1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xa hi hc van chng

22 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 442,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân tố thứ nhất, ý nghĩa của một tác phẩm không chỉ bộc lộ qua kiến trúc nội tại của nó, như các nhà thông diễn học thường nhấn mạnh, mà còn thể hiện trong một không gian sản xuất văn h

Trang 1

chương như một hiện tượng xã hội trong đó có nhiều định chế và cá nhân

tham gia vào việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ và phê bình các tác phẩm Đồng thời cũng có nghĩa là quan tâm tới những dấu ấn của thời đại và đặc trưng của xã hội nằm trong các văn bản sáng tác văn chương (Gisèle Sapiro,

2014, tr 5)

Ở đây, người ta có thể nêu ra một loạt câu hỏi khác nhau Chẳng hạn, chúng ta cần nghiên cứu về tác phẩm nào, có phải là tác phẩm do chính tác giả công bố ? Nếu vậy thì nói thế nào về những tác phẩm của Kafka mà Max Brod xuất bản sau khi ông qua đời ? Hay là đối với những phiên bản khác nhau do cùng một tác giả công bố ? Hoặc những dị bản mà người ta khám phá qua các nguồn bản thảo khác nhau ? Chúng ta cần chú trọng tới quá trình sinh thành của

sản phẩm và đặt nó trong “dự phóng sáng tạo” (projet créateur) của tác giả như

Sartre nói, hay là phải chú ý tới những cách lý giải về sản phẩm ấy, vốn có thể hết sức khác nhau tùy theo từng nhóm độc giả và từng thời kỳ lịch sử ? (G Sapiro, 2014, tr 5)

Quả thực, chúng ta không thể qui giản ý nghĩa của một “tác phẩm” nói riêng hay một sản phẩm văn hóa nói chung vào ý định của bản thân tác giả mà thôi Ngoài chuyện tác giả không phải lúc nào cũng ý thức đầy đủ về điều mình làm, ý nghĩa của tác phẩm còn phụ thuộc vào hai nhân tố nằm bên ngoài người sáng tác ra nó (G Sapiro, 2014, tr 5)

Nhân tố thứ nhất, ý nghĩa của một tác phẩm không chỉ bộc lộ qua kiến trúc nội tại của nó, như các nhà thông diễn học thường nhấn mạnh, mà còn thể hiện trong một không gian sản xuất văn hóa hiện tại và quá khứ khi mà nó được xuất bản hoặc tái bản – nói cách khác, ý nghĩa của nó được định hình trong mối quan hệ với các sản phẩm văn hóa khác xét về mặt chủ đề, thể loại và thủ pháp Tác phẩm thường chuyển tải những quan niệm của thế giới xã hội ít nhiều được chia sẻ bởi những người đương thời, tùy theo tầng lớp, giới tính, tộc người Như

vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là như sau : bối cảnh xã hội chi phối tác phẩm thực ra là

gì ? Có phải là tiểu sử đặc thù của tác giả như Sartre chú trọng khi ông nghiên cứu về Flaubert, hay là tầng lớp xã hội xuất thân của tác giả như các nhà lý

Trang 2

thuyết mác-xít thường nhấn mạnh, hay là các đặc trưng xã hội của đối tượng công chúng của tác phẩm ?

Nhân tố thứ hai liên quan đến những cách tiếp nhận và sử dụng tác phẩm, cũng như những ý nghĩa mà độc giả gán cho nó Quá trình tiếp nhận hoàn toàn không nằm ngoài chuyện sản xuất văn chương Trước hết, việc tiếp nhận tác phẩm không chỉ tác động tới ý nghĩa xã hội của tác phẩm, mà còn tác động tới vị trí của tác phẩm trong trật tự thứ bậc của các sản phẩm văn hóa (do cách đánh giá của các nhà phê bình, hoặc do cách thức quảng bá và lượng phát hành ở các tiệm sách) Kế đến, sự tiếp nhận của công chúng cũng có thể tác động tới chính tác giả – đôi khi tác giả đi đến chỗ điều chỉnh “dự phóng sáng tạo” của mình tùy theo sự phản ứng, sự mong đợi hoặc thị hiếu của công chúng Điểm thứ ba, việc tiếp thụ (hoặc tái tiếp thụ) các tác phẩm của quá khứ hoặc của những nền văn hóa khác (nhất là thông qua kênh dịch thuật) cũng có thể là yếu tố làm thay đổi tính chất hay chiều hướng của không gian văn chương (và từ đó cũng có thể ảnh hưởng tới chiều hướng sáng tác của các tác giả) (G Sapiro, 2014,

tr 5-6)

Cũng tương tự như nhiều chuyên ngành xã hội học khác, môn xã hội học văn chương cũng trải qua những giai đoạn giằng xé giữa hai ngành có liên quan trực tiếp là xã hội học và văn học Do đặc trưng độc đáo của các tác phẩm văn chương, nên những công trình nghiên cứu xã hội học văn chương có lúc bị giới văn học coi là “quá xã hội học” vì họ thường dị ứng với những lối tiếp cận và lập luận thiên về quan điểm “tất định luận” mà họ cho là quá máy móc và thô thiển, nhưng cũng có lúc lại bị chính giới xã hội học coi là “quá văn học” Tuy nhiên, chính sự giao thoa giữa hai ngành xã hội học và văn học thực ra có thể mang lại nhiều thành quả đầy hứa hẹn cho tri thức học thuật (G Sapiro, 2014, tr 7)

Môn xã hội học văn chương chủ yếu nghiên cứu lãnh vực văn chương

dưới góc độ xã hội học (bao gồm cả những phương pháp, những kỹ thuật khảo

sát và phân tích định lượng và định tính) Về lối tiếp cận và lối đặt vấn đề, đây cũng là nơi giao thoa giữa các môn xã hội học về nghệ thuật, về văn hóa, truyền thông đại chúng, xuất bản, dịch thuật Nhờ đối thoại thường xuyên với các nhà văn học sử, nên môn này cũng có những nhãn giới nghiên cứu gần gũi với xu

hướng nghiên cứu về giới (gender studies) cũng như xu hướng nghiên cứu hậu thuộc địa (postcolonial studies) (G Sapiro, 2014, tr 7)

Nói một cách tổng quát, sở dĩ môn xã hội học văn chương quan tâm tới các thể loại văn chương như anh hùng ca (hay sử thi), văn chương dân gian, thơ ca, kịch hay tiểu thuyết là vì hai lẽ sau đây : một mặt, những thể loại văn chương này thường mang dấu ấn của nền văn hóa mà trong đó chúng được sáng tác và được đọc hoặc nghe ; và mặt khác, chúng kiến tạo nên những vũ trụ tưởng tượng (hay vũ trụ hư cấu) vốn tuân theo lô-gic nội tại của mình Như vậy, đối tượng của môn xã hội học văn chương là khảo sát và nghiên cứu về cả hai

Trang 3

khía cạnh ấy, khía cạnh xã hội và khía cạnh văn chương, cũng như các mối quan hệ đa diện giữa hai khía cạnh này (Pierre Ansart, 1999, tr 309).1

Theo Pierre Ansart, mơn xã hội học văn chương thường cĩ những hướng nghiên cứu quan trọng như sau

(a) Hướng nghiên cứu đầu tiên là tìm cách tái hiện thế giới xã hội đã được trình bầy trong tác phẩm Người ta thường làm điều này chẳng hạn đối với các tiểu thuyết theo xu hướng hiện thực (của Balzac, Maupassant, Zola ở Pháp ; hay Nguyễn Cơng Hoan, Ngơ Tất Tố, Nam Cao ở Việt Nam), hay kể cả với thể loại bi kịch cổ điển (như các vở kịch của Corneille) mà nhờ đĩ người

ta cĩ thể tái hiện diện mạo của một thế giới chính trị cụ thể với những xung đột,

hệ thống tơn ti thứ bậc, các qui tắc, luật lệ, giá trị, những cuộc thương lượng và giằng co Lối tiếp cận này coi tác phẩm văn chương như một khối tư liệu phong phú cĩ ý nghĩa về mặt xã hội học

(b) Hướng nghiên cứu kế tiếp là tìm cách trả lời cho một câu hỏi xã hội học chính yếu sau đây : đâu là những mối quan hệ giữa các thực tại xã hội của thời đại với các sản phẩm văn chương ? Nhiều cơng trình đã đi theo quan điểm

lý thuyết mác-xít khi nghiên cứu về những mối quan hệ giữa các cấu trúc xã

hội với các nội dung văn chương (như Gyưrgy Lukács, Lý thuyết về tiểu thuyết [La théorie du roman], 1920) Lucien Goldmann đề xướng một giả thuyết cho

rằng các cấu trúc của thế giới tiểu thuyết cĩ thể tương đồng với các cấu trúc tinh thần của những nhĩm xã hội đương thời với tác phẩm (Lucien Goldmann,

Hướng đến một mơn xã hội học về tiểu thuyết [Pour une sociologie du roman],

Gallimard, 1964, tr 345) Cịn Mikhạl Bakhtine thì cho rằng các vở truyện của Rabelais đã chuyển tải những nét đặc trưng của nền văn hĩa bình dân Pháp thời trung cổ và thời Phục hưng như sự cười cợt, lễ hội và tiệc tùng của

nơng dân, những hình ảnh thơ lỗ của thân thể (Mikhạl M Bakhtine, Tác

phẩm của Rabelais và nền văn hĩa bình dân thời trung cổ và thời Phục hưng

[L’oeuvre de Rabelais et la culture populaire au Moyen Âge et sous la

Renaissance], Gallimard, 1970, tr 67) (các tác giả vừa nêu đều được chúng tơi

dẫn lại theo P Ansart, 1999, tr 309)

(c) Một hướng nghiên cứu khác là khơng chỉ khảo sát những mối quan

hệ giữa các hình thái xã hội với nội dung văn chương, mà cịn tìm hiểu những

1

Cũng cĩ một số tác giả phân biệt giữa xã hội học văn chương với lối tiếp cận phê bình xã hội trong văn học, chẳng hạn như Edmond Gros : “Cĩ lẽ thoạt nhìn thì xã hội học văn chương

[sociologie de la littérature] và sự phê bình xã hội [sociocritique] cĩ thể gây ra cảm giác là cả

hai đơi khi cùng quan tâm tới những đối tượng y hệt nhau, nhưng nếu khơng kể đến những sự chồng lấn bề ngồi ấy thì hiển nhiên là chúng cĩ những mối bận tâm đối lập nhau một cách căn bản” Trong lúc lối tiếp cận xã hội học quan tâm tới những cái nằm ngồi văn bản hoặc

cĩ trước văn bản, thì lối tiếp cận phê bình xã hội tuy khơng phải khơng quan tâm tới những điều đĩ nhưng chú ý đi vào phân tích nội dung văn bản nhiều hơn (Edmond Gros, 1989, tr 149)

Trang 4

mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với các thể loại văn chương, cách lựa chọn ngôn ngữ thể hiện, và các phong cách hành văn

(d) Một hướng nữa là nghiên cứu xã hội học về các nhà văn, vị trí xã hội cũng như vai trò thực tế của họ trong xã hội đương thời Đây cũng là một lãnh vực nghiên cứu quan trọng vì vị trí của các nhà văn thường thay đổi một cách lớn lao qua các thế kỷ Chẳng hạn vào thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, người ta thấy xuất hiện vai trò nổi bật của giới nghệ sĩ khi họ đảm nhiệm sứ mệnh miêu tả và tố cáo thực trạng xã hội (Balzac, Zola) hay sứ mệnh hướng dẫn tư tưởng cho cả giới trí thức lẫn giới bình dân (Hugo)

(e) Việc khảo sát về các hệ thống sản xuất và phân phối cũng là một hướng nghiên cứu đem lại nhiều kết quả đáng chú ý Mạng lưới các nhà xuất bản, các ấn phẩm, các tờ báo và tạp chí, với tất cả các chủ trương và các phương tiện tài chánh của mình, có thể tạo điều kiện, thúc đẩy, lèo lái hoặc ngăn trở việc công

bố các tác phẩm văn chương Những biện pháp kiểm duyệt khác nhau cũng có thể can thiệp vào đây một cách hết sức đa dạng, theo các tiêu chuẩn thương mại, chính trị, tôn giáo hoặc đạo đức, tùy từng trường hợp cụ thể Lãnh vực phân phối

và phát hành cũng thường phải tuân theo lô-gic thương mại trong tình thế cạnh tranh giữa các nhà xuất bản, tuân theo lô-gic của những định chế chính đáng hóa, khả năng tài chánh của bộ phận quảng cáo Thông qua khái niệm “trường văn chương”, Bourdieu từng đề nghị nghiên cứu các tác giả, các nhà phê bình và các

bộ máy “tấn phong” (consécration) như một trường tự trị với những qui tắc chính đáng hóa (légitimation) và ưu biệt hóa (distinction) riêng của nó (Pierre Bourdieu, Các qui tắc của nghệ thuật Nguồn gốc sinh thành và cấu trúc của

trường văn chương [Les règles de l’art Genèse et structure du champ littéraire],

Seuil, 1992)

(f) Cuối cùng là hướng nghiên cứu về độc giả, về sự lựa chọn, thị hiếu,

và thói quen đọc sách báo của họ Điều này ngày nay càng quan trọng khi mà nền văn hóa đại chúng ngày càng tạo ra một không gian mông mênh cho lãnh vực sản xuất văn chương Lãnh vực xã hội học này đề cập tới những vấn đề như : cách thức tập luyện và làm quen với việc đọc sách báo văn chương, quá trình xã hội hóa thông qua việc đọc, những hiệu ứng của sự sản xuất và sự tiêu thụ các sản phẩm văn chương Lãnh vực nghiên cứu này cũng quan tâm tới hiệu ứng xã hội của các thể loại văn chương, các lối văn phong, các chủ đề hư cấu, cũng như quan tâm tới vai trò quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong khâu lựa chọn và khâu phân phối các sản phẩm văn chương (P Ansart, 1999, tr 309)

II Văn chương và xã hội học

Giữa văn chương và xã hội học, người ta thấy từng có những mối liên

hệ xung khắc hay cạnh tranh nhau, nhưng cũng thường trao đổi và thâm nhập hoặc hòa lẫn vào nhau (G Sapiro, 2014, tr 9)

Trang 5

Văn chương thường quan tâm tới đời sống xã hội dưới nhiều góc cạnh đa dạng Với những bức tranh xã hội sống động và sắc sảo như của Balzac hay Flaubert, truyền thống hiện thực trong văn chương Pháp ngay từ cuối thế kỷ 18

đã đi vào mô tả nền phong hóa của những tầng lớp xã hội khác nhau (từ quí tộc đến tiện dân và tư sản), những nhóm nghề nghiệp (nhà báo, giới y tế, giới chứng khoán ), những định chế như hôn nhân, gia đình, nhà trường, hay những sự biến đổi của xã hội và những hiện tượng di động xã hội (thăng tiến, sa cơ thất thế ) (G Sapiro, 2014, tr 9)

Khuynh hướng tả thực cũng từng xuất hiện một cách sôi động trong văn chương Việt Nam vào những thập niên 1930 và 1940 Do “cái chân tướng của ngoại cảnh và của nội giới có thiên hình vạn trạng”, theo nhận xét của Dương Quảng Hàm, nên chủ đề của các nhà văn tả thực cũng hết sức phong phú, như mô

tả sinh hoạt của các tầng lớp bình dân, lao động (Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan ; Tôi kéo xe của Tam Lang ; hay Lầm than của Lan Khai tả cuộc đời của giới phu mỏ), những “mặt trái của xã hội ăn chơi, trụy lạc” (như Giông tố của Vũ Trọng Phụng ; Hà Nội lầm than của Trọng Lang tả sinh hoạt của gái giang hồ và giới làng chơi, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng tả cuộc đời của dân ăn cắp), hoặc tả cảnh vật, phong tục và sinh hoạt thôn quê (Cậu bé nhà quê của Nguyễn Lân ; Cô Dung

của Lan Khai) (Dương Quảng Hàm, 1968, tr 452)

Ở Pháp, nếu trước kia việc mô tả đời sống xã hội gần như là lãnh vực độc quyền của giới nhà văn, thì kể từ cuối thế kỷ 19, khi ngành xã hội học chính thức được xác lập như một ngành khoa học chuyên biệt trong trường đại học, ngành này đã khiến giới nhà văn không còn vị thế độc quyền ấy nữa Tuy nhiên, phải đợi đến hậu bán thế kỷ 20, người ta mới thấy xuất hiện ở Pháp bộ môn xã hội học văn chương Lúc đầu, môn này nằm trong khuôn khổ nghiên cứu văn học, về sau mới trở thành một bộ môn nằm trong ngành xã hội học (G Sapiro, 2014, tr 9)

Văn chương, theo John Hall, xét về mặt hình thái điển-hình ý-thể

(ideal-typical form) của nó, phải nói lên sự thật của quá trình trải nghiệm xã hội, mặc dù

sự thật này nhiều khi quá rắc rối nên không dễ mà trình bầy được một cách rạch ròi, tách bạch Hall cho rằng nói đến “sự thật” ở đây thực ra có nghĩa là nói đến những nỗ lực khám phá hoặc làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm xã hội (J Hall,

1979, tr 35)

Theo John Hall, “sự thật văn chương” bao hàm hai khía cạnh sau đây (a) Trước hết, văn chương là một kiểu diễn ngôn khác với diễn ngôn xã hội học Một công trình xã hội học luôn luôn cần được kiểm chứng hoặc phản biện, nhưng đối với một tác phẩm văn chương thì lại không như thế Nếu một công trình điều tra thực nghiệm về thành phố London chẳng hạn chưa đúng hoặc chưa thấu đáo, thì người ta có thể phải tiến hành thêm một công trình khác để bổ khuyết Nhưng người ta không thể làm điều này với những cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens : nhà văn này khắc họa một bức tranh về tầng lớp trung lưu của thành phố London hơn là về bản thân thành phố này ; thế nhưng chúng ta không thể bác

Trang 6

bỏ hay coi thường hình ảnh này Sự khác biệt ở đây cũng tương tự như sự khác biệt giữa một tấm hình chụp với một bức tranh : tấm hình chụp có thể cho thấy

đủ mọi chi tiết, nhưng bức tranh có ưu thế là tô đậm một số điểm bằng cách bỏ qua một số chi tiết (b) Khía cạnh thứ hai : đặc trưng của hình thái văn chương là

nó mang tính chất “tự chứng thực” (self-authenticating) Văn chương “là một thứ

tư liệu về những sắc thái cảm nhận của con người, và cách nhìn độc nhất vô nhị

có khả năng khiến cho con người xúc động một cách mạnh mẽ vô song” (J Hall,

1979, tr 35).2

Như vậy, văn chương là một nỗ lực của con người “nhằm hiểu được kinh nghiệm xã hội của mình” (J Hall, 1979, tr 36) Nếu văn chương mô tả những kinh nghiệm xã hội đặc thù, không mang tính chất đại diện cho toàn bộ từng tầng lớp hay toàn bộ xã hội, thì có thể nói môn xã hội học văn chương thường quan tâm tới những xu thế tổng quát của quá trình phát triển văn chương hơn là tới từng tác giả cụ thể Việc phân tích những tác giả cụ thể nào đó có thể giúp chúng

ta hiểu biết về những kinh nghiệm xã hội đặc thù của họ, nhưng việc khảo cứu về những nguồn gốc xã hội của xu hướng hiện thực và xu hướng hiện đại trong văn chương chẳng hạn lại có thể cho phép chúng ta đi đến những kết luận tổng quát hơn (như trên, tr 37)

Nếu văn học có thể tận dụng được lối tiếp cận xã hội học để hiểu sâu hơn vào nội dung văn bản văn chương, thì ngược lại, xét về phía xã hội học, ngành này cũng có thể đạt được nhiều cái lợi khi nghiên cứu về văn chương Điểm thứ nhất, xã hội học không thể tự cho mình cái độc quyền tìm ra sự thật của xã hội ; văn chương có một khả năng to lớn là giúp cho nhà xã hội học trở nên nhạy cảm hơn đối với xã hội nói chung và những phản ứng của các cá nhân trong xã hội nói

riêng Thứ hai, “trí tưởng tượng văn chương” (literary imagination) là một điều

hết sức đáng trân trọng, bởi lẽ nó có khả năng khảo sát và đi vào chiều sâu những cảm nghĩ và xúc cảm thực tế của các cá nhân Thứ ba, nếu bằng chứng văn chương được sử dụng một cách đúng đắn (tức là được sử dụng như một “vật sở chỉ xã hội” chứ không phải như một “vật phản ánh xã hội”),3 thì nhiều khi nó đem lại những thông tin sắc sảo về những vấn đề cụ thể nào đó mà người ta không thể tìm được qua bất cứ kênh nào khác Và cuối cùng, điểm thứ tư, bằng

2

Nguyên văn câu này như sau : “[Literature] is a document of how human beings feel and its

singleness of vision is capable of moving human feelings in a uniquely powerful way” (J Hall,

1979, tr 35)

3

John Hall quan niệm rằng khi phân tích về lãnh vực văn chương, chúng ta nên sử dụng khái

niệm “vật sở chỉ xã hội” (social referent), chứ không nên sử dụng khái niệm “vật phản ánh xã hội” (social reflector) vì khái niệm “vật phản ánh xã hội” bao hàm quan điểm coi nhà văn

như một tác nhân thụ động trước sức tác động của các yếu tố ngoại giới (thiên theo sơ đồ kích thích/phản ứng) Còn khái niệm “vật sở chỉ xã hội” thì nhìn nhà văn như một tác nhân tích cực, luôn luôn nỗ lực tìm hiểu xã hội thông qua sự sáng tạo của mình, chứ không chỉ máy móc “phản ánh” lại thực tại ngoại giới (J Hall, 1979, tr 32) Chúng tôi dịch thuật ngữ

referent là “vật sở chỉ” dựa theo Cao Xuân Hạo (1998, tr 713) “Vật sở chỉ xã hội” là một đối

vật xã hội mà một từ ngữ hoặc một tác phẩm muốn nói về, muốn chỉ định

Trang 7

chứng mà văn chương cung cấp có thể mang lại một lối lý giải hết sức tổng hợp

và toàn diện : những cuốn tiểu thuyết mà trong đó nhà văn Conrad khảo sát những thân phận cá nhân đơn độc thường kết thúc bằng cái chết có lẽ mang lại cho chúng ta một cách nhìn sâu sắc và trọn vẹn hơn về thực tại cảm xúc của con người so với những công trình xã hội học của Durkheim về hiện tượng tự tử hay

về tình trạng “phi chuẩn mực” hay mất phương hướng của cá nhân trong xã hội (J Hall, 1979, tr 38)

Ngược với giả định cho rằng tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn độc lập với xã hội và không hề chịu sự chi phối hay tác động gì bởi xã hội (như quan niệm lãng mạn coi nghệ sĩ là “người sáng tạo” thuần túy), và cũng trái với lối tiếp cận duy

hình thức (formalism) hoặc lối tiếp cận duy văn bản, môn xã hội học văn chương

quan niệm rằng văn chương là một hoạt động xã hội luôn luôn phụ thuộc vào những hoàn cảnh sản xuất tác phẩm và tiêu thụ tác phẩm, đồng thời cũng thường gắn liền với những giá trị, với một thế giới quan hay nhân sinh quan nhất định nào đó (G Sapiro, 2014, tr 10) Do vậy, khi khảo cứu về mối quan hệ giữa văn

bản với bối cảnh xã hội, môn này thường bao hàm cả hai vế : phân tích nội tại và

phân tích ngoại tại Việc phân tích nội tại tập trung vào cấu trúc của tác phẩm

Còn việc phân tích ngoại tại thì chú trọng tới bối cảnh xã hội và chức năng xã hội của tác phẩm

(Về chiều kích xã hội của văn chương, xem thêm : Huỳnh Như Phương, 2014, tr 12-18 ;

về mối quan hệ giữa mỹ học nghệ thuật và xã hội học nghệ thuật, xem thêm Bùi Quang Thắng, 1998, tr 55-68.)

III Một số lý thuyết và cách tiếp cận xã hội học về văn chương

Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bầy trước hết một số quan niệm tiền

xã hội học về văn chương, sau đó là một số lý thuyết xã hội học văn chương ra đời từ khoảng thập niên 1960 cho tới nay trên thế giới

1 Một số quan niệm tiền xã hội học

Trước khi ra đời môn xã hội học văn chương, cũng đã có không ít tác giả

và công trình đề cập tới những ý tưởng liên quan tới ảnh hưởng xã hội của văn chương cũng như mối quan hệ giữa văn chương với xã hội

Theo Gisèle Sapiro, châu Âu đã từng có một số quan niệm tiền xã hội học về văn chương như sau (2014, tr 10-15)

- Platon ở Hy Lạp thời cổ đại : quan niệm rằng nghệ thuật có thể khơi

mào một cơ chế “bắt chước” (mimèsis) và đồng hóa (với nhân vật trong tác

phẩm) nơi công chúng, và để tránh điều này thì cần phải trang bị cho công chúng một vốn văn hóa đủ mạnh để làm chủ được các tác động xấu của các tác phẩm nghệ thuật

- Giáo hội Công giáo, và nhiều người trong giới trí thức cũng như giới cầm quyền Âu châu trong những thế kỷ 18 và 19 : hoài nghi và định kiến về

Trang 8

giá trị của các ấn phẩm văn chương và báo chí, cho rằng chúng cĩ thể gây ảnh hưởng xấu và nguy hại cho trật tự xã hội, cho thuần phong mỹ tục

- Một số nhà nghiên cứu tội phạm học ở châu Âu vào thế kỷ 19 cũng đổ tội cho văn chương và kể cả giới nhà văn là thủ phạm của tình trạng suy đồi và phạm pháp trong xã hội

- Germaine de Stặl (Về văn chương xet trong mối quan hệ với các định

chế xã hội, 1800)4 : bà là tác giả đầu tiên bắt đầu tìm cách xác định những định luật chi phối lịch sử văn chương ; bà cũng quan tâm tới những điều kiện xã hội-chính trị khiến nảy sinh những thể loại mới như thi ca (Vào thế kỷ 18 ở Pháp

cũng như ở Anh, thuật ngữ “văn chương” [littérature] vẫn cịn được hiểu theo

nghĩa rộng, bao gồm cả triết học, khoa học, và thơ ca, tiểu thuyết.)

- Alexis de Tocqueville (Chế độ cũ và cách mạng, 1856)5: giới học giả và giới nhà văn đã thay thế giai cấp quí tộc phong kiến và trở thành một “tầng lớp quí tộc về mặt tư tưởng” ; tuy những người này khơng cĩ chức tước, tài sản hay bổng lộc, cũng khơng cĩ quyền hành gì, nhưng lại mang nhiều uy tín trong hoạt động chính trị và nắm giữ vai trị “lãnh đạo về mặt cơng luận”

- Hippolyte Taine (Lịch sử văn chương Anh, 1864)6 : giải thích rằng một tác phẩm văn chương là “một bản sao của nền phong hĩa [trong xã hội] và [là] dấu hiệu của một tình trạng tinh thần” Taine cho rằng cĩ ba nhân tố qui định tình trạng luân lý của một xã hội và do đĩ cũng qui định cả tính chất của các tác phẩm

văn chương : chủng tộc (race) (mỗi tộc người cĩ những tính cách và tâm thế bẩm sinh) ; mơi trường (milieu), bao gồm các điều kiện địa lý và khí hậu, cũng như các điều kiện xã hội và chính trị ; thời điểm (moment) ở từng chặng của lịch sử

nhân loại

(Về quan niệm của Germaine de Stặl và Hippolyte Taine, xem thêm Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học Một số vấn đề” (trong Lộc

Phương Thủy et al., 2014, tr 21-23.)

- Gustave Lanson (Lịch sử văn chương và xã hội học, 1904)7 : là người đầu tiên khẳng định rằng “‘hiện tượng văn chương’ về bản chất là một sự kiện

xã hội” Tuy khơng phủ nhận tính chất cá nhân của sự sáng tạo, nhưng ơng cho rằng cơng việc của nhà phê bình là đặt tác phẩm vào trong bối cảnh của hoạt động sáng tác, khơng chỉ chú ý tới tác giả mà cịn phải quan tâm tới xã hội đương thời và cách thức mà cơng chúng tiếp nhận tác phẩm khi nĩ mới ra đời Lanson

Đây là một bài thuyết trình của Gustave Lanson vào năm 1904 mang tên là “Histoire littéraire

et sociologie” trình bầy tại trường École des hautes études sociales ở Paris theo lời mời của Émile Durkheim

Trang 9

cho rằng cần phải nghiên cứu lịch sử xã hội của văn chương : nhà văn vừa là một

“sản phẩm xã hội”, vừa là một “biểu hiện xã hội” Lanson không quan niệm một mối liên hệ nhân quả đơn giản giữa tác phẩm với xã hội, vì ông coi đây là một mối liên hệ phức tạp nảy sinh từ sự “truyền thông giữa một cá nhân với một công chúng” Quả vậy, công chúng không phải chỉ là kẻ tiếp nhận tác phẩm : “Công chúng đặt hàng tác phẩm sẽ được trình làng : họ đặt hàng mà không hề hay biết.” Ngoài ra, Lanson còn nêu ra một số định luật của lịch sử văn chương, như định luật về mối liên hệ tương quan giữa văn chương với đời sống (“văn chương bộc

lộ xã hội”), định luật về những ảnh hưởng từ nước ngoài, định luật về sự kết tinh của các thể loại, định luật về mối liên hệ tương quan giữa hình thức và nội dung thẩm mỹ, định luật về những điều kiện xuất hiện các kiệt tác văn chương, định luật về tác động của tác phẩm đối với công chúng (Voltaire đã mang lại cho xã hội thế kỷ 17 nguyên tắc bao dung ; Dickens đã gây ý thức cho xã hội đương thời của ông về nhu cầu cải tổ nhà trường và nhà tù) Tuy mang nhiều ý tưởng khơi mào cho xu hướng phân tích xã hội học, nhưng những nỗ lực của Lanson không dẫn đến một trào lưu xã hội học văn chương thực thụ nào (G Sapiro, 2014, tr 10-15)

(Về quan niệm của Gustave Lanson, xem thêm Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương

Ngọc, “Xã hội học văn học ở Pháp” (trong Lộc Phương Thủy et al., 2014, tr 34-37.)

Ở Việt Nam, chúng ta cũng có thể tìm thấy nơi nhiều công trình văn học

sử những ý tưởng mang dấu ấn tiền xã hội học về mối quan hệ giữa văn chương với xã hội

Trong cuốn văn học sử đầu tiên của Việt Nam (Việt Nam văn học sử yếu,

1941), Dương Quảng Hàm khi đề cập tới sự ra đời của nền quốc văn mới trong nửa đầu thế kỷ 20, sau khi nói tới những ảnh hưởng của trào lưu tân học Trung Hoa với những tác giả như Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu, đã nhận xét rằng giới trí thức và nhà văn nước ta “đã hấp thụ các tư tưởng mới” do “tiếp xúc với

nền Pháp học” trong thời thuộc địa Dương Quảng Hàm viết : “Về đường luân lý

và xã hội, thì chủ nghĩa cá nhân (trọng quyền lợi và hạnh phúc của cá nhân) và

những quan niệm về công dân (có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi), và nghề nghiệp (biết trọng cả các nghề), về danh dự (cho danh dự không phải chỉ do phẩm tước mà thứ nhất là do tài đức, nhân cách mà có) dần dần được nhiều

người theo ( ) Về đường văn chương, xưa kia các cụ thường viết văn chữ nho

mà có ý khinh miệt và nhãng bỏ quốc văn ; thường chuộng từ chương mà không

vụ thực sự ; thường chú trọng đến các hạng người cao quí mà ít lưu tâm đến kẻ thường dân Nay các nhà học thức đã biết trọng quốc văn, biết quan sát và mô tả các cảnh vật xác thực, biết để ý đến cuộc sinh hoạt của người bình dân” (Dương Quảng Hàm, 1968, tr 404-405)

Sự xuất hiện của những thể loại văn chương mới vào nửa đầu thế kỷ 20 như kịch, văn xuôi, tiểu thuyết, thơ mới cũng mang dấu ấn của những sự biến đổi lớn lao trong xã hội (xem Dương Quảng Hàm, 1968, tr 420-428) Ở cuối

cuốn Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, Bằng Giang từng đặt ra một số câu

Trang 10

hỏi có thể được dùng làm tiền đề cho những công trình xã hội học văn chương thực thụ, chẳng hạn “tại sao vườn thơ [ở Nam kỳ] lại quạnh quẽ ?” trong thời kỳ

ấy, hoặc “tại sao văn học kịch bản [ở Nam kỳ] lại phong phú (183 [kịch bản]) chỉ đứng sau có tiểu thuyết (211 [cuốn tiểu thuyết]) ?” (Bằng Giang, 1992, tr 423)

2 Quan niệm của Jean-Paul Sartre : văn chương xét với tư cách là hành vi truyền thông

Theo Jean-Paul Sartre (Văn chương là gì ? 1948),8 việc viết cũng như

việc đọc đều là những hành vi (acte) Theo ông, cuốn sách “tự trình diện ra

[trước độc giả] như một cứu cánh theo sự tự do của độc giả” (1975, tr 54).9Chính vì thế, ông phản bác định nghĩa của Kant về tác phẩm nghệ thuật là một

“mục tiêu tối hậu không có cứu cánh” (finalité sans fin) Nếu Sartre đồng ý với

Kant rằng tác phẩm nghệ thuật không có cứu cánh thì chỉ vì Sartre cho rằng tác phẩm nghệ thuật tự nó là một cứu cánh Bởi lẽ tác phẩm nghệ thuật chỉ tồn tại nếu có người chiêm ngưỡng nó Việc đọc không phải chỉ là một hành vi cá nhân,

mà nó bao hàm một sự cam kết, một sự dấn thân của độc giả ; nó đòi hỏi sự tự do

và khả năng sáng tạo của chính độc giả để làm cho tác phẩm có thể tồn tại Do vậy, đọc là một “hiệp ước rộng lượng giữa tác giả và độc giả” (1975, tr 62).10Tác giả buộc độc giả phải “sáng tạo” cái mà ông ta đã “hé lộ” (dẫn lại theo G Sapiro, 2014, tr 19).11

Chức năng truyền thông mà Sartre gán cho văn chương khiến cho ông đi đến nhận định cho rằng nhà văn có một sứ mệnh trong thời đại của mình Ngày nay, khi mà trình độ biết chữ trở nên phổ biến và nhất là với sự phát triển của báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng, sứ mệnh của nhà văn lại càng quan trọng hơn Quyền tự do viết lách được bao hàm trong quyền công dân Chính vì thế, theo Sartre, nghệ thuật văn chương không thể thích ứng với bất cứ chế độ nào, mà cần phải liên đới và ủng hộ cho chế độ dân chủ, vì chỉ trong khuôn khổ này thì nghệ thuật văn chương mới bảo tồn được đầy đủ ý nghĩa của

nó (dẫn lại theo G Sapiro, 2014, tr 19)

Nguyên văn : “pacte de générosité entre l’auteur et le lecteur” (Jean-Paul Sartre, sách đã dẫn,

tr 62, dẫn lại theo G Sapiro, 2014, tr 19)

11

Nhà văn học sử Bằng Giang cũng từng cho rằng việc “đọc một tác phẩm văn chương để thưởng thức là một hành vi tự nguyện” (Bằng Giang, 1992, tr 418) Do “mỗi người có một thương số trí năng, tính nhạy cảm không đồng đều”, và “[x]ã hội cho dù đạt đến chỗ toàn thiện toàn mỹ cũng vẫn là một xã hội đa dạng chớ không đơn điệu” (như trên, tr 420), nên đối với “một tác phẩm văn chương, không phải tất cả mọi người đều hiểu như nhau mà có mức độ nhiều hay ít là tùy từng người Ở đây không thể có chủ nghĩa bình quân được từ hai phía : người viết và người đọc Rồi từng người trong những thời điểm khác nhau lại hiểu tác phẩm văn chương thêm một bậc nữa, hoặc thẩm định lại, hoặc phát hiện thêm cái hay, cái đẹp của nó về nội dung nghệ thuật” (như trên, tr 419)

Trang 11

(Về quan niệm xã hội học văn chương của Jean-Paul Sartre, xem thêm Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học ở Pháp” (trong Lộc Phương Thủy

et al., 2014, tr 34-37.)

3 Xã hội học văn chương của Robert Escarpit

Năm 1958, Robert Escarpit xuất bản cuốn Xã hội học về văn chương

(Que sais-je ? 1958), và năm 1960, Escarpit lập ra Trung tâm xã hội học về các

sự kiện văn chương tại đại học Bordeaux, sau đó trung tâm này trở thành Viện văn chương và nghệ thuật đại chúng

Cũng quan niệm văn chương là một hành vi truyền thông theo chân Sartre, đồng thời cũng đi theo trào lưu nghiên cứu về các phương tiện truyền

thông đại chúng (media studies) vốn đang thịnh hành lúc ấy, Escarpit đã khai

triển bộ môn xã hội học văn chương trong cuốn sách nêu trên Xét như hành vi truyền thông, hoạt động văn chương bao gồm ba lãnh vực : người sản xuất, người phân phối, và người tiêu thụ Tương ứng với mỗi lãnh vực này là những chủ đề nghiên cứu sau : các điều kiện xã hội của quá trình sản xuất ; khảo sát

về việc xuất bản các tác phẩm văn chương và các phương tiện phân phối ; khảo sát về việc đọc sách văn chương

Tuy nhiên, môn xã hội học văn chương của Escarpit đi theo hướng phân

tích ngoại tại (analyse externe), vì nó thiên về lối tiếp cận định lượng và tự

giới hạn vào việc khảo sát xã hội học về lãnh vực xuất bản và về việc đọc sách

mà thôi, chứ không đi vào những nét đặc thù của văn bản văn chương

(Xem thêm :

- Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học trong nghiên cứu của Robert Escarpit

và trường phái Bordeaux” (trong Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc và Phùng

Ngọc Kiên, Xã hội học văn học, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr

83-107

- Robert Escarpit, “Xã hội học văn học”, Nguyễn Phương Ngọc dịch, trong Lộc

Phương Thủy et al., tr 323-373

- Robert Escarpit, “Văn học và xã hội”, Nguyễn Phương Ngọc dịch, trong Lộc

Phương Thủy et al., tr 374-411.)

4 Từ lý thuyết phản ánh luận đến lý thuyết cấu trúc luận sinh thành và lý

thuyết cultural studies

Trong đường hướng tư tưởng mác-xít, theo định đề duy vật, văn chương (cũng tương tự như tôn giáo) thuộc về kiến trúc thượng tầng, phản ánh các mối quan hệ sản xuất trong xã hội.12 Tuy vậy, lý thuyết phản ánh luận cũng

12

Xem chẳng hạn nhận định sau đây : “Mỗi thời đại lịch sử có một nền nghệ thuật tương ứng

‘Xã hội thế nào văn nghệ thế ấy’” (Hà Minh Đức chủ biên, 2001, tr 7) “Mối quan hệ của nghệ thuật với thực tiễn đời sống bộc lộ trước hết ở sự tác động của cơ sở kinh tế xã hội Nhưng với tư cách là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, nghệ thuật không tồn tại một cách cô lập, thụ động mà tồn tại, phát triển trong mối liên hệ qua lại với các hình thái

ý thức khác và những phạm vi hoạt động khác trong đời sống thực tiễn” (như trên, tr 8-9)

“Trong bối cảnh của thế giới hiện đại, khi những mối quan hệ giai cấp không còn đơn giản

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ansart, Pierre (1999), “Sociologie de la littérature”, in André Akoun et Pierre Ansart (Dir.), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert, Seuil, p. 309-310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociologie de la littérature”, in André Akoun et Pierre Ansart (Dir.), "Dictionnaire de sociologie
Tác giả: Ansart, Pierre
Năm: 1999
2. Bằng Giang (1992), Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, TP.HCM, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1992
3. Bourdieu, Pierre (1995), The Rules of Art. Genesis and Structure of the Literary Field (1992), translated by Susan Emanuel, Stanford, California, Stanford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Rules of Art. Genesis and Structure of the Literary Field
Tác giả: Bourdieu, Pierre (1995), The Rules of Art. Genesis and Structure of the Literary Field
Năm: 1992
4. Bùi Quang Thắng (1998), Xã hội học nghệ thuật, Hà Nội, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa-Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nghệ thuật
Tác giả: Bùi Quang Thắng
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
Năm: 1998
5. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt. Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Hà Nội, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt. Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu (1941), Sài Gòn, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu xuất bản, in lần thứ mười Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu
Năm: 1941
7. Gros, Edmond (1989), “Sociologie de la littérature”, in Marc Angenot, Jean Bessière, Douwe Fokkema, Eva Kushner (Dir.), Théorie littéraire. Problèmes et perspectives, Paris, P.U.F., pp. 127-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociologie de la littérature”, in Marc Angenot, Jean Bessière, Douwe Fokkema, Eva Kushner (Dir.), "Théorie littéraire. Problèmes et perspectives
Tác giả: Gros, Edmond
Năm: 1989
8. Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu (2001), Lí luận văn học, tái bản lần thứ bẩy, Hà Nội, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
9. Hall, John (1979), The Sociology of Literature, London and New York, Longman Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sociology of Literature
Tác giả: Hall, John
Năm: 1979
10. Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
11. Huỳnh Như Phương (2014), Lý luận văn học (Nhập môn), tái bản lần thứ nhất, TP.HCM, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học (Nhập môn)
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2014
12. Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc và Phùng Ngọc Kiên (2014), Xã hội học văn học, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn học
Tác giả: Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc và Phùng Ngọc Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
13. Sapiro, Gisèle (2014), La sociologie de la littérature, Paris, La Découverte, Coll. Repères Sách, tạp chí
Tiêu đề: La sociologie de la littérature
Tác giả: Sapiro, Gisèle
Năm: 2014
14. Trần Hữu Quang (2015), Xã hội học báo chí, tái bản lần thứ nhất, có bổ sung và cập nhật, TP.HCM, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học báo chí
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2015
15. Wacquant, Lọc (2006), “Pierre Bourdieu”, in Rob Stones (Ed.), Key Contemporary Thinkers, London and New York, Macmillan, new edition, Chapter 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pierre Bourdieu”, in Rob Stones (Ed.), "Key Contemporary Thinkers
Tác giả: Wacquant, Lọc
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w