1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuong VIII tien bo xa hoi va van de xa hoi

22 530 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 372,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ là hệ thống các khái niệm phản ánh những trình độ vận động khác nhau 4 của toàn bộ thế giới khách quan với tính phức tạp, đa dạng của nó - từ các dạng vật chất vật chất vô cơ đến các

Trang 1

PGS.TS Hồ Sĩ Qúy

I

TIẾN BỘ XÃ HỘI - MỘT VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC

I.1 Vấn đề tiến bộ xã hội

Theo quy luật, xã hội loài người vận động ngày một nhanh hơn Mặc dù có những bước quanh co, có những lúc khủng hoảng, có những giai đoạn thụt lùi và hầu như lúc nào cũng có những thách thức không kém phần gay gắt, song trong tính tất yếu đanh thép của nó, lịch sử xã hội loài người vẫn là qúa trình tiến bộ không ngừng

Trên phạm vi toàn thế giới, thế kỷ XX là thế kỷ của sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc nhờ

áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ mà trước đó nhân loại chưa từng biết đến Trong khoảng 100 năm trở lại đây, mức tăng trưởng GNP trung bình hàng năm ở các nước Nhật Bản, Thụy Điển, Cộng Hoà Liên Bang Đức và Canađa là 12% Tỉ lệ tăng trưởng thực tế hàng năm ở toàn bộ các nước đang phát triển trong thời gian từ năm

1950 đến năm 1986 là 3,1%, một tỉ lệ mà nếu cứ giữ được liên tục như vậy thì thu nhập tính theo đầu người sẽ tăng gấp đôi trong vòng 23 năm, tức là cao hơn tốc độ

tính rằng, cứ mỗi thập niên gần đây, nền kinh tế thế giới lại sản xuất ra một lượng giá trị tương đương với những gì mà nó đã sản xuất ra ở nửa đầu thế kỷ 2

Tuy nhiên, trong thời đại chúng ta, hơn lúc nào hết, sự phát triển của xã hội loài người đang đặt ra nhiều vấn đề đặc biệt cấp bách đối với sự tiến bộ, cũng là những vấn đề

mà trước đó con người khó có thể hình dung được

Trong 100 năm qua, loài người phải trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp, chứng kiến sự đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống xã hội, những cuộc xung đột sắc tộc tàn khốc, sự lộng hành của chủ nghĩa đế quốc, nạn phá vỡ cân bằng sinh thái và tình trạng đói nghèo diễn ra ở nhiều quốc gia, v.v Bom nguyên tử đã nổ ở Hirôsima

và Nagasaki vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai Vũ khí hoá học

và sinh học đã được chủ nghĩa đế quốc dùng trong nhiều cuộc chiến mang tính chất huỷ diệt, trong đó có cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Công nghệ thông tin đã trực

1 Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới

2 Xem: 1) E Wayne Nafziger Kinh tế học của các nước đang phát triển Nxb Thống kê, Hà Nội,

1998, tr 89-92; Dự báo thế kỷ XXI Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998, tr 240; Lester R Brown ảo tưởng về tiến bộ Tài liệu Viện Thông tin khoa học xã hội, số TN 91-48, năm 1991

Trang 2

tiếp điều hành chiến tranh ở Nam Tư, Apganistan, Irăq và tiếp tay cho nhiều kẻ khủng

bố trên khắp thế giới

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trong khi đem đến cho con người những thành tựu to lớn thì đồng thời cũng đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng khi những thành tựu đó được sử dụng vào các mục đích phi nhân đạo Chiến tranh lạnh kết thúc, song không vì thế mà chạy đua vũ trang đã chấm dứt Trái lại, nạn khủng bố quốc tế, chiến tranh và xung đột vũ trang vẫn xảy ra ở nhiều khu vực Sau sự kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ, cộng đồng thế giới dường như trở nên kém an toàn hơn Các nước xã hội chủ nghĩa Đông âu và Liên Xô sụp đổ làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào tình thế rất khó khăn Chủ nghĩa đơn cực Mỹ ngày càng tỏ rõ tham vọng thống trị của mình Nền kinh tế thị trường ở trình độ toàn cầu hóa, một mặt, đã tạo ra nguồn của cải lớn lao cho con người, song mặt khác, cũng đã làm cho khoảng cách giữa 20% số người giàu nhất so với 20% số người nghèo nhất tăng lên 74 lần vào

trên thế giới, nạn tham nhũng, tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội và sự suy thoái về mặt đạo đức đang có chiều hướng gia tăng Nạn khủng hoảng sinh thái rõ ràng là hậu quả không kém phần trực tiếp của việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, v.v Sự thật là, trong khi của cải và tiện nghi vật chất có thể đã trở nên thừa mứa ở nơi này, thì ở nơi khác tình trạng đói nghèo, thất học và không có cơ hội để phát triển lại là thảm cảnh mà hiện vẫn chưa tìm ra lối thoát

Có thể nói, chưa bao giờ bộ mặt của các mâu thuẫn trong sự phát triển lại hiện ra sâu sắc như hiện nay Đối mặt với các tình huống mâu thuẫn ấy, con người hiện đại, từ những người có trách nhiệm đến những người hết sức bình thường, đều không tránh khỏi phải đặt ra cho mình những câu hỏi mang nặng chất suy tư, chẳng hạn, đời sống

xã hội rõ ràng là văn minh hơn, nhưng tại sao lại có nhiều điều kém nhân đạo hơn? Đạo đức và truyền thống cùng với những giá trị văn hoá tốt đẹp khác của các cộng đồng phải chăng là những thứ xa xỉ trong xã hội thực dụng và thị trường? Nói ngắn gọn thì xã hội hiện đại đang thực sự tiến bộ hơn hay là không phải như thế?

Vấn đề đặt ra là phải chăng tiến bộ xã hội chỉ là tiến bộ về mặt đời sống vật chất? Phải chăng những thành tựu vĩ đại của sản xuất, khoa học, công nghệ và văn hóa không

đủ sức làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn về mọi mặt, hay ít ra là về mặt tinh thần? Và trong sự vận động phức tạp của đời sống thì con người lấy gì để đánh giá tiến bộ xã hội?

Đây là những câu hỏi mà triết học có trách nhiệm phải giải đáp

I.2 Khái niệm Tiến bộ xã hội

quan hệ chặt chẽ với các khái niệm vận động và phát triển Vận động - phát triển - tiến

3 Xem: UNDP Báo cáo phát triển con người năm 1999 Nxb CTQG Hà Nội, 2000

Trang 3

bộ là hệ thống các khái niệm phản ánh những trình độ vận động khác nhau 4 của toàn

bộ thế giới khách quan với tính phức tạp, đa dạng của nó - từ các dạng vật chất vật chất vô cơ đến các dạng vật chất hữu cơ, từ giới tự nhiên vô sinh đến thế giới hữu sinh

và xã hội loài người

Tuy nhiên, trong các tài liệu lý luận và các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay,

thống các khái niệm phản ánh sự tiến bộ kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội

chiếu với gốc từ tiếng Latinh: progressus, nghĩa là vận động tiến lên phía trước; là một kiểu, một khuynh hướng phát triển được đặc trưng bởi bước chuyển từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Đối lập với tiến bộ là khái niệm

trình phân rã, huỷ hoại, thoái hoá khỏi cấu trúc đã có của khách thể

Nói đến tiến bộ người ta thường hiểu là tiến bộ trong xã hội, của xã hội, thuộc về xã

trình tự nhiên, sự vận động tiến lên phía trước từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn thường được biểu thị trong khái niệm phát triển

chỉ đặc trưng cho các quá trình tự nhiên, mà còn được dùng khá phổ biến trong nhận

mọi sự phát triển trong xã hội đều là tiến bộ Cũng không phải mọi tập hợp các tiêu chí của sự phát triển đều có thể được thừa nhận là tiến bộ Trong hầu hết các quan niệm khác nhau, tiến bộ chỉ là một trình độ - trình độ cao của sự phát triển

hội là gì? triết học đặc biệt quan tâm và luôn luôn tranh luận về câu hỏi tiến bộ xã hội

vấn đề đặt ra chủ yếu là ở chỗ xác định tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội Với triết học, cái

những tiêu chuẩn nào?

Do được sử dụng một cách khá phổ biến không những trong tất cả các khoa học xã hội

mà còn cả trong ý thức thông thường, cho nên việc phân định phạm vi ứng dụng và

4 Phạm trù Vận động và phát triển xem trong chương "vật chất và các hình thức vận động của nó" của Giáo trình

Trang 4

mức độ khái quát của các khoa học khi sử dụng khái niệm tiến bộ xã hội cũng là vấn đề

đã từng gây tranh cãi Không ít khoa học xã hội tự coi tiến bộ xã hội là khái niệm thuộc

bộ máy phạm trù của mình Tuy nhiên, đa số tác giả coi tiến bộ xã hội trước hết là khái

đặc thù của tiến bộ 5

Vậy tiến bộ xã hội thuộc hệ thống phạm trù của khoa học nào?

xã hội học, kinh tế học, chính trị học hoặc thuộc những khoa học liên ngành nào đó

Sẽ là bất hợp lý nếu không thừa nhận, mỗi khoa học chuyên biệt, thậm chí mỗi quan điểm nghiên cứu, đều có thể và có quyền đưa ra bảng tiêu chuẩn riêng của mình về tiến bộ xã hội Vấn đề tất nhiên sẽ là ở chỗ, bảng tiêu chuẩn riêng ấy khách quan đến mức độ nào, hợp lý đến mức nào với những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể

Thời gian gần đây, nhiều cộng đồng khác nhau trên thế giới, mặc dù sống trong những điều kiện kinh tế - xã hội hết sức đặc thù nhưng cũng đã chấp nhận và sử dụng các bảng tiêu chuẩn chung do các tổ chức quốc tế nêu ra để đánh giá mức độ phát triển

người (HDI) do tổ chức UNDP đưa ra là một thí dụ Trong những bảng tiêu chuẩn này, không phải mọi tiêu chuẩn đã hoàn toàn hợp lý, song để đánh giá trình độ tiến bộ của mỗi quốc gia so với mặt bằng chung của cộng đồng thế giới, thì việc đưa ra những bảng tiêu chuẩn này, về cơ bản là có ý nghĩa Tiến bộ về kinh tế, tiến bộ về y tế và tiến

bộ về mức sống, v v có thể chưa phải là mục tiêu tối thượng hoặc trước mắt trong chiến lược phát triển của từng quốc gia Song, đó cũng là những tiêu chuẩn có giá trị phổ biến mà việc thừa nhận chúng nói lên rằng, dù có bị quy định bởi những điều kiện đặc thù đến mức nào đi nữa thì các dân tộc khác nhau cũng đều có những cái chung, cái phổ quát đặc trưng cho sự tiến bộ xã hội

Có đầy đủ cơ sở để xác định rằng, mặc dù được sử dụng phổ biến trong nhiều khoa học xã hội và nhân văn, song với chức năng thế giới quan và phương pháp luận được thể hiện rất rõ của mình, tiến bộ xã hội, trước hết là một khái niệm triết học Với triết

này đã được giới triết học mácxít khẳng định từ những năm 70-80 (thế kỷ XX)

Khi thừa nhận điều vừa nói, cần lưu ý rằng, trong các tác phẩm kinh điển, khái niệm

những phạm trù cấu thành những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Cả Mác và ăngghen đều có bàn đến tiến bộ xã hội, thậm chí bàn khá nhiều đến tiến bộ xã hội, nếu tính đến cả những chỗ các ông lý giải không trực tiếp Tuy nhiên, các ông không coi tiến bộ xã hội là khái niệm giữ vị trí tương đương với các khái niệm như

5 Xem: Tiến bộ xã hội và tiến bộ đạo đức: sự hài hoà và mâu thuẫn Mátxcơva, 1988,

L.V.Xkvorxốp Tiến bộ xã hội và tự do Mátxcơva, 1979

Trang 5

là những người có công làm phong phú và soi sáng thêm một số phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó có phạm trù tiến bộ xã hội

duy vật lịch sử được thể hiện như thế nào?

Có thể khẳng định rằng, mặc dù tiến bộ xã hội là đối tượng khảo cứu của nhiều khoa học, song nếu xuất phát từ khía cạnh nghiên cứu chuyên biệt của các khoa học đó thì không một khoa học chuyên ngành nào có chức năng đưa ra những tiêu chuẩn phổ quát nhất để định hướng cho sự vận động của xã hội nói chung hay của tất cả các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội Những tiêu chuẩn hợp lý nhất của kinh tế học, chính trị học hay xã hội học, v.v trong hiện thực vẫn chưa phải là những tiêu chuẩn đảm bảo cho xã hội tiến bộ thực sự Không một khoa học chuyên ngành nào, thậm chí ngay cả với các khoa học liên ngành, cho tới nay cũng chưa có một liên ngành nào đủ sức đưa ra được những tiêu chuẩn tổng thể, đáng tin cậy có ý nghĩa bao trùm đối với sự tiến bộ nói chung Vì vậy, do bị quy định bởi những đặc trưng hiển nhiên của mình, triết học buộc phải có thái độ trước những đòi hỏi của sự tiến bộ, buộc phải đưa ra những tiêu chuẩn chung nhất, những quan điểm tổng quát có tính chất định hướng đối với những quan niệm ngoài triết học về tiến bộ xã hội Các khoa học chuyên ngành, các chương trình xã hội cụ thể, khi đưa ra những tiêu chuẩn riêng của mình, dù kín đáo hay trực diện, dù có thừa nhận hay không thừa nhận, bao giờ cũng phải dựa vào một quan điểm triết học nào đó

Không giống như các khoa học chuyên biệt, trong triết học, tiến bộ xã hội là khái niệm

có chức năng định hướng về mặt thế giới quan Thảo luận triết học về tiến bộ xã hội, trong bản chất của nó, là thảo luận về những quan điểm, những tiêu chuẩn hướng tới

sự tiến bộ chung, có ý nghĩa quy định làm cơ sở cho việc chọn lựa những phương án khác nhau trong sự vận động của mọi lĩnh vực thuộc đời sống xã hội

Cần lưu ý rằng, điều vừa nói trên đây không phải là một đảm bảo chắc chắn và tuyệt đối cho các quan niệm triết học về tiến bộ xã hội khỏi bị rơi vào sai lầm Trái lại, tính hợp lý hay không hợp lý, khả năng đạt tới sự đúng đắn hay là sẽ mắc phải sai lầm của các quan niệm triết học khác nhau, về cơ bản không do chức năng triết học của các quan niệm ấy quy định, mà chính là do trình độ khái quát và sức mạnh ứng dụng của chúng chi phối Chúng ta đều biết, trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng xuất hiện không ít những quan điểm ở tầm triết học hoặc mang tính triết học song lại rơi vào ấu trĩ, sai lầm hay cực đoan khi kiến giải về tiến bộ xã hội Hậu quả của việc ứng dụng những quan điểm ấy, tất nhiên, sẽ mang tính tiêu cực; chẳng những chúng không thúc đẩy sự vận động xã hội theo chiều hướng tiến bộ, mà ngược lại, chúng còn cản trở, kìm hãm hoặc làm đổ vỡ các quá trình xã hội tích cực Trường hợp những quan niệm phi triết học, ngoài triết học nhưng do vô tình hoặc cố ý được sử dụng như những quan niệm triết học, tức là được mở rộng phạm vi ứng dụng và trình độ khái quát tới các lĩnh vực ngoài khả năng bao quát của chúng cũng thuộc loại này

Nếu xem xét tiến bộ xã hội trong mối tương quan với những phạm trù cấu thành nội dung các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chẳng hạn, tồn tại xã hội và ý

Trang 6

thức xã hội, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,v.v thì sẽ thấy tiến bộ xã hội là sự thể hiện nội dung của các nguyên lý đó trong khía cạnh giá trị của vấn đề Nói cách khác, nếu nội dung các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được xem xét từ góc độ giá trị học thì giá trị của các quan hệ xã hội được phản ánh trong các nội dung đó chính là nội dung của khái niệm tiến bộ xã hội Tiến bộ xã hội dù xét dưới góc độ nào, cũng đều là sản phẩm của sự đánh giá của con người đối với các hiện tượng và các quá trình mang tính xã hội diễn ra trong đời sống con người

Trong sự so sánh với những giá trị khác của các quan hệ đánh giá thì những giá trị của tiến bộ phần lớn là các giá trị thứ sinh, phái sinh, tức là những giá trị được xác định trên cơ sở đã tồn tại các giá trị vật chất hoặc các giá trị tinh thần khác Điều này nói lên tính khái quát của các giá trị của sự tiến bộ: sự đánh giá về trình độ tiến bộ của một hiện tượng hoặc một quá trình nào đó, thông thường không đơn thuần chỉ là sự đánh giá dựa vào các giá trị nội tại, giá trị ban đầu của các hiện tượng, các quá trình đã diễn

ra trong đời sống xã hội, mà là sự đánh giá ở mức độ cao hơn - những hiện tượng và quá trình cụ thể đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển nói chung của cộng đồng và của xã hội loài người Chẳng hạn, giá trị tự thân của một thành tựu khoa học bao giờ cũng mang ý nghĩa tích cực Song việc sử dụng thành tựu ấy nhằm phục vụ những mục đích nào đó, trên thực tế, đã có rất nhiều trường hợp không vì sự tiến bộ của con người, thậm chí, phản bội lại hạnh phúc của con người

Dưới đây chúng tôi sẽ khảo cứu sâu hơn quan niệm của một số nhà tư tưởng tiêu biểu

song từ rất sớm trước đó, các nhà tư tưởng đã suy tư rất nhiều về phương hướng vận động của lịch sử xã hội, về tương lai của nhân loại và về ý nghĩa của đời sống xã hội loài người

Hômerơ được nhắc tới nhiều lần trong các tác phẩm của Arixtốt và Hêraclít, đã đưa ra

lý thuyết về sự vận động của xã hội theo xu hướng suy đồi về đạo đức Trong một diễn

ca nổi tiếng đến ngày nay, Hêxiôt nói rằng lịch sử loài người đã trải qua "5 thế kỷ", bắt đầu là "thế kỷ vàng" Đó là thời đại mà con người đối xử với nhau theo những chuẩn

Trang 7

mực đạo đức thật đẹp đẽ và cao cả Tiếp theo là "thế kỷ bạc", thế kỷ mà con người đã bắt đầu sống trong lo âu và những người xấu đã xuất hiện Sau đó là các "thế kỷ" ngày một thoái hoá đi về các chuẩn mực của lòng trung thực Đáng sợ nhất là "thế kỷ sắt" 6, thế kỷ mà Hêxiôt coi là đương thời với ông Đây là thế kỷ mà con người trở thành kẻ thù của con người

lịch sử tư tưởng đã ghi nhận ông là nhà tư tưởng đầu tiên của châu âu cố gắng phác hoạ và đi tìm con đường vận động của xã hội loài người

ở phương Đông cổ đại, trong triết học Nho giáo, cũng có quan niệm coi sự vận động của xã hội diễn ra theo xu hướng thụt lùi về mặt đạo đức Chẳng hạn, trong con mắt

trong tương lai Trái lại, đó là một xã hội có thực đã từng tồn tại trong quá khứ - xã hội đại đồng của vua Thuấn, vua Nghiêu Do vậy, trong quan niệm của Nho giáo, "tiên vương", "tiên thánh" được xem là mẫu mực cho hành vi của thiên hạ Cũng vì thế mà việc noi gương đời xưa ("pháp cổ"), việc bắt chước đạo đức của các bậc tiên thánh, tiên vương ("pháp thiên vương") được coi là xu hướng vận động tất nhiên của các xã hội Còn ở phương Tây, tiếp theo Hêxiôt, hầu hết các nhà tư tưởng trong mọi thời đại, dù ít hay nhiều, cũng đều có nêu ra những quan điểm của mình về tiến bộ xã hội

trong những bậc tiền bối của học thuyết về tiến bộ xã hội Người đời sau đã ghi lại hàng chục cuộc đối thoại của Platôn bàn về các vấn đề có liên quan đến xu hướng vận động của xã hội thông qua các quan niệm của ông về nhà nước, về chính trị, về đạo đức, v.v Theo Platôn, xã hội loài người, trong bản tính của nó, sẽ vận động theo chiều hướng đi lên Trong sự vận động ấy, chính trị, pháp quyền, nhà nước sẽ lần lượt phải thay đổi các hình thức biểu hiện của chúng Hình thức sau thường có "ưu điểm" hơn so với hình thức trước Sự vận động của xã hội không phải là một quá trình vô tận, mà là những đường vòng có giới hạn, ở đó chu kỳ lặp lại những giai đoạn đã trải qua

của Platôn về vận động xã hội Tuy cũng thừa nhận xã hội vận động theo chu kỳ, song

xã hội, cũng như "sự tiến triển tự nhiên" của các kiểu nhà nước Arixtốt đã so sánh tiến trình xã hội với sự vận động của các cơ thể sống và hình dung rằng, sự phức tạp của vận động xã hội cần phải được lý giải bằng bản chất "động vật chính trị" của con người ("bẩm sinh, con người là một động vật chính trị" 7 - Arixtốt)

Trang 8

Vào thời phong kiến trung cổ, dưới sự thống trị của nhà thời Kitô giáo, con người và xã hội loài người đã sa vào những nghịch lý của sự tiến bộ Một mặt, con người được coi là giống với Đấng sáng tạo, nghĩa là ở nó cũng tiềm ẩn khả năng sáng tạo Nhưng mặt khác, con người lại là nô lệ của Chúa Điều này đã tạo nên mâu thuẫn khó vượt qua cho sự phát triển Mặc dù đa số các nhà tư tưởng của thời này cũng hiểu lịch sử như một quá trình có khuynh hướng, song tính khuynh hướng của quá trình ấy lại được coi

là sản phẩm do Thượng đế an bài, còn các quy luật khách quan của lịch sử thì đã bị các học thuyết thần học phủ định

Những lý thuyết đầu tiên về tiến bộ xã hội (theo đúng nghĩa hiện đại của khái niệm này) chỉ thực sự xuất hiện vào thời kỳ của sự tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa cùng với sự trưởng thành của giai cấp tư sản, kẻ là đại biểu và tượng trưng cho sự tiến

bộ xã hội lúc bấy giờ

Cột mốc đáng kể trong sự phát triển của những quan niệm về tiến bộ xã hội được đánh dấu bởi tên tuổi của J Vicô (1668-1744) J Vicô đã đưa ra lý thuyết về "vòng tuần hoàn của lịch sử" Theo đó, con đường tiến triển của tất cả các dân tộc đều đi theo một chu kỳ gồm ba giai đoạn Đầu tiên là giai đoạn "thần thánh", giai đoạn được phản ánh trong các huyền thoại Lúc đó trong xã hội chưa tồn tại nhà nước, nhân vật trung tâm của xã hội là các vị tư tế Tiếp đó là giai đoạn "anh hùng", giai đoạn được phản ánh trong những anh hùng ca cổ đại Lúc này nhà nước quý tộc xuất hiện và ngày càng có

vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Giai đoạn thứ ba là giai đoạn "người" hoặc giai đoạn "nhân tính" Đây là giai đoạn đã được phản ánh trong sử biên niên, tương ứng với

sự tồn tại của nhà nước cộng hoà hay nhà nước quân chủ lập hiến Theo J Vicô, qua mỗi chu kỳ như vậy, các dân tộc đều phải đón nhận một cuộc khủng hoảng và tan rã

xã hội Sự tiến bộ xã hội, trong quan niệm của ông, là kết quả của những mâu thuẫn và những cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai tầng xã hội, song cuối cùng xã hội không phải là đi lên mà là trở lại điểm xuất phát ban đầu của chu kỳ

Sau J Vicô, những tư tưởng về tiến bộ xã hội nảy nở rực rỡ vào thời đại mở đường cho cách mạng tư sản Pháp Các nhà tư tưởng của thời kỳ này tin tưởng sâu sắc vào tiến bộ

xã hội và cố gắng lý giải nó với những chuẩn mực thời đại của họ

từ những hình thức thấp, sơ khai của chúng rồi từ đó tìm ra xu hướng vận động phức tạp của lịch sử xã hội Trong tác phẩm "Bàn về tinh thần", xuất bản năm 1758, ông cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng hoàn cảnh lại do pháp luật tạo ra,

do vậy cần phải thay đổ hoàn cảnh bằng một thái độ cách mạng Tiến bộ xã hội trong quan niệm của Henvêtiuýt bao gồm nhiều tư tưởng nhân đạo về pháp luật, về công bằng xã hội, về phân phối của cải và về lý tưởng xã hội

là hai nhà lý luận tiên phong của cách mạng tư sản Pháp là những người có ảnh hưởng lớn đến các quan niệm về tiến bộ xã hội ở châu âu đương thời

Trang 9

nguyên tắc của pháp quyền chính trị" xuất bản năm 1762; "Bàn về giáo dục" xuất bản năm 1762, v.v J Rutxô đã nêu ra nhiều quan điểm rất tiến bộ về tự do, bình đẳng và bác ái

Cũng như vậy, trong các tác phẩm như "Tư tưởng triết học" xuất bản năm 1746; "Thư

năm 1762, v.v Điđơrô đã tỏ rõ quan điểm của mình trong việc xây dựng một xã hội lấy lý tính làm cơ sở và tiêu chuẩn của tiến bộ

Một nghị sĩ quốc hội (thời kỳ sau cách mạng 1789), người đã tham gia nhóm bách khoa

hội J.Côngđoócxê không những là người đã đề xuất nhiều tư tưởng đáng chú ý về tiến

bộ xã hội, bày tỏ niềm tin của mình vào lý tưởng tiến bộ xã hội mà còn bằng chính cuộc đời của mình cổ vũ nhiệt thành cho lý tưởng tự do - bình đẳng - bác ái và đấu tranh

1795, J.Côngđoócxê chứng minh rằng, tiến bộ xã hội có những quy luật chung của nó Nếu con người nắm bắt được những quy luật này thì sự phát triển xã hội về đại thể là

có thể dự báo được, thậm chí, có thể rút ngắn được Theo ông, lịch sử là sản phẩm của

lý tính Sự vận động của lịch sử sẽ diễn ra cùng với khả năng vô tận của lý tính con người Các thời đại khác nhau của lịch sử, theo sự giải thích của ông, gắn liền với những giai đoạn khác nhau của sự phát triển lý tính Chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là giai đoạn cao trong số mười giai đoạn của lịch sử loài người Sự tiến bộ của xã hội loài người trong tương lai, theo Côngđoócxê, cũng đi theo hướng phát triển pháp quyền tư sản

Đáng lưu ý là, C Henvêtiuýt, J Côngđoócxê cũng như tất cả những nhà tư tưởng thuộc thời đại của các ông đã coi lý tính là tiêu chuẩn tối thượng của tiến bộ xã hội

Một trong những nhà triết học trước Mác có công phân tích một cách đầy đủ nhất về

- cái hoàn thiện Cái hoàn thiện tồn tại ngay trong tiềm năng, trong tính xu hướng của cái chưa hoàn thiện Có thể thấy rằng, điều cốt lõi trong lý thuyết của G Hêghen về tiến bộ xã hội là ở chỗ ông đã nhận ra và lý giải được một cách sâu sắc tính biện chứng của sự vận động xã hội, đã xem xét lịch sử xã hội như là một quá trình thống nhất và hợp qui luật Mặc dù đề cao tính đặc thù của mỗi thời đại, song Hêgen vẫn khẳng định rằng, mỗi thời đại là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình phát triển chung của nhân loại Tuy vậy, ông lại quá tư biện đến mức coi tiến bộ xã hội chính là quá trình vận

lý thuyết thần học trung cổ về sự phát triển xã hội Thêm vào đó, ngay trong triết học

xã hội, G Hêghen cũng tự mâu thuẫn với chính mình Trong khi cho rằng sự phát triển, theo lôgíc nội tại của nó, luôn luôn là vô cùng, vô hạn thì ông lại biện minh rằng sự tồn tại của nhà nước quân chủ lập hiến Phổ là đỉnh cao của sự phát triển lịch sử

Trang 10

Một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng, ông tổ của chủ nghĩa thực chứng,

(1798 -1857) Bằng những nghiên cứu toán học và "vật lý học về xã hội" (xã hội học) của mình, ô Côngtơ cho rằng sự tiến hoá của con người về mặt trí tuệ (tương đương với sự phát triển tri thức của các cá nhân riêng lẻ) là cái quy định toàn bộ sự phát triển

xã hội Quá trình tiến hoá này, diễn ra theo ba giai đoạn Đầu tiên là "giai đoạn thần thoại": mọi hiện tượng được giải thích trên cơ sở các quan niệm tôn giáo Tiếp theo là giai đoạn "siêu hình học": các nhân tố siêu nhiên được thay thế bằng cái gọi là các bản chất, các nguyên nhân Nhiệm vụ của giai đoạn này là phê phán và công phá để chuẩn

bị cho giai đoạn cuối cùng, "giai đoạn thực chứng", hay "giai đoạn khoa học" ở giai đoạn thứ ba này, khoa học về xã hội xuất hiện, các quy luật xã hội được phát hiện và được thực chứng Trên thực tế, ô Côngtơ là người đã kế thừa và phát triển quan niệm

về tiến bộ xã hội của Xanh Ximông Trong quan niệm của ô Côngtơ, tiến bộ xã hội được nhấn mạnh ở phẩm chất "bác ái"

Một nhà triết học, xã hội học, sử học và kinh tế học nổi tiếng người Đức, người đề

1864-1920) M Vâybơ đánh giá rất cao ý nghĩa của các nhân tố truyền thống, tôn giáo

và đạo đức đối với sự tiến bộ xã hội

Theo M Vâybơ, lý tính với tính cách là nét đặc trưng của văn hoá châu âu được hình thành qua nhiều thế kỷ là tính quy định bên trong, là cái có ý nghĩa nền tảng đối với sự vận động của các xã hội châu âu Sự vận động ấy có xu hướng hiển nhiên là đi theo mô hình của xã hội thị trường M Vâybơ cho rằng, xã hội tiến bộ phải là xã hội biết xử lý hợp lý (có lý tính) mối quan hệ giữa các nhân tố văn hoá, chính trị, kinh tế, tư tưởng, v.v Trong việc xử lý các mối quan hệ ấy, nền văn minh tư bản chủ nghĩa phải được hiện ra như là một tất yếu đối với các cộng đồng Kitô giáo và Tin lành

Vâybơ đã coi lý tính như là nhân tố quy định đối với văn hoá châu âu hiện đại, cái làm

nhân tố đạo đức và nhân tố tôn giáo trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Theo quan niệm của ông thì chính nhân tố đạo đức và nhân tố tôn giáo là nguồn gốc của những đức tính tốt đẹp của con người; những đức tính tốt đẹp ấy đến lượt mình lại qui định bộ mặt của xã hội, đặc biệt là bộ mặt của xã hội tư bản châu âu Có lẽ vì đánh giá thái quá vai trò của những nhân tố này mà M Vâybơ đã rơi vào sai lầm khi bàn luận về các xã hội ngoài phương Tây

II.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác về tiến bộ xã hội

Kế thừa những quan niệm về tiến bộ xã hội đã có từ thời cổ đại, trên cơ sở đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng tư sản đương thời, Mác và ăngghen đã xây dựng được hệ thống quan niệm về tiến bộ xã hội mà đến tận hôm nay vẫn là một đỉnh cao chưa vượt qua được, nếu chúng ta so sánh học thuyết của Mác và Ph.ăngghen với các học thuyết khác về xã hội Chẳng phải ngẫu nhiên mà theo thăm dò của kênh

Trang 11

trong vòng 1000 năm qua 8 Cùng với ăngghen, Mác đã xây dựng nên học thuyết vĩ đại của xã hội loài người, học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội, đã chỉ ra cho nhân loại con đường và biện pháp hiện thực để giải phóng giai cấp, giải phóng lao động khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công trong xã hội Chủ nghĩa cộng sản mà các ông chủ trương xây dựng chính là xã hội mà trong đó, theo các ông, mọi người sẽ có cuộc sống tự do, hạnh phúc, con người được giải phóng một cách triệt để và được phát triển một cách

tự do - “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất

Mác, ăngghen và Lênin lại không bằng cách này hay bằng cách khác đề cập đến tiến bộ

xã hội Học thuyết của các ông, theo đánh giá của Day Thoesen, “là kim chỉ nam để hiểu về bản chất, quy luật tất yếu của thế giới mà loài người đã, đang và sẽ sống” 10 Cũng có nét tương đồng với cách thức đề cập đến tiến bộ xã hội của Mác và ăngghen,

ở Hồ Chí Minh, tư tưởng về tiến bộ xã hội cũng thường ẩn chứa ở tầng sâu nhất trong các tác phẩm của người, mà đặc biệt là trong các “triết lý hành động” của Người Thế giới coi Hồ Chí Minh là nhà hiền triết lớn của thời đại, thấu hiểu sự phát triển đặc thù của các dân tộc Nhiều nhà hoạt động chính trị - xã hội, cả ở phương Đông lẫn phương Tây thừa nhận ở Hồ Chí Minh có những tư tưởng uyên thâm, sâu sắc và độc đáo, đặc biệt về sự phát triển của con người và xã hội á đông Hồ Chí Minh không viết những chuyên luận đồ sộ về tiến bộ xã hội, mà trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguời thể hiện quan điểm của mình thường là kín đáo thông qua các quan niệm của Người về Đảng và nhân dân, về dân tộc và tổ quốc, về cách mạng và chủ nghĩa xã hội, về con người và văn hoá, v.v Hơn thế nữa, tư tưởng về tiến bộ xã hội ở Hồ Chí Minh lại có bản sắc riêng, thể hiện phong cách, cốt cách của Người trong việc vận dụng sáng tạo

và phát triển tất cả các trường phái tư tưởng mà Người đã từng tiếp thu, lĩnh hội

Quan điểm chính của chủ nghĩa Mác - Lênin về tiến bộ xã hội thể hiện ở những nội dung sau:

a) Tiến bộ xã hội là qúa trình mâu thuẫn

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, tiến bộ xã hội mặc dù là xu thế khách quan, song nó lại là một quá trình đầy mâu thuẫn, được thực hiện trong mâu thuẫn và thông qua mâu thuẫn; và vì vậy, trong nhận thức của con người nó lại càng là qúa trình mâu thuẫn Mác viết: “ở trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như có một sức mạnh thần kỳ nào đó, lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần Dường như loài người càng

8 Xem: C Mác - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại trong 1000 năm qua Thông tin công tác

tư tưởng, số 10.1999 tr 40

9 C.Mác, Ph.ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG Hà Nội, 1995 tr.628

10 Xem: C Mác - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại trong 1000 năm qua Thông tin công tác tư tưởng, số 10.1999 tr 40

Ngày đăng: 13/03/2014, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w