1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Die u kie n t nhien da k la k

39 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 402,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí địa lý Tam giác phát triển khu vực biên giới ba nước Cămpuchia, Lào và Việt Nam gồm lãnh thổcủa các tỉnh có đường biên giới hoặc có liên quan đến khu vực biên giới chung giữa ba n

Trang 1

Chương II: ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU KHU VỰC TAM GIÁC

PHÁT TRIỂN CĂMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM

I ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1 Vị trí địa lý

Tam giác phát triển khu vực biên giới ba nước Cămpuchia, Lào và Việt Nam gồm lãnh thổcủa các tỉnh có đường biên giới hoặc có liên quan đến khu vực biên giới chung giữa ba nước làMondulkiri, Rattanakiri và Stung Treng (Cămpuchia); Attapư, Saravan và Sê kông (Lào); KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông (Việt Nam) Tổng diện tích tự nhiên là 111.021km2, tổng dân

số năm 2002 khoảng 4.058 nghìn người (mật độ dân số 37 người/km2), trong đó:

- Vùng các tỉnh Đông bắc của Cămpuchia bao gồm tỉnh Mondulkiri, tỉnh Rattanakiri vàtỉnh Stung Treng với diện tích tự nhiên khoảng 37.636 km2, tổng dân số 247,8 nghìnngười , chiếm 33,9% diện tích tự nhiên và 6,1% tổng dân số toàn khu vực, mật độdân số 7 người/km2

- Vùng các tỉnh Nam Lào bao gồm tỉnh Attapư, tỉnh Saravan và tỉnh Sekong với diện tích

tự nhiên khoảng 28.675 km2, dân số năm 2002 là 482,1 nghìn người, chiếm 25,8 %diện tích tự nhiên và 11,9% dân số toàn khu vực, mật độ dân số gần 17 người/km2

- Vùng các tỉnh thuộc Tây Nguyên của Việt Nam bao gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk vàĐắk Nông với diện tích tự nhiên 44.710 km2, dân số năm 2002 là 3.328 nghìn người,chiếm 40,3% diện tích tự nhiên và 82% dân số toàn khu vực, mật độ dân số 74người/km2

Về phía Bắc, Tam giác phát triển Cămpuchia - Lào - Việt Nam giáp tỉnh Savanakhet(Lào), Quảng Nam (Việt Nam), phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà(Việt Nam), phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước (Việt Nam), Kompong Chăm, Kratie,(Cămpuchia) và phía Tây giáp tỉnh Kompong Thom, Preah Vihear (Cămpuchia) và Chămpasak(Lào)

2 Khí hậu

Khí hậu khu vực biên giới ba nước Cămpuchia, Lào và Việt Nam được hình thành dướitác động của bức xạ mặt trời, hoàn lưu khí quyển và vị trí địa lí, trong đó vị trí địa lí và độ cao cóvai trò quan trọng nhất hình thành một vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Do chịu ảnh hưởngchủ yếu của gió mùa tây nam nên mùa hè và mùa thu mưa nhiều, thời tiết dễ chịu, ngược lạimùa đông và mùa xuân rất ít mưa, khô hạn gay gắt do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc ở đôngTrường Sơn

Yếu tố hạn chế về khí hậu là mùa mưa thường có mưa lớn và tập trung dễ gây lũ, úngngập cục bộ và xói mòn rửa trôi, sạt lở đất khi rừng đã bị chặt phá với diện tích lớn

Mùa khô nói chung bị thiếu nước nghiêm trọng, hạn hán dài ngày, đất đai, cây cối bị khô

và thường dễ xảy ra cháy Do diện tích rừng trong những năm trước đây bị suy giảm nghiêmtrọng nên môi trường sinh của khu vực biên giới ba nước đang ở trong tình trạng diễn biến xấulàm tăng thêm tính khốc liệt của mùa khô kéo dài, mức độ bốc thoát hơi nước càng lớn và thiêntai do mưa lũ có xu hướng gia tăng

Trang 2

Chế độ nhiệt

Nét đặc biệt của chế độ nhiệt khu vực biên giới ba nước là vùng có nền nhiệt độ cao, có

xu thế giảm dần từ nam ra bắc và từ thấp lên cao

- Các vùng có nền nhiệt độ cao thường có nhiệt độ trung bình tháng lớn hơn 250C như ởvùng đồng bằng Attapư, đồng bằng dọc sông Mekong, sông Sekong của Stung Treng

và Rattanakiri, khu vực Cheo reo

- Các vùng có nền nhiệt độ thấp thường có nhiệt độ trung bình tháng nhỏ hơn 210C nhưcao nguyên Boloven, các vùng núi cao biên giới giữa Kon Tum với Sekong và Attapư

- Biên độ nhiệt trung bình năm tương đối thấp, nhưng biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệchkhá lớn, có khi đạt tới 150C

Đây là vùng có nhiệt độ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Khó khăn lớn nhất của vùng

là thiếu nước vào mùa khô Nếu giải quyết được nước tưới, với nền nhiệt cao và tài nguyên đấtdồi dào sẽ tạo cho khu vực này tiềm năng quan trọng để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp

đa dạng, hiệu quả kinh tế cao

Lượng mưa

- Chế độ mưa khu vực Tây Nguyên:

Mưa ở Tây Nguyên tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao Do ảnh hưởng của địa hình và

sự phân bố mưa theo không gian khá phức tạp nên nơi có lượng mưa lớn có thể gấp 2 - 3 lầnnơi có lượng mưa nhỏ Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6đến tháng 12 Với địa thế cao, Tây Nguyên tiếp nhận cả hai khối khí đoàn đông bắc và tây namtạo nên một kiểu khí hậu đặc thù nhiệt đới ẩm gió mùa cao nguyên Ở các vùng sườn cao đóngió tây nam như Plei Ku có lượng mưa (khoảng 2.600 - 2.800mm) lớn hơn các vùng thấp nhưcao nguyên Buôn Ma Thuột (1.600 - 1.800mm) Những nơi bị khuất cả đối với gió mùa tây nam

và đông bắc như trũng Cheo Reo có lượng mưa rất thấp (khoảng trên dưới 1.200mm), vùngtrũng An Khê, Krông Buk (khoảng 1.400mm) Số ngày mưa trung bình năm thay biến động khálớn giữa các vùng Trên các cao nguyên Plei Ku, Đăknông, Buôn Ma Thuột số ngày mưa trungbình năm đạt 140 - 150 ngày Vùng thung lũng sông Ba, bình nguyên Ea Soup số ngày mưatrung bình năm chỉ có 100 - 120 ngày

- Chế độ mưa trên khu vực Mondulkiri, Rattanakiri, Stung Treng, Attapư, Saravan và Sekông:

Chế độ mưa chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa thường bắt đầu từ đầu tháng 5 và kếtthúc vào cuối tháng 10 và chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm, mùa khô thường bắt đầu từ tháng

11 và kế thúc vào cuối tháng 4 năm sau chỉ chiếm 10 - 20% lượng mưa cả năm Những nơi cólượng mưa trung bình năm cao là khu vực cao nguyên Boloven (trạm Paksong) 3.374mm, đồngbằng Attapư 2.270 mm, khu vực Rattanakiri và Stung Treng khoảng 1.800 - 3.000 mm Nhữngnơi có lượng mưa thấp cũng lớn hơn 1.500 mm (vùng miền núi phía bắc Attapư và phía nam tỉnhSekong) Số ngày mưa trung bình năm khoảng 140 - 150 ngày

3 Địa hình

Khu vực biên giới ba nước chủ yếu nằm về phía tây dãy Trường Sơn do đó bề mặt địahình có hướng dốc thoải dần từ đông sang tây thuộc chiều đón gió tây và tây nam Sườn phíađông (các tỉnh Tây Nguyên) dốc đứng ngăn chặn gió đông và đông nam xâm nhập vào

Trang 3

Địa hình nói chung bị chia cắt phức tạp nhưng đặc trưng hơn cả là tính phân bậc rõ ràng:các bậc cao nằm về phía đông và phía bắc, bậc thấp nhất ở phía tây

Đây là dạng địa hình đặc trưng nhất tạo nên bề mặt chủ yếu của hầu hết các tỉnh trongkhu vực biên giới ba nước

- Bậc địa hình ở độ cao dưới 300 m: chủ yếu gồm các vùng như cao nguyên Rattanakiri,Cheo Reo - Phú Túc, Easoup

- Bậc địa hình ở độ cao từ 300 - 500 m, chủ yếu gồm các vùng dọc sông Đăk PôKô,xung quanh thị xã Kon Tum, An Khê, vùng Thateng (Sekong), phía bắc Sanậm Xay(Attapư)

- Bậc địa hình ở độ cao từ 500 - 800m bao gồm các cao nguyên Plei Ku, cao nguyênBuôn Ma Thuột

Địa hình cao nguyên thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp quy mô lớn với nhữngcây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, chè Khó khăn lớn nhất của các cao nguyên này

là thiếu nước về mùa khô, mực nước ngầm sâu chỉ thích hợp với cây lâu năm và chịu hạn

Dạng địa hình này tập trung chủ yếu ở khu vực các dãy núi phân thuỷ giữa lưu vực sôngSekong và sông Sesan (dọc biên giới Lào - Việt Namvà biên giới Lào - Cămpuchia), vùng tây bắcAttapư nối tiếp với cao nguyên Boloven và phía bắc, phía đông, đông nam Tây Nguyên

- Ngọc Linh là dãy núi đồ sộ nhất ở Bắc Tây Nguyên kéo dài từ Bắc - Tây Bắc xuốngNam - Đông Nam trên gần 200 km Các đỉnh núi cao có thể kể đến gồm đỉnh NgọcLinh 2.598 m, Ngọc Lum Heo 2.023 m và dãy Ngọc Bin San ở độ cao 1.939m

- Giữa hai lưu vực sông Sesan và Sekong có dãy núi cao chạy theo hướng bắc namtheo biên giới từ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam đến ngã ba biên giới ba nước (độ caotrung bình các đỉnh núi khoảng 1.300 - 1500m) và theo hướng đông tây dọc biên giớigiữa Attapư và Rattanakiri (độ cao trung bình các đỉnh núi khoảng 800 - 900 m)

- Về phía Nam - Đông Nam có dãy núi Ngọc Krinh (độ cao 2.066m), Kon Kakinh (độ cao1.748 m), Kon Borôa (1.532 m), Kon Xa Krông, Kon Bô Kmiên (1.551 m) Dãy NgọcKrinh thấp nhất tại đèo Măng Giang (830 m) là nơi quốc lộ 19 từ Quy Nhơn đi Plei Kuvượt qua

- Dãy núi An Khê chạy dài 175 km từ phía nam sông Trà Khúc đến tận thung lũngsông Ba, có chiều rộng từ 30 - 40 km là một dãy núi đá đồ sộ tạo nên ranh giới tựnhiên giữa đông và tây Trường Sơn Hướng chung của các dãy núi này là bắc tâybắc - nam đông nam Các đỉnh cao trên 1000m như núi Bà, núi An ở rìa thung lũngsông Cái, phía Nam có đỉnh Chư Nhơn (1.284 m), đỉnh cao nhất của dãy An Khê làChư Trian 1.339 m ở thượng nguồn Ea Thul

Vùng núi là vùng có địa hình chia cắt phức tạp, diện tích rừng của khu vực biên giới banước tập trung ở khu vực này, chủ yếu là rừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn Dân số rất thưathớt, chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người

Trang 4

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất và kinh tế xã hội trên dạng địa hình này rấtkhó khăn và là vùng có trình độ phát triển kinh tế xã hội yếu kém nhất.

- Vùng đồng bằng hai bên sông Mekong (Stung Treng) và các cánh đồng dọc sôngSekong, Sesan, Sprêpok (Stung Treng và Rattanakiri) ở độ cao dưới 100 m

- Cánh đồng An Khê rộng 15 km chạy dài khoảng 45 km ở độ cao 400 - 500 m Đây làmột kiểu thung lũng giữa núi bị san bằng và mở rộng, bề mặt có dạng đồi thấp bằngphẳng, đôi lúc còn sót lại bề mặt san bằng với lớp phủ bazan

- Phía tây dãy Ngọc Krinh là miền trũng Kon Tum Bình nguyên Easoup là một đồng bằngbóc mòn có núi sót khá bằng phẳng ở độ cao 140 - 300 m thoải dần về phía tây

- Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm theo đứt gãy tây bắc - đông nam kéo dài từ KonTum xuống Bề mặt của các cánh đồng Cheo Reo Phú Túc khá bằng phẳng chỉ cònmột ít đồi sót lại

- Vùng trũng Krông Pách - Lăk ở phía nam cao nguyên Buôn Ma Thuột

Vùng địa hình đồng bằng và thung lũng là vùng phát triển cây lương thực, thực phẩm chủyếu của khu vực và có tiềm năng về phát triển thuỷ sản nuôi cá nước ngọt

4 Tài nguyên thiên nhiên

4.1 Tài nguyên đất

Tam giác phát triển là vùng có diện tích đất canh tác lớn và màu mỡ, nhiều vùng đất đỏ

bazan và các loại đất đỏ vàng thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế

cao như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và chăn nuôi gia súc Thực tế khu vực này đã hình thànhnhiều vùng sản xuất tập cây công nghiệp tập trung như cà phê (Đắk Lắk, Gia Lai, Sekong), cao

su (Gia Lai, Kon Tum, Rattanakiri)

a Các loại đất chính

Khu vực biên giới ba nước Cămpuchia, Lào và Việt Nam có tài nguyên đất phong phú vớidiện tích đất đỏ bazan lớn Theo đáng giá của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (ViệtNam) và Viện nghiên cứu nông lâm nghiệp Lào (đối với 2 tỉnh Sekong và Attapư), toàn khu vực

có 12 nhóm đất chính và 23 loại đất (theo phân hạng đất của FAO/UNESCO), trong đó chiếm tỷtrọng lớn nhất là nhóm đất Acrisols 5,4 triệu ha (63,14%) và nhóm đất Ferrasols gần 1,6 triệu ha(18,18%)

Tiềm năng đất đai toàn khu vực nói chung thuận lợi cho phát triển sản xuất sản phẩmhàng hoá lớn tập trung

b Hiện trạng sử dụng đất năm 2002

Trang 5

Năm 2002, toàn khu vực có hơn 1,2 triệu ha đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp(chiếm 13,15% diện tích tự nhiên), trong đó cây hàng năm gần 50 nghìn ha, cây lâu năm gần 520nghìn ha, đồng cỏ, đồi cỏ chăn nuôi gần 47 nghìn ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản gần 2 nghìnha.

Là khu vực đồi núi đầu nguồn của nhiều sông suối lớn nhưng diện tích lâm nghiệp có câyrừng hiện chỉ còn chiếm 62% tổng diện tích tự nhiên Qua nhiều năm khai thác không hợp lítrước đây, diện tích đất trống đồi núi trọc toàn vùng hiện còn khá lớn với khoảng 2 triệu ha vàđang bị thoái hoá nghiêm trọng Phần lớn các loại đất đang bị thoái hoá ở mức độ khác nhau (đấtbazan bị thoái hoá 71,7% trong đó thoái hoá nặng chiếm 21%, thoái hoá nhẹ và trung bình50,7%) Do vậy trong khai thác sử dụng thời gian tới cần phải có phương thức giải quyết kết hợpcác biện pháp sinh học, kỹ thuật, đầu tư đồng bộ để cải tạo phục hồi độ phì nhiêu cho đất nhằmđưa vào phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2002

Đơn vị tính: ha

Toàn khu vực Chia theo vùng lãnh thổ:

(1)

Cămpuchia(2)

Trang 6

Nguồn: - Thống kê của Bộ Nông nghiệp Cămpuchia và Lào (năm 2002)

- Báo cáo của các tỉnh Tây Nguyên (năm 2002) & Viện QH&TKNN

- (1) trừ tỉnh Saravan; (2) trừ tỉnh Mondulkiri

4.2 Tài nguyên nước

Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực của hai hệ thống sông chính là: hệ thống sôngMekong (chiếm khoảng 85% diện tích tự nhiên) và hệ thống sông đổ ra biển Đông (chiếm khoảng15% diện tích) Mạng lưới sông suối khá dày đặc, phân bố tương đối đều trên các lưu vực Đây

là khu vực đầu nguồn của các sông suối nên có ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng hạ lưu củaCămpuchia, Lào và Việt Nam

a) Hệ thống sông Mekong:

Ngoài sông Mekông chảy qua địa phận tỉnh Stung Treng khoảng 100km, trên hệ thốngnày gồm có 3 sông chính là sông Sekong, sông Sesan và sông Srêpok

- Sông Sekong bắt nguồn từ huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế - Việt Nam) chảy theo

hướng bắc, đông bắc xuống nam, tây nam qua tỉnh Sekong, Attapư và Stung Treng và đổ vàosông Mekông ở thị xã Stung Treng với chiều dài nhánh chính khoảng gần 500km, diện tích lưuvực khoảng 29.600 km2 (thuộc địa phận CHDCND Lào khoảng 77%, Việt Nam khoảng 3%,Cămpuchia khoảng 20%), lưu lượng trung bình năm tại Attapư khoảng 430 m3/s Ngoài sôngchính, sông Sekong có một số nhánh chính quan trọng là:

+ Sông Se Nậm Nọi: Bắt nguồn từ vùng núi Beknat ở độ cao trên 1000m, chảy ngoằnngoèo trên cao nguyên Boloven theo hướng chính là nam lên bắc và đổ vào sôngSekong ở bản Hun Nang có diện tích lưu vực 1500km2, lưu lượng trung bình nămkhoảng 34,4m3/s

+ Sông Se Pian: Bắt nguồn từ bản Nọng Poy ở độ cao khoảng 1.200m, chảy theo hướngchính tây bắc - đông nam và bắc xuống nam, đổ vào sông Sekong ở Hạt Khai với diệntích lưu vực khoảng 3.300km2, lưu lượng trung bình khoảng 17,1m3/s Dưới hạ lưucủa sông này có vùng đồng bằng khá rộng tạo điều kiện cho việc khai thác nguồnnước phát triển nông nghiệp

+ Sông Sekaman: Sông Sekaman là một nhánh lớn của sông Sekong vùng với chinhánh quan trọng là sông Se Xụ tạo nguồn nước quan trọng cho đồng bằng Attapư.Sông Sekaman bắt nguồn từ vùng núi cao biên giới Việt - Lào (giữa tỉnh Quảng Nam

và tỉng Sekong) ở độ cao khoảng 1.350m chảy theo hướng bắc nam rồi đông bắc tây nam và đổ vào sông Sekong ở thị xã Attapư với diện tích lưu vực khoảng 6.470

-km2, lưu lượng trung bình năm khoảng 143m3/s

+ Sông Nậm Kong bắt nguồn từ khu vực biên giới Cămpuchia – Lào ở độ cao 700m,chảy theo hướng chính từ đông sang tây đổ vào sông Sekong ở bản Nậm Kong vớidiện tích lưu vực khoảng 1.750km2

Sông Sesan: Bắt nguồn từ dãy núi cao phía đông tỉnh Kon Tum chảy theo hướng bắc

-nam, đông bắc - tây nam qua các tỉnh Kon Tum, Gia Lai Rattanakiri hợp với sông Sprêpok trướckhi hợp với sông Sekong ở gần thị xã Stung Treng Diện tích lưu vực đến Veunxai (thuỷ điện hạSesan 1) khoảng 15.555 km2 (thuộc Tây Nguyên 11.450 km2) Sông này có các nhánh chính làPoko, Đăk Bla (Việt Nam), Prec Can Chan, Nậm Diếc, Đăk Liêng (Cămpuchia)

Trang 7

- Sông Srepok: Bắt nguồn từ vùng phía bắc tỉnh Đà Lạt và phía đông tỉnh Đắk Lắk chảy

theo hướng đông tây rồi đông nam - tây bắc qua các tỉnh Đắk Lắk, Mundunkiri, Rattanakiri vàStung Treng, hợp với sông Sesan ở bản Lương trước khi hợp với sông Sekong ở gần thị xãStung Treng Diện tích lưu vực đến Lumpat (thuỷ điện Sprêpok 1) khoảng 26.350 km2 (thuộc TâyNguyên khoảng 11.721 km2) Sông này có các nhánh chính là Krông Ana, Krông Knô, EaH'leo(Việt Nam), Prec Chba, Đăk Đam, Prec Đrăng (Cămpuchia)

b) Hệ thống sông đổ ra biển Đông:

- Sông Ba bắt nguồn từ vùng đông bắc tỉnh Gia Lai, chảy theo hướng bắc - nam rồi tâybắc - đông nam với diện tích lưu vực khoảng 11.410 km2

- Hệ thống sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng phía tây nam tỉnh Đắk Lắk, chảy theohướng đông bắc tây nam với diện tích lưu vực 22.600 km2

c) Tiềm năng thuỷ điện

Theo nghiên cứu của Uỷ ban sông Mekong năm 1970, tiềm năng thuỷ điện trên các sôngchính của khu vực như sau:

- Thuỷ điện Thác Khôn (Tỉnh Stung Treng giáp với Chămpasak-Lào): Công suất lắp máy

750 MW, sản lượng điện năng 6.220 GWh/năm, có thể kết hợp tưới khoảng 200.000ha

- Thuỷ điện Stung Treng (có thể thay đổi phương án chọn với Sekong 1,2): Công suấtlắp máy 3.400 MW, sản lượng điện năng 24.554 GWh/năm, có thể kết hợp tưới700.000 ha, điều tiết giảm dòng chảy mùa lũ khoảng 25.000m3/s

Trên các nhánh sông chính lưu vực sông Mekong:

- Thuộc các tỉnh của Lào 14 dự án thuỷ điện với tổng công suất lắp máy 3.131 MW, sảnlượng điện năng 15.613 GWh/năm, khả năng kết hợp tưới cho nông nghiệp 103.000ha: Sekong (3,4,5) Xekaman (1,2,3,4,), Xe Xụ, Nậm Kong (1,2,3), Xe Nậm Nọi, Đăk Emeule, H Lamphan Nial

- Thuộc các tỉnh của Cămpuchia: Hạ Sesan1, Hạ Sesan 2, Sprêpok 1, Sprêpok 2,Sprêpok 3 (tổng công suất lắp máy 782 MW, sản lượng điện năng 2.360 GWh/năm,kết hợp tưới 205.000 ha) và Sekong 1, Sekong 2

- Thuộc các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam: 16 dự án thuỷ điện với tổng công suất lắp mắy

1081 MW, sản lượng điện năng 5.210 GWh/năm, kết hợp tưới 14500 ha Khu vựcthượng sông Sesan gồm một số công trình chính: Đăkbla, Plei Krong, Sesan 4, ThácYali Khu vực thượng sông Sprêpok gồm một số công trình chính: Krong Ana,Krong Kno, Đăk Mam, Krong Pach

d) Tiềm năng nước ngầm

Do nguồn nước mưa cung cấp hàng năm tương đối lớn cùng với khả năng thấm và giữnước của một số thành tạo địa chất nên đã làm cho nguồn nước ngầm của khu vực này có vị tríquan trọng trong cân bằng nước Nước ngầm trong các thành tạo bazan đóng vai trò chủ yếunhất, sau đó là thành tạo trầm tích Neogen và các đứt gãy kiến tạo Nhìn chung chất lượng nướcngầm thoả mãn yêu cầu cho nhu cầu sinh hoạt và phục vụ sản xuất

Trang 8

Trữ lượng nước ngầm vùng Tây Nguyên theo các tài liệu hiện có đã xác định được trữlượng công nghiệp C2 (trữ lượng khai thác tiềm năng) của một số cao nguyên bazan như Plei Ku1.422.000 m3/ngày, Buôn Ma Thuột 2.030.000 m3/ngày

Tóm lại tài nguyên nước của khu vực mất cân đối nghiêm trọng về mùa khô, ở những nơi

độ che phủ thấp các sông suối khô cạn, mực nước ngầm tụt sâu Tài nguyên nước (chủ yếu lànước mặt) của khu vực không chỉ ảnh hưởng đến vùng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đếncác vùng hạ lưu vì đây là vùng đầu nguồn của hầu hết các sông suối

b) Tài nguyên thực vật

Hệ thực vật rừng của khu vực có rất nhiều loài Đến nay qua thống kê đã biết trên 3.000loài thực vật bậc cao, trong đó có trên 600 loài cây gỗ lớn có chiều cao từ 12 m trở lên, có nhiềuloại thực vật đặc hữu và gần đặc hữu, nhiều loài cổ và nhiều loài sót lại thuộc loại quí hiếm củathế giới như thông nước (Glyptostrobas Penslis), thông ba lá Ngoài ra còn phát hiện 2 loài thựcvật mới của hệ thực vật Việt Nam ở vườn quốc gia Yook Đôn là cây quao xẻ tua và gạo lông đen

Hệ sinh thái rừng có nhiều loài gỗ quí như cà te (afelia Xylocarpa), cẩm lai (DalbergiaDongnaiens Pierr), giáng hương (Ptercarpus Pedalus Pierr), gụ mật (Sindora Cochinchinensis),cẩm liên (Shorca Siamnensis) và nhiều loài cây họ dầu có sinh khối lớn như dầu đòng(Dipterrocapus Tubecellatus), dầu Trà beng (Dipterrocerpus Obtusiolius)

Kết quả điều tra cây dược liệu vùng Tây Nguyên cho thấy mỗi tỉnh đều có 300 - 400 loàicây thuốc, trong đó hầu hết có các loại thuốc quan trọng như sâm bổ chính, thiên niên động, sanhân, địa liền, thiên niên kiện, hà thủ ô trắng, bách bộ, hoài sơn và một số ít phân bố trên địa bànhẹp như mã tiền vàng đắng, sơn trà và sâm ngọc linh

Trang 9

Ngoài các cây tự nhiên nói trên, khu vực này còn có nguồn tài nguyên thực vật nuôi trồngrất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như các loạicây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày, cây ăn quả, cây dược liệu, cây có dầu, rau và câycảnh Hiện đã thống kê được (chủ yếu ở vùng Tây Nguyên) khoảng hơn 300 loài, trong đó hơn3/4 là các loại cây nhập nội có nguồn gốc từ các vùng khí hậu khác nhau trên thế giới.

c Tài nguyên động vật

Nguồn tài nguyên động vật hoang dã của khu vực biên giới ba nước Cămpuchia, Lào vàViệt Nam nói chung và gia súc nói riêng hết sức phong phú Nhiều loài động vật không những cógiá trị kinh tế cao phục vụ cho xuất khẩu và du lịch mà còn có ý nghĩa khoa học lớn của thế giới.Tuy nhiên tiềm năng thế mạnh này chưa được chú trọng khai thác có hiệu quả

Việc bảo tồn trong ngành thuỷ sản là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững

vì một số loài hiện đã bị cạn kiệt về số lượng, đang trong tình trạng nguy hiểm và rất nguy hiểm

do hậu quả của việc khai thác quá tải hoặc bị tác động từ sự biến đổi của thuỷ học và môi trườngsống

Riêng vùng Tây Nguyên đã thống kê có 525 loài động vật có xương sống trên cạn, trong

đó có 102 loài thú, 323 loài chim và 91 loài bò sát, ếch nhái và 70 loài cá nước ngọt Đặc biệt có

32 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ và 17 loài được Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên quốc tế IUCNxếp vào danh sách các loài động vật quí hiếm của thế giới cần được bảo vệ nghiêm ngặt như bòtót, bò ben teng (bò rừng), bò kyprây (bò xám), hổ, báo, tê giác, nai cà tông, hươu vàng, công, trĩsao, gà tiền mặt đỏ

Ngoài ra đây là là vùng có số lượng voi khá lớn và tập đoàn móng guốc và động vật ăn

cỏ, ăn lá rất phong phú Nhiều loại thú nhỏ hơn như nai, hoẵng, cheo cheo, lợn rừng có sốlượng khá lớn là nguồn cung cấp thịt đáng kể cho nhân dân địa phương

Điều kiện của khu vực này tương đối phù hợp với sự phát triển của các loại động vật nuôinhư trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá với tiềm năng còn rất lớn Mặc dù khó khăn dothiếu thức ăn và nước uống về mùa khô nhưng nếu có phương thức phát triển hợp lý chắc chắnngành chăn nuôi của khu vực này sẽ phát triển khá mạnh, nhất là chăn nuôi gia súc lớn

Tóm lại, tài nguyên sinh vật rất đa dạng và phong phú về số lượng loài và các loại dộngthực vật quý hiếm Đây là một vùng có nguồn gien của thiên nhiên vùng nhiệt đới, là một trongnhững khu vực có tính đa dạng sinh học rất cao, có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệpphát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn nguồn gien ở Đông Nam Á Tuy nhiên trong những năm qua

do khai thác không hợp lý nên đến nay tài nguyên sinh vật của khu vực bị giảm sút nhiều, cónhiều loài quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Do vậy việc đầu tư bảo vệ, gìn giữ và pháttriển tài nguyên sinh vật khu vực biên giới ba nước là một trong những hướng đầu tư cần phảiđược ưu tiên

4 Khoáng sản

Trang 10

Tiềm năng khoáng sản của khu vực Tam giác phát triển rất đa dạng với các mỏ nhôm,

mỏ vàng, đá quí… Trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên có tới trên 200 mỏ và điểm quặng Đáng kểnhất là Bôxit có trữ lượng quặng nguyên là 305 tỷ tấn, quặng tinh là 1,5 tỷ tấn Vàng có tới 21điểm với trữ lượng 8,82 tấn vàng gốc và 465 tấn vàng quặng phân bố rải rác ở cả các tỉnh Đáquý có ở ĐăkMin, Chư Sê, Pleiku, Đăk Me, Đăk Hia với nhiều loại đá các màu xanh ngọc, xanhlục, xanh opal, nâu, trắng, vàng, xám đen Tài nguyên khoáng sản ở vùng Nam Lào chưa cóđiều tra đánh giá đầy đủ, các khoáng sản chính gồm quặng đồng, thiếc, vàng, đá quý (Attapư);than đá, vàng Tài nguyên khoáng sản ở 2 tỉnh Rattanakiri và Stung Treng gồm có vàng, lưuhuỳnh, đồng, ma giê, các loại đá quý…Nhiều loại khoáng sản được phát hiện tại tỉnh Stung Treng

và tỉnh Rattanakiri như vàng, kim loại, khoáng chất, than đá và nhiều loại đá quý khác Vào thập

kỷ cuối này nhiều loại vàng và đá quý mới được phát hiện tại tỉnh Rattanakiri chứng tỏ khu vực

có tiềm năng khoáng sản lớn

II ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI KHU VỰC TAM GIÁC PHÁT TRIỂN

1 Đặc điểm xã hội

1.1 Dân số và phân bố dân cư

Tam giác phát triển là vùng đất rộng, người thưa Tổng số dân cả vùng khoảng trên

4.058 triệu người, mật độ dân số toàn khu vực chỉ có 37 người/km2, song phân bố không đều,các tỉnh của Campuchia chỉ có 7 người/km2, các tỉnh của Lào là 17 người/km2, còn các tỉnh củaViệt Nam tới 74 người/km2 Tỉnh có mật độ dân số thấp nhất là tỉnh Mondulkiri (Campuchia) có 3người/km2, tỉnh có mật độ cao nhất là Đắk Lắk (Việt Nam) tới 120 người/km2 (gấp 40 lần tỉnh cómật độ thấp nhất)

Tam giác phát triển cũng là vùng tập trung nhiều dân tộc thiểu số (vùng Tây Nguyên có

37 dân tộc, 2 tỉnh Nam Lào có 8 dân tộc và 2 tỉnh Đông Bắc Cămpuchia có 13 dân tộc), trong đó

có một số dân tộc có quan hệ chung của cả ba quốc gia Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bìnhcủa khu vực Tam giác phát triển khá cao (trên 2,5%/năm)

Diện tích, dân số các địa phương trong Tam giác phát triển

Trang 11

Diện tích Dân số năm 2002 Mật độ

Trang 12

1.2 Trình độ xã hội, giáo dục, y tế

Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ trong độ tuổi rất cao, có tỉnh như Sekong, Attapư lênđến trên 40%; tỷ lệ mù chữ của các tỉnh thuộc Cămpuchia chỉ đạt khoảng 36% Việc tiến hànhxoá mù chữ rất khó khăn Hệ thống trường lớp và chất lượng giáo viên rất hạn chế, các trườngđào tạo nghề chưa có, cơ sở trường lớp thiếu, nghèo nàn, phân tán, đội ngũ giáo viên vừa thiếu

về số lượng, vừa hạn chế về trình độ Nguồn nhân lực rất thiếu và yếu, tỷ lệ lao động được đàotạo rất thấp

Các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên (Việt Nam) về cơ bản đã được công nhận đạt tiêuchuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểu học (tỉ lệ nhập học chung toàn vùng là 83,4% đối với tiểu học,35,9% đối với THCS và 18,9% đối với PTTH)

Tại các tỉnh của Cămpuchia và Lào hệ thống đào tạo còn kém phát triển, nghèo nàn,chưa có một trường đại học-cao đẳng nào Hai tỉnh của Lào chỉ có 1 trường trung học sư phạm

và một số cơ sở dạy nghề Tỉnh Strung Treng mới có một Trung tâm dạy nghề (do Ngân hàngphát triển Châu Á tài trợ)

Về y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân: mô hình bệnh tật của Khu vực là môhình đặc trưng của vùng nghèo, kinh tế kém phát triển với các bệnh phổ biến như nhiễm trùng và

ký sinh trùng (sốt rét, lỵ), bệnh tuyến giáp do thiếu i-ốt và suy dinh dưỡng, đặc biệt ở trẻ em Tỷ

lệ chết mẹ và trẻ sơ sinh còn ở mức cao Điều kiện vệ sinh môi trường thiếu thốn, tiếp cận nướcsạch còn thiếu và khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô,… đều là vấn đề nghiêm trọng đối với dân

cư tất cả các tỉnh trong vùng

Mạng lưới y tế kém phát triển cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, nhân viên Phầnlớn các trạm y tế thuộc loại nhà tạm, thiếu trang thiết bị, thuốc thiết yếu, điện và nước sạch.Đường sá đi lại còn khó khăn nên sự tiếp cận của người dân đến các cơ sở y tế rất hạn chế, đặcbiệt đối với các vùng sâu vùng xa Trình độ dân trí thấp với nhiều phong tục tập quán còn lạchậu, là điều kiện cho bệnh dịch phát triển Cán bộ y tế chưa được đào tạo về quản lý, thiếu kinhnghiệm chuyên môn do đó ảnh hưởng đến chất lượng khám bệnh và phòng bệnh

và Đắk Lắk của Việt Nam (có đường biên giới chung 286 km), phía Tây giáp tỉnh Kratie

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 14.682 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là1.122.200 ha; diện tích đất ở, sản xuất là 225.122 ha; diện tích đất hoang hoá là 120.231 ha Dân

số tỉnh 45.568 người trong đó 80% là dân tộc thiểu số, mật độ dân số 3,1 người/km2 Toàn tỉnh

có 5 huyện bao gồm Koh Ngek, Pich Chinda, Keo Sey Ma, O’range và huyện Sen Monorom; 11tộc người thiểu số bao gồm Phnange, Khroal, Kreoung, Ro Oung, Steang, Chray, Kouy, Leave,Cham, Tom Pounn, và Phnoon

Trang 13

Nền kinh tế của tỉnh còn yếu kém, chủ yếu dựa vào nông nghiệp Tuy nhiên, 80% dân sốlàm nghề nông nên sản lượng lương thực không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trongtỉnh (5.869,57 tấn) mà còn dư thừa 699,92 tấn mỗi năm, cung cấp cho các tỉnh lân cận HuyệnKoh Ngek là khu vực nông nghiệp chính, có thể sản xuất thức ăn đáp ứng nhu cầu toàn tỉnh.Huyện O’Rang và huyện Sen Monorom có dãy núi bao phủ cỏ xanh, thích hợp cho việc nuôi cừu

và bò

Sản phẩm nông nghiệp chính của tỉnh: gạo, đậu xanh, đậu tương, lạc, cà phê, điều, tiêu,khoai tây và rau các loại Ngoài ra trong tỉnh còn một số loại hoa quả gồm chuối, nhãn, chômchôm, sầu riêng, mít

Tỉnh có nhiều rừng núi, tài nguyên thiên nhiên, đồng cỏ và thú rừng Khí hậu mát mẻquanh năm Thế mạnh của tỉnh là du lịch sinh thái và du lịch văn hoá Ba huyện Pich Chinda, KeoSey Ma, Sen Monorom có tiềm năng phát triển công nghiệp

Nhìn chung mạng lưới giao thông của tỉnh còn yếu kém Hiện có một quốc lộ mới đượcxây dựng nối huyện Keo Sey Ma với huyện Sen Monorom Con đường mới (dài khoảng 50km)nối từ thị xã đến huyện Bo Sra đang chuẩn bị thi công Con đường nối từ trung tâm tỉnh đếnhuyện Koh Ngek dài 111 km là đường đất đỏ, chưa được nâng cấp

Trang 14

Rattanakiri có nhiều địa điểm hấp dẫn đối với du lịch như điện thờ Lumphat, công viênquốc gia Virakchey, ba thác nước và các bộ ở Rattanakiri.

Về hoạt động du lịch, tuy là khu vực có tiềm năng nhưng du lịch chưa phát triển, lượngkhách du lịch không nhiều Năm 2002 Rattanakiri đón trên 4000 khách với loại hình du lịch chủyếu là du lịch sinh thái và tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Rattanakiri có 9 kháchsạn và nhà nghỉ, với 149 phòng, 10 nhà hàng có thể phục vụ khoảng 300 thực khách, một sânbay nội địa, hầu như ngày nào cũng có chuyến bay, có thể nối tỉnh Rattanakiri với Phnom Penh

và các tỉnh quan trọng khác như Siem Reap, Battambang, Koh Kong Tỉnh còn có 1 trạm xebuýt ở khu vực trung tâm là nơi có hầu hết mọi phương tiện vận tải thô sơ như taxi, xe ngựa,cưỡi voi

Trong tỉnh có 1 nhà máy thuỷ điện công suất 1.000 KW và 1 nhà máy chế biến cao su vớicông suất nhỏ Ngoài ra, còn có nhiều nghề thủ công truyền thống của người dân tộc thiểu số,các sản phẩm thủ công như quần áo, đồ gia dụng, các loại vũ khí truyền thống Việc khai thácthủ công những mỏ quý cũng là một ngành phụ của người thiểu số tỉnh Rattanakiri Tại trung tâmtỉnh, có khoảng 10 cửa hàng mua bán đá quý tự nhiên

Một khu chợ lớn nằm ở giữa tỉnh, là trung tâm thương mại duy nhất được dùng để thugom và phân phối mọi mặt hàng tới 7 chợ trung tâm huyện cũng như cho các tỉnh phía tây Hàngxuất khẩu hàng năm gồm có cao su đã chế biến, các loại đậu đỗ, hạt điều, lâm sản

c)- Tỉnh Stung Treng

Stung Treng tỉnh miền núi vùng Đông Bắc Cămpuchia có nhiều tiềm năng phát triển kinh

tế Tổng dân số năm 2002 khoảng 91,8 nghìn người Với tổng diện tích tự nhiên khoảng 11.902

Km2, Stung Treng có khoảng 19.000 ha diện tích trồng lúa gạo, 2.193 ha hoa màu, diện tích cònlại thích hợp cho trồng cây công nghiệp Stung Treng là tỉnh giàu nguồn lực rừng và sinh vậthoang dã Một nửa diện tích rừng của Khu bảo tồn rừng quốc gia Virakchey thuộc tỉnh StungTreng

Nông nghiệp: Tiềm năng và cơ hội của Stung Treng trong nông nghiệp là gỗ, ngư nghiệp,

trồng và chế biến cây công nghiệp

Ngư nghiệp giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống người dân tỉnh Stung Treng.

Người dân nơi đây coi hoạt động đánh bắt là nguồn cung cấp lương thực nuôi sống cả gia đình

và là nguồn thu nhập chính Cá heo sông Mêkông hay cá heo Irrawadi hoặc Occelo Brevirostria

là một dạng của loài động vật có vú Cetacea Hiện tại có khoảng 40 - 50 con đã được phát hiện

ở vùng nước sâu sông Mêkông thuộc tỉnh Stung Treng Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trongviệc chăm sóc đất nông nghiệp và là nguồn cung cấp protein cho người dân trong tỉnh

Tỉnh Stung Treng có 227 km đường quốc lộ, trong đó có 158.9 km có thể qua lại được;

127 km đường tỉnh lộ Từ Pnom Pênh có thể tới Stung Treng bằng đường bộ (khoảng 481 km),đường sông (khoảng 335 km) và đường hàng không Stung Treng có một sân bay gần sôngMekong, chủ yếu phục vụ ngành du lịch

Du lịch: Strung Treng có nhiều điểm hấp dẫn đối với du lịch như khu cổ Khmer Ou Porng

Muon ở Stung Treng, cá heo Mekong ở Stung Treng

Trang 15

Về hoạt động du lịch, tuy là khu vực có tiềm năng nhưng du lịch chưa phát triển, lượngkhách du lịch không nhiều Năm 2002 Stung Treng đón khoảng trên 1000 khách, trong đó có 300khách quốc tế, chủ yếu là người Mỹ và Australia, thường là kết hợp với hoạt động công vụ vàkinh doanh; Cơ sở vật chất cho các hoạt động du lịch còn nghèo và chưa được đầu tư, ở StungTreng chỉ mới có một số ít khách sạn và nhà nghỉ, nhà hàng Stung Treng có 2 đặc sản là: mengọt và cá Pa Si Y, cá Pava Trong số cơ sở du lịch nổi tiếng ở Strung Treng phải kể đến:

Nhà nghỉ O Pong Moan: Nhà nghỉ là sự kết hợp giữa tự nhiên với sự tham giaxây dựng của con người, nằm ở làng Pong Moan, xã O Pong Moan, tỉnh Stung Treng, cáchthành phố của tỉnh 9 km Vị trí nhà nghỉ ở nằm ở đường rẽ tới các tỉnh Rattanakiri, Kratie vàStung Treng

Nhà nghỉ Thala Bariwatt: Nhà nghỉ nằm ở quận Thala Bariwatt, cách thành phố của tỉnh 4

km Có thể đến đây bằng đường thuỷ qua 2 con sông Mê Kông và SeKong Thala Bariwat là mộtnhà nghỉ mang tính lịch sử, ở đó có ngôi đền Preah Ko, được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 7

- 8, dưới triều đại của vua Jaya Varman I

Nhà nghỉ Koh Ksach: Nằm bên bờ con sông Sekong, cách thành phố của tỉnh 5 km, Koh

Ksach là một nhà nghỉ thiên nhiên được nhiều người biết đến và đến nghỉ vào mùa khô, đặc biệt

là trong thời gian chào đón năm mới Khmer ở đây có bãi cát ven bờ sông tuyệt đẹp với chiềurộng 0,5 km và chiều dài 2 km

Chùa Hang Kho Ba: Đây là một di tích lịch sử văn hoá nằm ở làng Hang Kho Ba, xã

Hang Kho, tỉnh Stung Treng, cách thành phố của tỉnh 6 km, trên đường đến sân bay, rẽ trái quasông Sekong Chùa Hang Kho Ba đã có trên 300 năm tuổi Phần lớn người dân ở đây nói tiếngLào

2.1.2- Các tỉnh Nam Lào

a)- Tỉnh Attapư

Tỉnh Attapư có 5 huyện trong đó có 2 huyện (huyện Phu Vong và huyện Sanxay) có biêngiới gắn với tỉnh Kon Tum của Việt Nam, có chiều dài 51 km, một phần của huyện Phu Vong vàhuyện Xanamxay giáp với tỉnh Rattanakiri và tỉnh Stung Treng của Vương quốc Campuchia cóchiều dài 170km Toàn tỉnh có tổng diện tích: 10,320 km2 Trong đó diện tích rừng chiếm 70%;diện tích hoa màu: 14,2000 ha; lúa chiếm: 410 ha; diện tích rẫy và lúa cạn là 2,616 ha; nhân dânphần lớn là người dân tộc ít người, tham gia sản xuất nông nghiệp kiểu tự nhiên là chủ yếu; nămnào bị thiên tai, ngập lụt hay hạn hán phải nhờ sự giúp đỡ của bên ngoài Nhân dân có trình độthấp về giáo dục, mạng lưới y tế còn thiếu thốn GDP năm 2000-2002 tăng 7,8%; trong đó nông -lâm nghiệp tăng 3,62% chiếm khoảng 63,3% của GDP; ngành công nghiệp và thủ CN tăng 4,6%,chiếm 26,62% của GDP; dịch vụ tăng 60,1%, chiếm 9,33% của GDP

Nông nghiệp và lâm nghiệp là thế mạnh cơ bản của kinh tế của tỉnh Attapư; nhân dânchủ yếu làm nông nghiệp, chiếm hơn 80% dân số trong tỉnh

Dân cư phần lớn còn ở trong tình trạng thiếu thốn; số hộ nghèo chiếm 51% hộ gia đìnhtrong tỉnh Trong số 5 huyện còn có 3 huyện chưa tự túc được về lương thực

Trang 16

Cơ sở hạ tầng có đường số 18B từ tỉnh lỵ tới biên giới Việt Nam và có cửa khẩu GiangGiơn là đường sang tỉnh Kon Tum của Việt Nam Đường 18A nối với đường quốc lộ 13 và đường

16 đi SeKong Phần biên giới gắn với Vương quốc Campuchia phía tỉnh Rattanakiri còn chưa cóđường giao thông và cửa khẩu Phía huyện Xanamxay giáp với huyện Senpang tỉnh Stung Treng

đã có cửa khẩu phụ qua đường giao thông thuỷ dọc theo sông Sekong, tạo điều kiện giao thông

đi lại cho nhân dân dọc theo biên giới hai nước

Đường 1J (huyện Phu Vong tới biên giới Lào - Campuchia) đoạn đường này có cả cầu,đoàn chuyên gia Nhật Bản đã khảo sát 2 lần, ngân sách xây dựng dự kiến xin Chính phủ NhậtBản

Tuyến đường dọc biên giới (từ U6 tới Vangtat chiều dài 67 Km) đã hoàn thành 45 Km,đoạn từ Km 45 đến Km 67 đang tiếp tục xây dựng

Đường Attapư tới huyện Sanxay ( 96 Km) nằm trong dự án ADB 9 giai đoạn 2 qua vùngtrọng điểm Năm Pa

Giao thông vận tải trong nội tỉnh Attapư và với bên ngoài còn nhiều khó khăn về nhiềumặt, thông tin liên lạc còn hạn chế chỉ có 420 máy điện thoại sử dụng ở khu vực tỉnh lỵ

Ngành công nghiệp của tỉnh Attapư hiện có 2 xí nghiệp cỡ lớn; 4 xí nghiệp cỡ trung bình

và 279 xí nghiệp cỡ nhỏ Toàn tỉnh có 4 trạm thuỷ điện với công suất 1.338 kw, trong đó trạmthuỷ điện Huội Họ là trạm quan trọng có thể cung cấp cho 1 số cơ sở sản xuất công nghiệp.Ngoài ra còn có nhiều địa điểm có thể xây dựng thuỷ điện Khoáng sản chủ yếu có mỏ ngọc quý,

mỏ nhôm, vàng, đồng và các mỏ khác có thể khai thác công nghiệp Tỉnh có một số ngành nghềthủ công truyền thống như dệt lụa, đan lát v.v…

Tỉnh Attapư là tỉnh có nhiều di tích văn hoá cổ, có lịch sử từ đời vua Xayxettha, có truyềnthống văn hoá tốt đẹp của nhân dân các dân tộc, có tài nguyên rừng phong phú, có sông ngòi,thác nước có tiềm năng du lịch về lịch sử, văn hoá và thiên nhiên Khách du lịch nước ngoài đãbắt đầu biết về Attapư và đã tới tham quan du lịch

Các địa danh du lịch trong tỉnh gồm nhiều địa điểm, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến:Các thác Thác Phoe, thác Xepha, thác Sephongday, thác Nặm Pa và thác Pha Phong; các hồtrên núi Hồ Cày ộc và Hồ Phạ; các địa danh cổ Chùa Xa Kho; chùa Xayxettha, chùa PhuPhanom; địa danh lịch sử Ly Trương, đường Hồ Chí Minh và dấu vết chiến tranh Đông Dương;nghề thủ công của đồng bào dân tộc, lối sống và kiến trúc dân tộc

Trong ba năm qua, thương mại đã có sự khởi sắc, mạng lưới thương mại phát triển, giátrị thương mại của tỉnh tăng trung bình 30%/năm Nhân dân đã bắt đầu thực hiện kế hoạch sảnxuất hàng hoá ở những nơi có điều kiện

Về giáo dục, hiện nay toàn tỉnh có 217 trường phổ thông với khoảng trên 17 nghìn họcsinh Các trường phần lớn ở trong tình trạng xuống cấp, thiếu giáo viên và đồ dùng dạy học, mặc

dù tỉnh đã quan tâm sửa chữa những nơi cần thiết nhất Ngoài ra do ngân sách hạn chế và nhândân sống rải rác nên có nhiều khó khăn trong công tác giáo dục nói chung Hiện nay tỉnh chưa cótrường dạy nghề

Trang 17

Tỉnh Attapư đã xoá bỏ được một phần các thủ tục mê tín, công tác phòng bệnh đượcquan tâm, giúp hạn chế các loại dịch bệnh; các chương trình tiêm thuốc phòng 6 bệnh cơ bản,nước sạch và vệ sinh môi trường, tuyên truyền về công tác y tế cũng đã được tổ chức thực hiện,

tỷ lệ phụ nữ chết khi sinh con ở mức 500/100.000 người Tỷ lệ trẻ em chết ở độ tuổi 1 tuổi ở mức75/1.000 và tỷ lệ trẻ em chết dưới năm tuổi ở mức 97/1.000 người

Thế mạnh của tỉnh là đất tốt, ít dùng phân bón như trồng cà phê, chuối Sông ngòi chằngchịt, cánh đồng bao la Có sông Mê Kông, Sê Pôn chảy qua, thuỷ điện Sê sết 45 KW để dùngtrong tỉnh và bán cho Chămpasăc và Thái Lan Hiện đang chuẩn bị thuỷ điện Sê sết 2, Sê sết 3.Tỉnh có nhiều than đá, đá vôi và vật liệu dùng cho sản xuất xi măng Than đá chưa thăm dò, than

lộ thiên chất lượng tốt

Cửa khẩu La Lay nối với Quảng Trị (Việt Nam) là cửa khẩu quốc tế, với Huế còn là cửakhẩu quốc gia đã mở đi lại nhiều năm Đối với Thái lan có cửa khẩu quốc gia, và một cửa khẩuphụ Nhìn chung, cửa khẩu Đông Tây đi lại thông thương, có đường 13, đường 20 Pắc xế –Saravan

Tuy nhiên, tăng trưởng thấp, không liên tục, GDP chỉ đạt 5,7-5,8% Sản xuất còn mangnặng tự nhiên, sản xuất hàng hoá chưa phát triển Trình độ dân trí còn 26.000 người mù chữchiếm 36% Cơ sở hạ tầng chưa phát triển Đường 15 đi La Lay chỉ đi được mùa khô Đườngliên huyện cũng chỉ đi được một mùa, bị chia cắt mùa mưa Số nghèo còn 138 bản với 17280 hộ

GDP năm 2003 tăng 7,8%, bình quân lương thực cao, đạt 700kg thóc/người

Vùng núi có số dân khoảng 30.180 người, chiếm 40% dân số của tỉnh Nhân dân vùngnày phần lớn sống bằng nghề nông, phân tán, chủ yếu là đốt rừng làm rẫy, sản xuất dựa vàothiên nhiên Đây là vùng hiểm trở, hẻo lánh nhất, chưa có đường giao thông tới

Ở vùng cao nguyên, có dân số khoảng 24.503 người, chiếm 32,5% dân số toàn tỉnh Đờisống, sản xuất, giáo dục, y tế và thông tin của nhân dân nói chung thuận lợi hơn vùng núi nhưngcòn một số nơi cũng giống như vùng núi

Trang 18

Vùng đồng bằng phần lớn là nằm ở vùng huyện lỵ La man, có dân số khoảng 20.717người, chiếm 27.5% của dân cư toàn tỉnh Đời sống của nhân dân vùng này tốt hơn các vùngkhác, nếu so với 2 vùng kể trên thì đây là vùng đã được đô thị hoá một bước Sản xuất kinh tế,trao đổi mua bán, dịch vụ đã có mầm mống phát triển.

Ngoài việc làm nông nghiệp, một số dân cư còn làm kinh tế gia đình như mở cửa hàngbán hàng, phần lớn là phụ nữ tham gia đầu tư vốn

Nhịp độ phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP hoặc GPP) trung bình giai đoạn

1996-2002 là 5,6% Thu nhập bình quân đầu người là 103 USD

Ngành nông - lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, khoảng 77,1%trong GDP Ngành dịch vụ chiếm khoảng 18,24% và ngành công nghiệp - thủ công nghiệp chiếmkhoảng 4,66% GDP

2.1.3- Các tỉnh Tây Nguyên - Việt Nam

a)- Tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông:

Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm l1,96% thời kỳ 1991-2002 cao hơn mứctrung bình cả nước GDP/người tăng liên tục qua các năm, đạt tốc độ tăng 5,58% năm Tốc độtăng dân số thời kỳ 1991 - 2002 bình quân 6,38% năm

Tốc độ tăng bình quân năm của ngành nông lâm ngư thời kỳ 1996 - 2000 là 16,3% Năm

2002, đạt 10,98% Trong cơ cấu kinh tế, khu vực này chiếm xấp xỉ 70% GDP theo giá hiện hành

Cơ cấu nông lâm ngư có sự chuyển dịch rõ rệt; giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng,lâm nghiệp giảm và thủy sản ít biến động Trong nền kinh tế của tỉnh, nông nghiệp vẫn có vị tríquan trọng nhất, chiếm tỷ trọng rất lớn (trên 90% giá trị sản xuất của khu vực nông lâm ngư)

Tốc độ tăng GDP công nghiệp và xây dựng bình quân năm thời kỳ 1996 - 2000 khoảng7,78%/năm

Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch không rõ nét, từ 10 năm nay tỷ trọng công nghiệp chếbiến vẫn là ngành chiếm chủ đạo, sản phẩm của công nghiệp đã được chú trọng theo hướng sảnxuất tinh chế

Đến 2002 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông có khoảng 7.625 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong

đó khu vực kinh tế trong nước 7.622 cơ sở, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có 03 cơ

sở Số cơ sở thuộc khu vực kinh tế trong nước chủ yếu là khu vực cá thể và tiểu chủ chiếm7.559 cơ sở, khu vực kinh tế Nhà nước chỉ có 25 cơ sở

Đến năm 2002, toàn tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông có 01 khu công nghiệp tập trung doChính phủ quyết định và 04 cụm công nghiệp thuộc tỉnh quy hoạch

Thời kỳ 1996 - 2002 tốc độ tăng bình quân năm các ngành dịch vụ đạt 9,36%, trong đó,thương mại tăng 5,32%; vận tải - bưu điện tăng 20,02%

Du lịch là hoạt động dịch vụ có xu hướng phát triển nhanh ở tỉnh với các thế mạnh về dulịch sinh thái, văn hóa lễ hội, Doanh thu du lịch đạt tốc độ tăng bình quân năm 13,41% trongthời kỳ 1996 – 2000 và tiếp tục tăng khá trong các năm tiếp theo, song tổng giá trị từ doanh thu

du lịch còn khá khiêm tốn

Trang 19

Dịch vụ vận tải bưu điện có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 1996

giường bệnh/vạn dân đạt 14 giường; số bác sĩ / vạn dân là 3,6 bác sĩ

b)- Tỉnh Gia Lai:

Kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, nhịp độ tăng trưởng bình quân trong 3 năm 2001-2003ước đạt 9,9%, năm 2003 ước đạt 11,95% Bước đầu hình thành một số ngành công nghiệp có ýnghĩa quan trọng như công nghiệp sản xuất và phân phối điên, sản xuất vật liệu xây dựng, chếbiến nông lâm sản Giá trị gia tăng nông lâm nghiệp có mức tăng trưởng bình quân trong 3năm hơn 8% góp phần tạo sự ổn định cho kinh tế- xã hội tỉnh; đã hình thành ngày càng rõ néthơn một số ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh như cà phê, cao su và sản phẩm gỗ tinh chế.Ngành công nghiệp có mức tăng trưởng khá, đi vào khai thác lợi thế của tỉnh như thuỷ điện, côngnghiệp chế biến nông lâm sản Một số nhà máy xi măng Ya Ly, Gia Lai, tinh bột sắn An Khê,đường An Khê, Ayunp, thuỷ điện Ya Ly, Ayunhạ sản xuất ổn định và phát triển Một số nhà máyđang xây dựng như thuỷ điện Sê San 3, Sê San 3A, H’ Chan, tinh bột sắn Krôngpa đang xâydựng và sắp đưa vào hoạt động Giá trị các ngành dịch vụ gia tăng bình quân gần 11% và đangtrên đà phát triển với việc đẩy mạnh hoạt động của ngành du lịch

Trong GDP, nông lâm nghiệp vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, 53,3%, trong khi đó công xây dựng mới chỉ đạt được 20,2% Việc phát triển nông nghiệp gắn với nông thôn đã tạođược mối liên kết giữa công nghiệp-nông nghiệp, công nhân-nông dân Trong phát triển hạ tầng,việc đưa điện về nông thôn đã góp phần phát triển đời sống vật chất và tinh thần của đồng bàocác dân tộc ở vùng nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo là thành tựu đáng kể của nhân dân

nghiệp-Trong 3 năm trở lại đây, ngành công nghiệp Gia Lai đã có nhiều tiến bộ, từng bước ổnđịnh và phát triển Một số cơ sở công nghiệp lớn đã và đang hình thành Chương trình điện khíhoá nông thôn cũng được phát triển, từ chỗ năm 2001 chỉ có 146/175 xã có điện cuối năm 2003

sẽ có 177/183 xã, thị trấn có điện Đến tháng 6/2003 toàn ngành công nghiệp có 6.073 cơ sở sảnxuất công nghiệp, với 22.200 lao động; trong đó: công nghiệp quốc doanh 8 cơ sở với 2.914 laođộng; công nghiệp ngoài quốc doanh 6.063 cơ sở với 14.906 lao động

Tốc độ phát triển của ngành dịch vụ trong gần 3 năm qua tăng khá, thị trường hàng hoángày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Tổng mức bán lẻ hànghoá và doanh thu dịch vụ tăng với tốc độ bình quân khoảng 13%/năm Cà phê, gỗ tinh chếtừng bước đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, góp phần quyết định đến nhịp độ tăngtrưởng xuất khẩu của Gia Lai

Các ngành dịch vụ khác như: Bưu chính viễn thông, vận tải, ngân hàng, bảo hiểm pháttriển nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hợp tác và phát triển kinh tế-xã hội của Gia Lai

Dịch vụ vận tải đã cơ bản đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hoá và đi lại của nhân dân vớinhiều loại hình vận tải đa dạng và phương thức vận tải được cải tiến, thuận lợi hơn nhiều

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w