là số lượng đối tượng-giáo viên sẽ mong muốn thực hiện những mức sốc điện cao nhất, ngay cả khi phải đối diện với sự kinh tởm về mặt đạo đức và cá nhân trước những quy định, điều kiện của cuộc thí nghiệm
D
Trang 7Prior to carrying out the experiment, Milgram explained his idea to a group of 39 psychiatrists and asked them to predict the average percentage of people in an ordinary population who would be willing to administer the highest shock level of 450 volts Trước khi tiến hành thí nghiệm, Milgram giải thích ý tưởng của mình với một nhóm gồm 39 chuyên gia tâm thần học và yêu cầu họ dự đoán tỷ lệ phần trăm trung bình những người trong một cộng đồng bình thường có mong muốn thực hiện mức sốc điện cao nhất – 450 volt The overwhelming consensus was that virtually ail the teacher-subjects would refuse to obey the experimenter Đa số đều nhất trí rằng gần như tất cả đối tượng-giáo viên sẽ từ chối tuân theo người tiến hành thí nghiệm The psychiatrists felt that 'most subjects would not go beyond 150 volts' and they further anticipated that only four per cent would go up to 300 volts Những nhà tâm thần học cảm thấy rằng “đa số đối tượng sẽ không vượt qua mốc 150 volt” và họ còn dự báo rằng sẽ chỉ có 4% đối tượng tiến hành tới mức 300 volt Furthermore, they thought that only a lunatic fringe of about one in 1,000 would give the highest shock of 450 volts Furthermore, they thought that only a lunatic cringe of about one in 1,000 would give the highest shock of 450 volts Ngoài ra, họ nghĩ rằng chỉ có kẻ cực đoan (với tỷ lệ khoảng 1 trong 1000 người) mới tiến hành mức sốc điện cao nhất là 450 volt
E
What were the actual results? Well, over 60 per cent of the teacher-subjects continued to obey Milgram up to the 450-volt limit! In repetitions of the experiment in other countries, the percentage of obedient teacher-subjects was even higher, reaching 85 per cent in one country Kết quả cuối cùng là gì
? À, trên 60% đối tượng-giáo viên tiếp tục tuân theo Milgram tới mức giới hạn 450 volt ! Trong những lần lặp lại thí nghiệm này ở một số quốc gia khác, tỷ lệ đối tượng tuân thủ thậm chí còn cao hơn, đạt 85% ở một quốc gia How can we possibly account for this vast discrepancy between what calm, rational, knowledgeable people predict in the comfort of their study and what pressured, flustered, but cooperative teachers' actually do in the laboratory of real life? Làm sao chúng ta có thể giải thích được
sự khác biệt to lớn giữa điều mà những người bình tĩnh, lý trí, có kiến thức đã dự đoán với sự tự tin, thoải mái nhờ quá trình nghiên cứu của họ và điều mà những “giáo viên” bị áp lực, bối rối nhưng mang tinh thần hợp tác đã thực sự làm trong điều kiện thí nghiệm ở đời thực ?
F
One's first inclination might be to argue that there must be some sort of built-in animal aggression instinct that was activated by the experiment, and that Milgram's teacher¬subjects were just following a genetic need to discharge this pent-up primal urge onto the pupil by administering the electrical shock Khuynh hướng đầu tiên sẽ là đưa ra luận điểm rằng chắc hẳn một loại bản năng hung hăng như của động vật, có sẵn trong người chúng ta đã được cuộc thí nghiệm kích hoạt, và rằng đối tượng-giáo viên của Milgram chỉ đơn thuần tuân theo nhu cầu di truyền phải giải tỏa nỗi thúc giục cơ bản, bị dồn nén này bằng cách thực hiện biện pháp sốc điện lên học trò A modern hard-core sociobiologist might even go so far as to claim that this aggressive instinct evolved as an advantageous trait, having been of survival value to our ancestors in their struggle against the hardships of life on the plains and in the caves, ultimately finding its way into our genetic make-up as a remnant of our ancient animal ways Một nhà sinh thái xã hội học hiện đại, theo trường phái cứng rắn thậm chí còn có thể khẳng định rằng bản năng hung bạo này đã tiến hóa như là một đặc điểm có lợi, có giá trị sinh tồn đối với tổ tiên loài người trong cuộc chiến chống chọi lại thử thách, gian khổ của đời sống trên thảo nguyên, trong hang động và cuối cùng tìm ra đường đi vào cấu trúc di truyền của chúng ta như là dấu vết còn lại
từ lối sống kiểu động vật cổ xưa của loài người
Trang 8G
An alternative to this notion of genetic programming is to see the teacher-subjects' actions as a result of the social environment under which the experiment was carried out Luận điểm thay thế cho quan niệm về lập trình di truyền này là nhìn nhận hành động của đối tượng-giáo viên như kết quả của môi trường xã hội mà thí nghiệm được tiến hành As Milgram himself pointed out, 'Most subjects in the experiment see their behaviour in a larger context that is benevolent and useful to society - the pursuit of scientific truth Theo như Milgram tự chỉ ra thì “Đa số đối tượng trong thí nghiệm nhìn nhận hành vi của
họ trong một bối cảnh lớn hơn, nhân ái và hữu dụng cho xã hội – sự theo đuổi chân lý khoa học The psychological laboratory has a strong claim to legitimacy and evokes trust and confidence in those who perform there Phòng thí nghiệm tâm lý đóng vai trò khẳng định mạnh mẽ cho tính hợp pháp, chính đáng
và tạo được sự tin tưởng, tín nhiệm đối với những người làm việc tại đó An action such as shocking a victim, which in isolation appears evil, acquires a completely different meaning when placed in this setting.' Một hành động chẳng hạn như giật điện nạn nhân, vốn có vẻ độc ác nếu nhìn nhận riêng lẻ, lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác khi được đặt trong bối cảnh này
H
Thus, in this explanation the subject merges his unique personality and personal and moral code with that of larger institutional structures, surrendering individual properties like loyalty, self-sacrifice and discipline to the service of malevolent systems of authority Do đó, trong cách giải thích này đối tượng đã hợp nhất tính cách riêng, quy chuẩn đạo đức và cá nhân của bản thân mình với đặc điểm của các cấu trúc tổ chức lớn hơn; từ bỏ các đặc tính cá nhân như lòng trung thành, sự hi sinh và tính kỷ luật
để phục vụ cho hệ thống cơ quan quyền lực có ảnh hưởng xấu
I
Here we have two radically different explanations for why so many teacher-subjects were willing
to forgo their sense of personal responsibility for the sake of an institutional authority figure Ở đây chúng ta có hai cách giải thích hoàn toàn khác nhau về lý do vì sao có quá nhiều đối tượng-giáo viên mong muốn bỏ qua cảm giác về trách nhiệm bản thân để phục vụ lợi ích của một thực thể quyền lực mang tính tổ chức The problem for biologists, psychologists and anthropologists is to sort out which of these two polar explanations is more plausible Vấn đề đặt ra cho các nhà sinh học, tâm lý học và nhân chủng học là làm sao chọn ra đâu trong hai thái cực này là cách giải thích thiết thực hơn This, in essence, is the problem of modern sociobiology - to discover the degree to which hard-wired genetic programming dictates, or at least strongly biases, the interaction of animals and humans with their environment, that is, their behaviour Về bản chất, đây là vấn đề của ngành sinh thái xã hội học hiện đại – khám phá ra mức độ mà ở đó lập trình di truyền vĩnh viễn ra lệnh, hay ít nhất là tạo ra thành kiến trong
sự tương tác giữa động vật và con người với môi trường (tức hành vi) Put another way, sociobiology is concerned with elucidating the biological basis of all behaviour Nói cách khác, ngành sinh thái xã hội học quan tâm đến việc làm sáng tỏ nền tảng sinh học của tất cả hành vi
The Truth about the Environment
For many environmentalists, the world seems to be getting worse Với nhiều nhà môi trường học, thế giới dường như đang trở nên tệ hơn They have developed a hit-list of our main fears: that natural resources are running out; that the population is ever growing, leaving less and less to eat; that species
Trang 9are becoming extinct in vast numbers, and that the planet's air and water are becoming ever more polluted.Họ đã lập một danh sách đen gồm những mối lo sợ chính của chúng ta: tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; dân số tăng lên không ngừng, khiến cho lương thực ngày càng khan hiếm; các loài bị tuyệt chủng với số lượng lớn; không khí và nước trên hành tinh không ngừng bị ô nhiễm nhiều hơn
But a quick look at the facts shows a different picture Nhưng nếu nhìn thoáng qua các sự kiện, chúng ta sẽ thấy bức tranh hoàn toàn khác First, energy and other natural resources have become more abundant, not less so, since the book 'The limits to Growth' was published in 1972 by a group of scientists Đầu tiên, năng lượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đã trở nên dư thừa, chứ không phải giảm đi, kể từ khi quyển “The Limits to Growth” được một nhóm khoa học gia phát hành vào năm
1972 Second, more food is now produced per head of the world's population than at any time in history Thứ hai, thực phẩm sản xuất ra tính trên đầu người cho dân số toàn thế giới hiện nhiều hơn bất
kỳ thời điểm nào trong lịch sử Fewer people are starving Ngày càng có ít người bị đói hơn Third, although species are indeed becoming extinct, only about 0.7% of them are expelled to disappear in the next SO years, not 25-50%, as has so often been predicted Thứ ba, mặc dù thật sự các loài đang bị tuyệt chủng nhưng người ta mong đợi rằng chỉ có 0,7% trong số đó bị biến mất trong 50 năm tới, chứ không phải 25-50% như dự đoán thông thường And finally, most forms of environmental pollution either appear to have been exaggerated, or are transient - associated with the early phases of industrialisation and therefore best cured not by restricting economic growth, but by accelerating it Và cuối cùng, đa phần các loại ô nhiễm môi trường hoặc là bị thổi phồng lên hoặc chỉ mang tính tạm thời – liên quan đến những giai đoạn sơ khởi của quá trình công nghiệp hóa và do đó nên được giải quyết tốt nhất không phải bằng cách hạn chế tăng trưởng kinh tế mà phải đẩy nhanh tiến trình đó One form of pollution - the release of greenhouse gases that causes global warming - does appear to be a phenomenon that is going
to extend well into our future, but its total impact is unlikely to pose a devastating problem Một dạng ô nhiễm môi trường – việc thải các loại khí nhà kính, gây nên nạn ấm lên toàn cầu – có vẻ như là hiện tượng sẽ kéo dài đến tương lai, nhưng tổng lượng tác động của nó hầu như không tạo ra vấn đề mang tính hủy hoại A bigger problem may well turn out to be an inappropriate response to it Có vẻ một vấn
đề lớn hơn hóa ra lại là cách phản hồi không phù hợp với vấn đề này
Yet opinion polls suggest that many people nurture the belief that environmental standards are declining and four factors seem to cause this disjunction between perception and reality.Thế nhưng, các cuộc khảo sát gợi ý rằng nhiều người đang nuôi dưỡng niềm tin rằng tiêu chuẩn môi trường đang giảm sút và có bốn yếu tố dường như gây nên sự chia cắt giữa nhận thức và hiện thực
One is the lopsidedness built into scientific research Scientific funding goes mainly to areas with many problems Thứ nhất là sự lệch, không cân đối gắn với nghiên cứu khoa học Nguồn quỹ dành cho khoa học chủ yếu chảy vào các lĩnh vực có nhiều vấn đề That may be wise policy but it will also create
an impression that many more potential problems exist than is the case Đó có thể là một chính sách thông thái, nhưng nó cũng sẽ tạo nên ấn tượng rằng còn tồn tại nhiều vấn đề tiềm ẩn hơn so với thực tế
Secondly, environmental groups need to be noticed by the mass media Thứ hai, các nhóm hoạt động vì môi trường cần phải được giới truyền thông chú ý đến They also need to keep the money rolling in Họ cũng cần phải giữ cho nguồn tiền chảy vào quỹ của mình Understandably, perhaps, they sometimes overstate their arguments Thế nên có lẽ cũng dễ hiểu khi thỉnh thoảng họ lại phóng đại những luận điểm của mình In 1997, for example, the World Wide Fund for Nature issued a press release entitled: 'Two thirds of the world's forests lost forever' Chẳng hạn như vào năm 1997, Quỹ quốc
Trang 10tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) xuất bản một ấn phẩm với tiêu đề: “Hai phần ba cánh rừng trên toàn thế giới bị mất vĩnh viễn” The truth turns out to be nearer 20% Con số này thật ra chỉ khoảng 20%
Though these groups are run overwhelmingly by selfless folk, they nevertheless share many of the characteristics of other lobby groups Mặc dù những nhóm này được điều hành chủ yếu bởi các cá nhân luôn quan tâm đến người khác nhưng chúng cũng có nhiều đặc điểm giống với các nhóm vận động hành lang That would matter less if people applied the same degree of scepticism to environmental lobbying as they do to lobby groups in other fields Điều này sẽ ít gây ra rắc rối hơn nếu mọi người áp dụng mức độ hoài nghi với các nhóm vận động hành lang vì môi trường tương tự như với nhóm vận động hành lang ở những lĩnh vực khác A trade organisation arguing for, say, weaker pollution control
is instantly seen as self-interested Chẳng hạn như một tổ chức thương mại ủng hộ cho biện pháp kiểm soát ô nhiễm ít quyết liệt hơn sẽ ngay lập tức bị xem như là tư lợi riêng cho mình Yet a green organisation opposing such a weakening is seen as altruistic, even if an impartial view of the controls in question might suggest they are doing more harm than good Thế nhưng một tổ chức “xanh”, chống đối lại sự nới lỏng đó lại được xem như có lòng vị tha, dẫu cho một cái nhìn khách quan về biện pháp kiểm soát đang được xem xét có thể chỉ ra rằng nó gây hại nhiều hơn là có tác dụng tốt
A third source of confusion is the attitude of the media Nguồn gây mập mờ, lẫn lộn thứ ba là thái độ của giới truyền thông People are dearly more curious about bad news than good Rõ ràng con người tò mò về tin xấu nhiều hơn là tin tốt lành Newspapers and broadcasters are there to provide what the public wants: Các tòa báo và các kênh truyền hình luôn sẵn sàng cung cấp những gì mà công chúng muốn That, however, can lead to significant distortions of perception Thế nhưng, điều đó có thể dẫn đến sự méo mó đáng kể về mặt nhận thức An example was America's encounter with EI Nino in 1997 and 1998 Một ví dụ điển hình là sự chạm trán của nước Mỹ với hiện tượng El Nino vào năm 1997 và
1998 This climatic phenomenon was accused of wrecking tourism, causing allergies, melting the slopes, and causing 22 deaths Hiện tượng thời tiết này bị quy kết là đã tàn phá nền du lịch, gây dị ứng, làm tan chảy các sườn dốc dùng để trượt tuyết và làm chết 22 người However, according to an article
ski-in the Bulletski-in of the American Meteorological Society, the damage it did was estimated at US$4 billion but the benefits amounted to some US$19 billion Tuy nhiên, theo mục tin trong tờ Bulletin of the American Meteorological Society, thiệt hại do nó gây ra được ước tính khoảng 4 tỷ USD nhưng lợi ích
mà nó mang lại lên đến khoảng 19 tỷ USD These came from higher winter temperatures (which saved
an estimated 850 lives, reduced heating costs and diminished spring floods caused by meltwaters).Chúng đến từ nền nhiệt độ cao hơn vào mùa đông (vốn cứu sống khoảng 850 sinh mạng, giảm chi phí sưởi và hạn chế những trận lũ mùa xuân do tuyết tan gây ra)
The fourth factor is poor individual perception Yếu tố thứ tư là nhận thức cá nhân còn hạn chế People worry that the endless rise in the amount of stuff everyone throws away will cause the world to run out of places to dispose of waste Mọi người lo ngại rằng sự gia tăng không ngừng lượng vật dụng
mà con người bỏ đi sẽ khiến thế giới không còn chỗ để chứa chất thải Yet, even if America's trash output continues to rise as it has done in the past, and even if the American population doubles by 2100, all the rubbish America produces through the entire 21st century will still take up only one-12,000th of the area v of the entire United States Thế nhưng, dẫu cho lượng rác thải ra của nước Mỹ có tiếp tục tăng như trong quá khứ, và ngay cả khi dân số nước Mỹ có tăng gấp đôi vào năm 2100 thì tất cả lượng rác thải của nước Mỹ trong suốt thế kỷ XXI vẫn sẽ chỉ lấp đầy 1/12000 diện tích của toàn đất nước
So what of global warming? As we know, carbon dioxide emissions are causing the planet to warm The best estimates are that the temperatures will rise by 2-3°C in this century, causing
Trang 11considerable problems, at a total cost of US$5,000 billion Vậy hiện tượng ấm lên toàn cầu thì sao ? Như chúng ta đều biết, việc xả thải khí CO2 đang khiến hành tinh ấm lên Ước tính chính xác nhất là nền nhiệt độ sẽ tăng 2-3oC trong thế kỷ này, gây ra nhiều vấn đề đáng quan tâm, tiêu tốn tổng cộng 5000 tỷ USD
Despite the intuition that something drastic needs to be done about such a costly problem, economic analyses dearly show it will be far more expensive to cut carbon dioxide emissions radically than to pay the costs of adaptation to the increased temperatures Mặc cho trực giác rằng chúng ta cần phải quyết liệt thực hiện điều gì đó trước một vấn đề đắt đỏ như vậy, những phân tích kinh tế chỉ ra rằng việc giảm thiểu một cách hợp lý lượng khí CO2 thải ra sẽ tiêu tốn nhiều hơn so với việc trả chi phí thích ứng với nền nhiệt độ tăng lên A model by one of the main authors of the United Nations Climate Change Panel shows how an expected temperature increase of 2.1 degrees in 2100 would only be diminished to an increase of 1.9 degrees Mô hình của một trong những tác giả chính của Danh sách báo cáo về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc chỉ ra mức tăng nhiệt độ được dự đoán vào năm 2100 từ 2,1oC sẽ chỉ giảm xuống còn 1,9oC như thế nào Or to put it another way, the temperature increase that the planet would have experienced in 2094 would be postponed to 2100 Hay nói cách khác, sự gia tăng nhiệt độ mà hành tinh đối mặt vào năm 2094 sẽ được trì hoãn đến năm 2100
So this does not prevent global warming, but merely buys the world six years Vậy, điều này không ngăn ngừa được hiện tượng ấm lên toàn cầu mà chỉ đơn thuần cho thế giới thêm sáu năm Yet the cost of reducing carbon dioxide emissions, for the United States alone, will be higher than the cost of solving the world's single, most pressing health problem: providing universal access to clean drinking water and sanitation Thế nhưng chi phí để giảm thiểu lượng khí CO2 thải ra, chỉ tính riêng ở nước Mỹ,
sẽ cao hơn nhiều chi phí để giải quyết vấn đề sức khỏe đơn lẻ, cấp bách nhất trên toàn thế giới: cung cấp khả năng tiếp cận nguồn nước uống sạch và tình trạng bảo đảm vệ sinh trên khắp thế giới Such measures would avoid 2 million deaths every year, and prevent half a billion people from becoming seriously ill Những biện pháp này sẽ giúp tránh được 2 triệu ca tử vong mỗi năm, và bảo vệ nửa triệu người khỏi các căn bệnh nghiêm trọng
It is crucial that we look at the facts if we want to make the best f: possible decisions for the future It may be costly to be overly optimistic - but more costly still to be too pessimistic Việc nhìn thẳng vào sự thật là rất quan trọng nếu chúng ta muốn đưa ra quyết định khả dĩ, tốt nhất cho tương lai Thái độ lạc quan quá mức có thể rất đắt đỏ - nhưng sẽ còn đắt hơn nữa nếu chúng ta quá bi quan
BAKELITE - The birth of modern plastics
In 1907, Leo Hendrick Baekeland, a Belgian scientist working in New York, discovered and patented a revolutionary new synthetic material Vào năm 1907, Leo Hendrick Baekeland - một nhà khoa học người Bỉ làm việc tại New York - đã khám phá ra và đăng ký độc quyền loại vật liệu tổng hợp mới, mang tính cách mạng His invention, which he named 'Bakelite', was of enormous technological importance, and effectively launched the modern plastics industry Sáng kiến mà ông đặt tên “Bakelite”
có tầm quan trọng to lớn về mặt công nghệ và là bệ phóng hiệu quả cho sự ra đời của ngành công nghiệp nhựa tổng hợp hiện đại
The term 'plastic' comes from the Greek plassein, meaning 'to mould' Thuật ngữ “chất dẻo” hay
“nhựa” (plastic) xuất phát từ tiếng Hy Lạp plassein, có nghĩa là “đúc, nặn” Some plastics are derived from natural sources, some are semi-synthetic (the result of chemical action on a natural substance), and
Trang 12some are entirely synthetic, that is, chemically engineered from the constituents of coal or oil Một số chất dẻo được trích xuất từ nguyên liệu tự nhiên, số khác thuộc dạng bán tổng hợp (kết quả của phản ứng hóa học trên hợp chất tự nhiên) và cũng có loại chất dẻo được tổng hợp hoàn toàn, tức là được điều chế hóa học từ các thành tố có trong than hoặc dầu hỏa Some are 'thermoplastic', which means that, like candlewax, they melt when heated and can then be reshaped Một số là “nhựa nhiệt dẻo”, tức giống như sáp nến, chúng tan chảy ra khi bị nung nóng và có thể được tạo hình lại Others are 'thermosetting': like eggs, they cannot revert to their original viscous state, and their shape is thus fixed for ever Một số khác lại thuộc dạng “nhựa nhiệt cứng”: tương tự như trứng, chúng không thể biến đổi trở lại trạng thái nhờn ban đầu, và do đó hình dạng của chúng bị cố định mãi mãi Bakelite had the distinction of being the first totally synthetic thermosetting plastic Bakelite có nét đặc trưng riêng, là chất dẻo thuộc dạng nhựa nhiệt cứng đầu tiên được tổng hợp hoàn toàn
The history of today's plastics begins with the discovery of a series of semi-synthetic thermoplastic materials in the mid-nineteenth century Lịch sử của chất dẻo hiện đại bắt nguồn từ việc khám phá ra một loạt chất liệu bán tổng hợp thuộc dạng nhựa nhiệt dẻo vào giữa thế kỷ XIX The impetus behind the development of these early plastics was generated by a number of factors - immense technological progress in the domain of chemistry, coupled with wider cultural changes, and the pragmatic need to find acceptable substitutes for dwindling supplies of 'luxury' materials such as tortoiseshell and ivory Động lực cho việc phát triển những loại chất dẻo sơ khai này xuất phát từ một số yếu tố - hàng loạt tiến bộ công nghệ đáng kể trong lĩnh vực hóa học, sự biến đổi văn hóa rộng lớn hơn và nhu cầu thực tế trong việc tìm loại chất chấp nhận được, thay thế cho những nguyên liệu “xa xỉ”, ngày một giảm sút như mai rùa và ngà voi
Baekeland's interest in plastics began in 1885 when, as a young chemistry student in Belgium, he embarked on research into phenolic resins, the group of sticky substances produced when phenol (carbolic acid) combines with an aldehyde (a volatile fluid similar to alcohol) Niềm hứng thú với chất dẻo của Baekeland bắt đầu vào năm 1885 khi – vẫn còn là một cậu sinh viên chuyên ngành hóa ở Bỉ - ông đã bắt tay vào nghiên cứu nhựa phenolic, nhóm chất liệu dính được hình thành khi kết hợp phenol (carbolic acid) với gốc aldehyde (chất lỏng dễ bay hơi, tương tự như rượu) He soon abandoned the subject, however, only returning to it some years later By 1905 he was a wealthy New Yorker, having recently made his fortune with the invention of a new photographic paper Tuy nhiên, ông sớm ngừng chủ đề này và chỉ quay lại nghiên cứu vài năm sau đó Đến năm 1905, ông trở thành cư dân giàu có ở thành phố New York nhờ thu được lợi nhuận từ việc phát minh ra loại giấy ảnh mới While Baekeland had been busily amassing dollars, some advances had been made in the development of plastics Trong khi Baekeland bận rộn thu góp những đồng dollar thì trên thế giới đã xuất hiện một số bước tiến trong lĩnh vực phát triển chất dẻo The years 1899 and 1900 had seen the patenting of the first semi-synthetic thermosetting material that could be manufactured on an industrial scale Năm 1899 và 1900 đã chứng kiến sự đăng ký độc quyền loại chất liệu bán tổng hợp đầu tiên thuộc dạng nhựa nhiệt cứng, có thể được sản xuất trên quy mô công nghiệp In purely scientific terms, Baekeland's major contribution to the field
is not so much the actual discovery of the material to which he gave his name, but rather the method by which a reaction between phenol and formaldehyde could be controlled, thus making possible its preparation on a commercial basis Nếu chỉ xét về mặt khoa học thì đóng góp to lớn của Baekeland cho lĩnh vực hóa học không hẳn nằm ở việc thực sự khám phá ra loại chất liệu sau đó được ông đặt theo tên mình mà là ở phương pháp kiểm soát phản ứng giữa phenol và formaldehyde, từ đó đưa lại sự chuẩn bị cần thiết trên nền tảng thương mại On 13 July 1907, Baekeland took out his famous patent describing this preparation, the essential features of which are still in use today
Trang 13Ngày 13/7/1907, Baekeland đưa ra bằng sáng chế nổi tiếng của mình, trong đó mô tả quá trình chuẩn bị và những yếu tố cần thiết, vốn vẫn được sử dụng đến ngày nay
The original patent outlined a three-stage process, in which phenol and formaldehyde (from wood or coal) were initially combined under vacuum inside a large egg-shaped kettle Bằng sáng chế đầu tiên vạch ra quy trình gồm ba bước, trong đó phenol và formaldehyde (từ gỗ hoặc than) trước hết được kết hợp dưới điều kiện môi trường chân không trong một nồi hơi lớn có dạng quả trứng The result was a resin known as Novalak, which became soluble and malleable when heated Kết quả thu được là nhựa Novalak, vốn trở nên dễ uốn dẻo và hòa tan được khi bị nung nóng The resin was allowed to cool
in shallow trays until it hardened, and then broken up and ground into powder Nhựa được làm nguội trong chậu nông đến khi đông đặc lại, sau đó bị đập vỡ ra và nghiền thành bột Other substances were then introduced: including fillers, such as woodflour, asbestos or cotton, which increase strength and moisture resistance, catalysts (substances to speed up the reaction between two chemicals without joining to either) and hexa, a compound of ammonia and formaldehyde which supplied the additional formaldehyde necessary to form a thermosetting resin Sau đó người ta thêm vào một số chất khác: bao gồm chất phụ gia như bột gỗ, khoáng chịu nhiệt hay sợi bông - giúp tăng độ bền và khả năng chống ẩm – chất xúc tác (chất gia tăng tốc độ phản ứng giữa hai chất hóa học mà không phản ứng với cả hai chất đó) và hexa, một hỗn hợp giữa ammonia và formaldehyde, giúp bổ sung lượng formaldehyde cần thiết
để hình thành dạng nhựa nhiệt cứng This resin was then left to cool and harden, and ground up a second time Loại nhựa này tiếp tục được để nguội, đông đặc và nghiền nhỏ lần hai The resulting granular powder was raw Bakelite, ready to be made into a vast range of manufactured objects Chất bột dạng hạt thu được chính là Bakelite thô để chế biến thành vô số loại hàng hóa In the last stage, the heated Bakelite was poured into a hollow mould of the required shape and subjected to extreme heat and pressure; thereby 'setting' its form for life Ở bước cuối cùng, Bakelite nóng được đổ vào khuôn trũng với hình dạng theo yêu cầu và chịu tác dụng của lượng nhiệt, áp suất lớn để tạo nên hình dạng vĩnh viễn của nó
The design of Bakelite objects, everything from earrings to television sets, was governed to a large extent by the technical requirements of the moulding process Thiết kế của các vật bằng Bakelite, mọi thứ từ hoa tai đến màn hình TV, đều được kiểm soát chủ yếu nhờ vào những yêu cầu kỹ thuật trong quá trình đúc khuôn The object could not be designed so that it was locked into the mould and therefore difficult to extract Người ta không thể thiết kế sản phẩm mà lại khiến nó dính cứng vào khuôn và do đó rất khó để tách ra A common general rule was that objects should taper towards the deepest part of the mould, and if necessary the product was moulded in separate pieces Quy tắc chung là vật phải giảm dần kích thước khi tiến đến phần sâu nhất của khuôn, và nếu cần thiết thì sản phẩm có thể được đúc thành từng mảnh rời Moulds had to be carefully designed so that the molten Bakelite would flow evenly and completely into the mould Khuôn đúc cần phải được thiết kế cẩn thận sao cho Bakelite nóng chảy có thể chảy đều và lấp đầy khuôn Sharp corners proved impractical and were thus avoided, giving rise to the smooth, 'streamlined' style popular in the 1930s Những góc sắc, nhọn tỏ ra không thiết thực và do
đó bị tránh sử dụng, mở đường cho sự xuất hiện của dạng nhẵn, trơn, “dáng thuôn” phổ biến trong thập niên 1930 The thickness of the walls of the mould was also crucial: thick walls took longer to cool and harden, a factor which had to be considered by the designer in order to make the most efficient use of machines Độ dày thành khuôn cũng rất quan trọng: thành dày sẽ tốn nhiều thời gian hơn để nguội đi và đông đặc lại – một yếu tố mà nhà thiết kế cần phải cân nhắc để sử dụng máy móc hiệu quả nhất
Baekeland's invention, although treated with disdain in its early years, went on to enjoy an unparalleled popularity which lasted throughout the first half of the twentieth century It became the
Trang 14wonder product of the new world of industrial expansion -'the material of a thousand uses' Phát minh của Baekeland, mặc dù phải chịu nhiều ánh mắt coi thường trong những năm đầu tiên, đã trở nên phổ biến, không có đối thủ cạnh tranh trong suốt nửa đầu thế kỷ XX Nó trở thành sản phẩm kỳ diệu trong thế giới mới, gắn với sự bành trướng công nghiệp – “loại vật liệu với cả ngàn công dụng” Being both non-porous and heat-resistant, Bakelite kitchen goods were promoted as being germ-free and sterilisable Vừa không thuộc dạng xốp vừa chống nhiệt nên sản phẩm nhà bếp làm từ Bakelite được quảng cáo là không có mầm bệnh và khử trùng được Electrical manufacturers seized on its insulating: properties, and consumers everywhere relished its dazzling array of shades, delighted that they were now, at last, no longer restricted to the wood tones and drab browns of the prepfastic era Những nhà sản xuất điện tử chộp lấy tính năng cách điện của nó và người tiêu dùng ở khắp mọi nơi thích thú trước hàng loạt màu sắc chói sáng của nó, phấn khởi rằng cuối cùng họ đã không còn bị giới hạn bởi âm thanh phát
ra từ gỗ và màu nâu tẻ nhạt trong thời kỳ “tiền” nhựa dẻo It then fell from favour again during the 1950s, and was despised and destroyed in vast quantities Sau đó, nó lại không được ưu chuộng trong thập niên 1950, bị xem thường và tiêu hủy với số lượng lớn Recently, however, it has been experiencing something of a renaissance, with renewed demand for original Bakelite objects in the collectors' marketplace, and museums, societies and dedicated individuals once again appreciating the style and originality of this innovative material Tuy nhiên gần đây, bắt đầu xuất hiện quá trình “phục hưng” với luồng nhu cầu mới dành cho vật làm từ Bakelite nguyên chất trong thị trường của giới sưu tập; và bảo tàng, xã hội cùng các cá nhân tận tụy lại một lần nữa đánh giá cao phong cách và sự độc đáo của loại vật liệu mang tính đổi mới này
What's so funny?
John McCrone reviews recent research on humour
The joke comes over the headphones: ' Which side of a dog has the most hair? The left.' Trò đùa vẳng qua tai nghe: “Bên nào của con chó có nhiều lông nhất ? Bên trái.” No, not funny Không, chẳng vui gì cả Try again Hãy thử lại nào ' Which side of a dog has the most hair? “Bên nào của con chó có nhiều lông nhất ? The outside.' Bên ngoài.” Hah! Hah! The punchline is silly yet fitting, tempting a smile, even a laugh Điểm nhấn của câu chuyện nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng lại rất phù hợp, gợi lên nụ cười hay thậm chí là tràng cười lớn Laughter has always struck people as deeply mysterious, perhaps pointless Tiếng cười luôn đến với con người một cách vô cùng bí ẩn và có lẽ là khá vu vơ The writer Arthur Koestler dubbed it the luxury reflex: 'unique in that it serves no apparent biological purpose'.Tác giả Arthur Koestler gọi nó là sự phản xạ xa xỉ: “độc đáo ở chỗ nó chẳng phục vụ mục đích sinh học cụ thể nào.”
Theories about humour have an ancient pedigree Những học thuyết về trí hài hước đã có lịch sử lâu đời Plato expressed the idea that humour is simply a delighted feeling of superiority over others Plato đưa ra ý kiến rằng sự hài hước đơn thuần chỉ là cảm giác vui vẻ của người ở địa vị cao hơn đối với những người khác Kant and Freud felt that joke-telling relies on building up a psychic tension which is safely punctured by the ludicrousness of the punchline Kant và Freud cảm thấy nói đùa phụ thuộc vào việc tạo nên một sự căng thẳng tinh thần có thể bị xuyên thủng một cách an toàn bởi sự lố bịch của điểm nút But most modern humour theorists have settled on some version of Aristotle's belief that jokes are based on a reaction to or resolution of incongruity, when the punchline is either a nonsense or, though appearing silly, has a clever second meaning Thế nhưng phần lớn những nhà lý thuyết hiện đại về sự hài hước đã đồng thuận với một số phiên bản niềm tin của Aristotle rằng trò đùa dựa trên phản ứng hay
Trang 15cách giải quyết điều phi lý, khi điểm thắt của câu chuyện hoặc là chẳng mang ý nghĩa gì hoặc, mặc dù có
vẻ ngớ ngẩn, lại mang ý nghĩa thông minh ẩn sau đó
Graeme Ritchie, a computational linguist in Edinburgh, studies the linguistic structure of jokes in order to understand not only humour but language understanding and reasoning in machines Graeme Ritchie – nhà ngôn ngữ học máy tính ở Edinburgh – nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ của lời nói đùa để không chỉ tìm hiểu sự hài hước mà còn cả sự hiểu và lập luận ngôn ngữ trong máy móc He says that while there is no single format for jokes, many revolve around a sudden and surprising conceptual shift Ông nhận thấy trong khi không hề có khuôn mẫu nào cho trò đùa thì đa phần đều xoay quanh một sự thay đổi nhận thức đột ngột và bất ngờ A comedian will present a situation followed by an unexpected interpretation that is also apt Nghệ sĩ hài sẽ đưa ra một tình huống, và theo sau đó là lời giải thích bất ngờ nhưng vẫn rất hợp lý
So even if a punchline sounds silly, the listener can see there is a clever semantic fit and that sudden mental 'Aha!' is the buzz that makes us laugh Vậy nên ngay cả khi điểm mấu chốt nghe có vẻ ngớ ngẩn thì người nghe vẫn có thể thấy được sự phù hợp thông minh về mặt ngữ nghĩa và chính cảm xúc tâm lý “Aha!” bất chợt đó là điều khiến chúng ta cười Viewed from this angle, humour is just a form of creative insight, a sudden leap to a new perspective Nhìn từ góc độ này, sự hài hước chỉ là một dạng nhận thức sáng tạo, bước biển đổi đột ngột sang một quan điểm mới
However, there is another type of laughter, the laughter of social appeasement and it is important
to understand this too Tuy nhiên, còn có một dạng tiếng cười khác – tiếng cười thể hiện sự khuây khỏa
về mặt xã hội - và tìm hiểu nó cũng là việc rất quan trọng Play is a crucial part of development in most young mammals Chơi đùa là một phần quan trọng trong quá trình phát triển của đa số động vật có vú Rats produce ultrasonic squeaks to prevent their scuffles turning nasty Loài chuột phát ra tiếng kêu the thé ở tầng sóng siêu âm để ngăn cuộc tranh giành trở thành trận ẩu đả Chimpanzees have a 'play-face' -
a gaping expression accompanied by a panting 'ah, ah' noise Loài tinh tinh có “nét mặt chơi đùa” – biểu hiện há hốc mồm đi liền với tiếng “ah ah” In humans, these signals have mutated into smiles and laughs Ở người, những dấu hiệu đó đã biến thể thành nụ cười và tiếng cười Researchers believe social situations, rather than cognitive events such as jokes, trigger these instinctual markers of play or appeasement Giới nghiên cứu tin rằng chính tình huống xã hội, chứ không phải sự kiện nhận thức như trò đùa, mới là yếu tố kích hoạt những dấu hiện vui đùa, khuây khỏa thuộc về bản năng này People laugh on fairground rides or when tickled to flag a play situation, whether they feel amused or not Con người cười khi tham gia trò chơi ở công viên giải trí hay bị cù để báo hiệu một tình huống chơi đùa, dù cho họ có cảm thấy vui hay không
Both social and cognitive types of laughter tap into the same expressive machinery in our brains, the emotion and motor circuits that produce smiles and excited vocalisations Cả loại tiếng cười xã hội
và tiếng cười nhận thức đều chạm vào cùng cơ chế biểu đạt trong não bộ của chúng ta – vùng não vận động và vùng não cảm xúc, nơi sản sinh ra nụ cười và sự thốt lên phấn khích However, if cognitive laughter is the product of more general thought processes, it should result from more expansive brain activity Tuy nhiên, nếu tiếng cười nhận thức là sản phẩm của quá trình suy nghĩ tổng quát hơn thì nó nên bắt nguồn từ hoạt động não bộ rộng lớn hơn
Psychologist Vinod Goel investigated humour using the new technique of 'single event' functional magnetic resonance imaging (fMRl) Nhà tâm lý học Vinod Goel đã điều tra sự hài hước bằng cách sử dụng phương pháp mới: cộng hưởng từ chức năng (fMRI) “đơn lẻ” An MRI scanner uses
Trang 16magnetic fields and radio waves to track the changes in oxygenated blood that accompany mental activity Máy quét cộng hưởng từ sử dụng từ trường và sóng vô tuyến để lần theo những thay đổi trong luồng máu giàu oxy đi cùng với hoạt động thần kinh Until recently, MRI scanners needed several minutes of activity and so could not be used to track rapid thought processes such as comprehending a joke Mãi cho đến gần đây, máy quét MRI vẫn cần có hoạt động kéo dài vài phút, do đó không thể theo dõi quá trình suy nghĩ tức thì như việc hiểu một trò đùa chẳng hạn New developments now allow half-second 'snapshots' of all sorts of reasoning and problem-solving activities Những bước cải tiến mới giờ đây cho phép “chụp” được những biến đổi kéo dài chỉ nửa giây của tất cả hoạt động lập luận và giải quyết vấn đề
Although Goel felt being inside a brain scanner was hardly the ideal place for appreciating a joke, he found evidence that understanding a joke involves a widespread mental shift Mặc dù Goel cảm thấy bên trong máy quét MRI không phải là nơi lý tưởng để tận hưởng trò đùa nhưng ông cũng đã tìm ra bằng chứng cho thấy quá trình hiểu một trò đùa bao gồm sự biến đổi tâm lý rộng lớn His scans showed that at the beginning of a joke the listener'$ prefrontal cortex lit up, particularly the right prefrontal believed to be critical for problem solving Kết quả quét của ông chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu của trò đùa, vùng vỏ não trán trước sáng lên, đặc biệt là vùng bên phải vỏ não trán trước (vốn được cho là rất quan trọng đối với quá trình giải quyết vấn đề) But there was also activity in the temporal lobes at the side of the head (consistent with attempts to rouse stored knowledge) and in many other brain areas Tuy nhiên, đồng thời cũng xuất hiện hoạt động ở thùy thái dương tại một bên đầu (gắn với nỗ lực khơi dậy kiến thức được lưu trữ) và các khu vực khác trong não Then when the punchline arrived, a new area sprang to life -the orbital prefrontal cortex Sau đó, khi đến điểm mấu chốt của trò đùa thì một vùng não khác bừng sống dậy – vùng tiền vỏ trán ổ mắt This patch of brain tucked behind the orbits of the eyes is associated with evaluating information Phần não nằm phía sau ổ mắt này có vai trò đánh giá thông tin
Making a rapid emotional assessment of the events of the moment is an extremely demanding job for the brain, animal or human Dù là động vật hay con người thì đưa ra đánh giá cảm xúc tức thời
về một sự kiện thoáng qua vẫn là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn đối với não bộ Energy and arousal levels may need, to be retuned in the blink of an eye Năng lượng và mức độ kích thích cần phải được phản hồi chỉ trong chớp mắt These abrupt changes will produce either positive or negative feelings Những thay đổi đột ngột này có thể tạo ra cảm giác tích cực hoặc tiêu cực The orbital cortex, the region that becomes active in Goel's experiment, seems the best candidate for the site that feeds such feelings into higher-level thought processes, with its close connections to the brain's sub-cortical arousal apparatus and centres of metabolic control Vỏ não trán ổ mắt, vùng hoạt động trong thí nghiệm của Goel, dường như là ứng viên khả dĩ nhất cung cấp cảm giác như vậy cho các quá trình suy nghĩ cao cấp hơn nhờ sự liên kết chặt chẽ với vùng kích thích dưới vỏ não và trung tâm kiểm soát quá trình chuyển hóa
All warm-blooded animals make constant tiny adjustments in arousal in response to external events, but humans, who have developed a much more complicated internal life as a result of language, respond emotionally not only to their surroundings, but to their own thoughts Tất cả động vật máu nóng đều đưa ra đánh giá nhỏ nhặt, tức thời trước những kích thích bên ngoài, nhưng con người – sinh vật đã phát triển đời sống nội tâm phức tạp hơn nhiều nhờ vào ngôn ngữ - lại phản hồi một cách cảm tính với cả môi trường xung quanh lẫn suy nghĩ của chính mình Whenever a sought-for answer snaps into place, there is a shudder of pleased recognition Bất cứ khi nào câu trả lời cần thiết lóe lên, chúng ta
sẽ rùng mình và nhận ra một cách sung sướng Creative discovery being pleasurable, humans have learned to find ways of milking this natural response Khám phá sáng tạo đem lại cảm giác hài lòng – con người đã học được cách chộp lấy phản ứng tự nhiên này The fact that jokes tap into our general
Trang 17evaluative machinery explains why the line between funny and disgusting, or funny and frightening, can
be so fine Sự thật rằng trò đùa chạm vào cơ chế đánh giá tổng quát của chúng ta giải thích vì sao làn ranh giữa vui thích và đáng kinh tởm, hay vui thích và sợ hãi, lại mong manh đến vậy Whether a joke gives pleasure or pain depends on a person's outlook Trò đùa đem lại sự thích thú hay tổn thương là phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người
Humour may be a luxury, but the mechanism behind it is no evolutionary accident Sự hài hước
có thể là thứ xa xỉ, nhưng cơ chế đằng sau nó thì không phải là một tai nạn mang tính tiến hóa As Peter Derks, a psychologist at William and Mary College in Virginia, says: 'I like to think of humour as the distorted mirror of the mind Theo Peter Derks, nhà tâm lý học ở trường Cao đẳng William & Mary, Virginia thì: “Tôi thích nghĩ về sự hài hước như hình ảnh phản chiếu méo mó của tâm trí It's creative, perceptual, analytical and lingual Nó mang tính sáng tạo, cảm quan, phân tích và thuộc về ngôn từ If
we can figure out how the mind processes humour, then we'll have a pretty good handle on how it works
in general
Nếu chúng ta có thể khám phá ra cách tâm trí xử lý sự hài hước thì chúng ta sẽ hiểu rõ ràng hơn nhiều về cách thức hoạt động chung của sự hài hước.”
The Birth of Scientific English
World science is dominated today by a small number of languages, including Japanese, German and French, but it is English which is probably the most popular global language of science Ngày này, khoa học thế giới chịu sự chi phối của một số ít ngôn ngữ bao gồm tiếng Nhật, tiếng Đức và tiếng Pháp, nhưng có lẽ chính tiếng Anh mới là thứ ngôn ngữ toàn cầu phổ biến nhất trong khoa học This is not just because of the importance of English-speaking countries such as the USA in scientific research; the scientists of many non-English-speaking countries find that they need to write their research papers in English to reach a wide international audience Đó không chỉ là do tầm quan trọng của các quốc gia nói tiếng Anh, như Mỹ, trong công tác nghiên cứu khoa học; giới khoa học ở nhiều nước không nói tiếng Anh nhận ra rằng họ cần phải viết báo cáo nghiên cứu của mình bằng tiếng Anh để đến được với độc giả toàn thế giới Given the prominence of scientific English today, it may seem surprising that no one really knew how to write science in English before the 17th century Before that, Latin was regarded as the lingua franca for European intellectuals Nếu xét đến sự nổi bật của tiếng Anh khoa học ngày nay thì thật đáng ngạc nhiên khi biết rằng không ai thật sự biết cách viết khoa học bằng tiếng Anh mãi cho đến thế kỷ XVII Trước thời kỳ đó, tiếng Latin được xem là ngôn ngữ chung (lingua franca) của giới trí thức Châu Âu
The European Renaissance (c 14th-16th century) is sometimes called the 'revival of learning', a time of renewed interest in the 'lost knowledge' of classical times Thời kỳ Phục Hưng tại Châu Âu (thế
kỷ XIV-XVI) thỉnh thoảng còn được gọi là “sự phục sinh của việc học” – giai đoạn hồi sinh sự hứng thú dành cho “kiến thức bị mất” của thời kỳ cổ đại At the same time, however, scholars also began to test and extend this knowledge Tuy nhiên cùng lúc đó thì những học giả cũng bắt đầu kiểm tra và mở rộng tri thức này The emergent nation states of Europe developed competitive interests in world exploration and the development of trade Sự xuất hiện của nhiều quốc gia, nhà nước tại Châu Âu đã hình thành nên
sự cạnh tranh trong việc khám phá thế giới và phát triển thương mại Such expansion, which was to take the English language west to America and east to India, was supported by scientific developments such
as the discovery of magnetism (and hence the invention of the compass), improvements in cartography and - perhaps the most important scientific revolution of them all - the new theories of astronomy and
Trang 18the movement of the Earth in relation to the planets and stars, developed by Copernicus (1473-1543) Sự bành trướng này, vốn rồi đây sẽ mang tiếng Anh về phía tây đến Châu Mỹ và về phía đông đến Ấn Độ, được hỗ trợ bởi những bước tiến khoa học như khám phá ra từ trường (dẫn đến sự ra đời của la bàn), cải tiến trong địa đồ học và – có lẽ là cuộc cách mạng khoa học quan trọng nhất trong số đó – những lý thuyết mới về thiên văn và sự chuyển động của Trái Đất so với các hành tinh, ngôi sao khác do Copernicus (1473 – 1543) nêu ra
England was one of the first countries where scientists adopted and publicised Copernican ideas with enthusiasm Anh là một trong những quốc gia đầu tiên mà giới khoa học gia tiếp thu và truyền bá ý tưởng của Copernicus một cách nhiệt tình Some of these scholars, including two with interests in language -John Wall's and John Wilkins - helped Found the Royal Society in 1660 in order to promote empirical scientific research Một số học giả trong số này, bao gồm cả hai người có hứng thú với ngôn ngữ là John Wallis và John Wilkins, đã giúp thành lập nên Viện khoa học Hoàng gia vào năm 1660 nhằm thúc đẩy các nghiên cứu khoa học thực nghiệm
Across Europe similar academies and societies arose, creating new national traditions of science Trên khắp Châu Âu, những học viện, viện nghiên cứu tương tự cũng bắt đầu xuất hiện, tạo nên truyền thống quốc gia mới trong khoa học In the initial stages of the scientific revolution, most publications in the national languages were popular works, encyclopaedias, educational textbooks and translations Ở những giai đoạn đầu của cuộc cách mạng khoa học, đa phần ấn phẩm bằng ngôn ngữ quốc gia là các công trình nổi tiếng, bách khoa toàn thư, sách giáo khoa và tài liệu dịch
Original science was not done in English until the second half of the 17th century Khoa học thuở ban đầu không được viết bằng tiếng Anh mãi cho đến nửa sau thế kỷ XVII For example, Newton published his mathematical treatise, known as the Principia, in Latin, but published his later work on the properties of light - Opticks - in English Chẳng hạn như Newton xuất bản luận văn toán học của mình, gọi là Principia, bằng tiếng Latin nhưng lại in công trình sau này của mình về đặc trưng ánh sáng – gọi
là Opticks – bằng tiếng Anh
There were several reasons why original science continued to be written in Latin Có một số lý
do cho việc khoa học ban đầu vẫn được viết bằng tiếng Latin Vấn đề đầu tiên đơn thuần chỉ là về khán giả The first was simply a matter of audience Latin was suitable for an international audience of scholars, whereas English reached a socially wider, but more local, audience Tiếng Latin tỏ ra phù hợp với khán giả là các học giả quốc tế, trong khi tiếng Anh lại chạm được đến tầng lớp khán giả rộng lớn hơn về mặt xã hội nhưng mang tính địa phương nhiều hơn Hence, popular science was written in English Thế nên, khoa học thường thức được viết bằng tiếng Anh
A second reason for writing in Latin may, perversely, have been a concern for secrecy Lý do thứ hai để sử dụng tiếng Latin có thể là mối bận tâm quá mức đến sự bí mật Open publication had dangers
in putting into the public domain preliminary ideas which had not yet been fully exploited by their 'author' Sự xuất bản thông thoáng, rộng rãi tiềm ẩn nguy cơ đem tới cho công chúng những ý tưởng sơ
bộ, chưa được “tác giả” của chúng tận dụng triệt để This growing concern about intellectual properly rights was a feature of the period - it reflected both the humanist notion of the individual, rational scientist who invents and discovers through private intellectual labour, and the growing connection between original science and commercial exploitation Mối quan tâm ngày càng nhiều đến quyền sở hữu trí tuệ là một đặc trưng cho thời kỳ đó – nó phản ánh cả khái niệm nhân văn về một nhà khoa học mang tính cá nhân, lý trí, người sáng chế và khám phá thông qua lao động trí tuệ của riêng mình lẫn sợi dây
Trang 19liên kết ngày càng chặt giữa khoa học đơn thuần và sự tận dụng mang tính thương mại There was something of a social distinction between 'scholars and gentlemen' who understood Latin, and men of trade who lacked a classical education Dường như đã có sự khác biệt xã hội giữa “những học giả và quý ông” - người hiểu được tiếng Latin – với nhà buôn, những người không được giáo dục kiểu cổ điển And
in the mid-17th century it was common practice for mathematicians to keep their discoveries and proofs secret, by writing them in cipher, in obscure languages, or in private messages deposited in a sealed box with the Royal Society Vào khoảng giữa thế kỷ XVII, đây dường như là hiện tượng thông thường khi các nhà toán học giữ bí mật về khám phá, bằng chứng của mình bằng cách viết chúng dưới dạng mật
mã, ngôn ngữ không rõ ràng hoặc thông điệp riêng gửi đến Viện khoa học Hoàng gia trong một chiếc hộp bị niêm phong Some scientists might have felt more comfortable with Latin precisely because its audience, though inte national, was socially restricted Một số nhà khoa học có thể đã cảm thấy thoải mái hơn khi viết bằng tiếng Latin do đối tượng độc giả của nó tuy phân bố khắp thế giới nhưng lại hạn chế về mặt xã hội Doctors clung the most keenly to Latin as an 'insider language'
Những bác sĩ là người tích cực bám lấy tiếng Latin nhất, cho đó là “ngôn ngữ của người trong ngành”
A third reason why the wriling of original science in English was delayed may have been to do with the linguistic inadequacy of English in the early modern period Lý do thứ ba cho việc trì hoãn viết công trình khoa học ban đầu bằng tiếng Anh có thể liên quan đến sự chưa hoàn thiện về mặt ngôn ngữ học của tiếng Anh trong giai đoạn đầu của thời hiện đại English was not well equipped to deal with scientific argument Tiếng Anh không được trang bị đủ để trình bày những tranh luận khoa học First, it lacked the necessary technical vocabulary Thứ nhất, nó thiếu lượng từ vựng chuyên ngành Second, it lacked the grammatical resources required to represent the world in an objective and impersonal way, and to discuss the relations, such as cause and effect, that might hold between complex and hypothetical entities Thứ hai, nó thiếu nguồn cấu trúc ngữ pháp để trình bày thế giới theo một cách khách quan cũng như thảo luận các mối quan hệ như nguyên do – kết quả, vốn nằm giữa thực thể phức tạp và thực thể giả định
Fortunately, several members of the Royal Society possessed an interest in language and became engaged in various linguistic projects May mắn thay, một số thành viên của Viện khoa học Hoàng gia lại quan tâm, hứng thứ với ngôn ngữ và đã tham gia vào nhiều dự án ngôn ngữ học khác nhau Although
a proposal in 1664 to establish a committee for improving the English language came to little, the society's members did a great deal to foster the publication of science in English and to encourage the development of a suitable writing style Mặc dù bản đề nghị vào năm 1664 nhằm thành lập một ủy ban cải thiện tiếng Anh cuối cùng chẳng đi đến đâu nhưng các thành viên của viện đã góp công lớn vào việc thúc đẩy xuất bản khoa học bằng tiếng Anh và khuyến khích sự phát triển một loại văn phong phù hợp Many members of the Royal Society also published monographs in English Nhiều thành viên của Viện khoa học Hoàng gia cũng xuất bản chuyên khảo bằng tiếng Anh One of the first was by Robert Hooke, the society's first curator of experiments, who described his experiments with microscopes in Micrographia (1665) Một trong những công trình đầu tiên là của Robert Hooke - ủy viên chuyên ban thí nghiệm đầu tiên của Viện – người đã mô tả thí nghiệm với kính hiển vi của mình trong Micrographia (1665) This work is largely narrative in style, based on a transcript of oral demonstrations and lectures Tác phẩm này chủ yếu thuộc dạng văn tự sự, dựa trên bản sao chép các buổi thuyết trình, minh họa bằng lời nói