Nghiên cứu phương pháp chiết xuất tinh dầu vỏ Khảo sát số vật lý, hóa học tinh dầu Tinh dầu vỏ cam, bưởi có thành phần limonene cao Limonene có khả gây ngán ăn sâu trùng, cịn có dược tính Limonene quan tâm nghiên cứu hoạt tính sinh học có khả gây độc tố lên tế bào ung thư II PHƯƠNG PHÁP: Thực hiên tách chiết tinh dầu học Chiết xuất tinh dầu chưng cất lôi nước trực tiếp Ôn phương pháp chiết Lỏng – Lỏng, làm khan hỗn hợp chất hữu III THIẾT BỊ VÀ HÓA CHẤT: Thiết bị Bộ chưng cất cleavenger tách tinh dầu nhẹ Máy ly tâm Máy đo chiết xuất Tỷ khối kế Dung cụ thủy tinh Cân Nguyên liệu, hóa chất Diethyl eter Vỏ cam, bưởi Aceton Na2SO4 khan Etanol công nghiệp Nước cất Giấy quỳ, giấy pH IV TIẾN HÀNH Cân 100g nguyên liệu, xắt nhỏ, xay Chưng cất lôi nước • Đong nước cất, cho nguyên liệu vào chưng cất (tỷ lệ 1:1) • Khởi động máy tăng nhiệt, theo dõi quy trình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN HÓA - -
PHÚC TRÌNH THỰC TẬP HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN
Giảng viên hướng dẫn: Nhóm sinh viên thực hiện:
Thầy Nguyễn Trọng Tuân Trần Thị Hồng Đào B1806501
Huỳnh Tiến Đạt B1806503 Huỳnh Tấn Phúc Hậu B1806510
Lê Minh Hiếu B1806511
Cần Thơ, 4/2020
Trang 2Bài 1: TÁCH CHIẾT VÀ KHẢO SÁT TÍNH CHẤT VẬT LÝ
CỦA TINH DẦU CAM, BƯỞI
I MỤC TIÊU:
Nghiên cứu các phương pháp chiết xuất tinh dầu vỏ quả
Khảo sát các hằng số vật lý, hóa học của tinh dầu
Tinh dầu vỏ cam, bưởi có thành phần limonene cao Limonene có khả năng
gây ngán ăn trên sâu và côn trùng, còn có dược tính Limonene đã và đang được
quan tâm nghiên cứu hoạt tính sinh học có khả năng gây độc tố lên tế bào ung
thư
II PHƯƠNG PHÁP:
Thực hiên tách chiết tinh dầu bằng cơ học
Chiết xuất tinh dầu bằng chưng cất lôi cuốn hơi nước trực tiếp
Ôn phương pháp chiết Lỏng – Lỏng, làm khan hỗn hợp chất hữu cơ
III THIẾT BỊ VÀ HÓA CHẤT:
Thiết bị Nguyên liệu, hóa chất
Bộ chưng cất cleavenger tách tinh dầu nhẹ Diethyl eter
Dung cụ thủy tinh Etanol công nghiệp
Giấy quỳ, giấy pH
IV TIẾN HÀNH
Cân 100g nguyên liệu, xắt nhỏ, xay
Chưng cất lôi cuốn hơi nước
• Đong nước cất, cho cùng nguyên liệu vào bộ
chưng cất (tỷ lệ 1:1)
• Khởi động máy tăng nhiệt, theo dõi quy trình
• Chú ý: 5 ml nước chưng cất thu được đầu tiên
phải để riêng
• Tắt nguồn nhiệt sau 2h Sau khi hoàn thành,
chờ nguội 20 phút để tháo và làm vệ sinh bộ
chưng cất
Trang 3• Tắt nguồn nhiệt sau 1 giờ kể từ lúc nước trong bộ chưng cất sôi Sau khi
hoàn thành, chờ nguội 20 phút để tháo và làm vệ sinh bộ chưng cất, đồng
thời tiến hành tách chiết tinh dầu
• Sử dụng eter dầu hỏa lắc tách tinh dầu, 3 lần lắc-lóng, mỗi lần 30 mL eter
dầu hỏa
• Thu gom tinh dầu, làm khan với Na2SO4 Cô quay đuổi eter dầu hỏa
• Ghi kết quả, thực hiện các khảo sát lý, hóa học tiếp theo
• Xác định tính acid - base (thử giấy quỳ)
V THU HOẠCH:
• Thu được tinh dầu màu vàng nhạt
• Công thức phân tử: C 10 H 16
• Công thức cấu tạo:
• Tên IUPAC: 1-Methyl-4-(prop-1-en-2-yl)cyclohex-1-ene
VI TRẢ LỜI CÂU HỎI:
Câu 1:
• Chưng cất bằng lôi cuốn hơi nước dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch
tán và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu
chứa trong các mô khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao
• Do đó: Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước tinh duầ vỏ quả như cam
bưởi, có thể thực hiện trong điều kiện nguyên liệu còn nguyên, dạng mãng
lớn và không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi nhiệt dộ cao
Câu 2:
• Các trái thuộc họ Rutaceace như cam, chanh, bưởi, quýt,… có các túi tinh
dầu nằm sát mặt ngoài vỏ và với hàm lượng cao nên có thể dùng lực cơ để
Trang 4giải phóng tinh dầu Sau đó có thể vắt lấy tinh dầu Tinh dầu thu được trong
trường hợp này có mùi tự nhiên hơn do không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ
Tuy vậy, hiệu suất theo cách này không cao
• Do đó: phương pháp tách tinh dầu vỏ quả bằng lực cơ học như ép vắt, có
thể thực hiện trong điều kiện nguyên liệu còn tười, ở dạng đã được cắt nhỏ,
mỏng
Câu 3:
Nguyên tắc lóng tách 2 chất lỏng từ một hỗn hợp:
• Chất lỏng cho vào phải có khả năng hòa tan (lôi cuốn) được chất cần chiết
(tinh dầu) mạnh hơn chất lỏng có sẵn trong hỗn hợp
• Hai chất lỏng phải không hòa tan vào nhau
→ Dựa vào sự chênh lệch giữa tỉ trọng của 2 chất lỏng trong hỗn hợp, ta có thể
tách riêng chúng ra, và từ đó có thể lấy chất cần thiết (tinh dầu) ra khỏi hỗn
hợp Làm bay hơi dung môi ta sẽ thu dược tinh dầu
Câu 4:
Các chất thường sử dụng làm khô:
• CaCl2 khan (trừ rượu phenol, este, amin )
• MgSO4 khan làm khô nước tốt, nhanh đối với các chất hữu cơ
• Na2SO4 khan làm khô tốt cho amin, este
• P2O5 làm khô tốt và nhanh theo yêu cầu độ khô cao
Trang 5BÀI 2 TÁCH CHẤT BÉO TỪ DẦU THỰC VẬT
(HOẶC MỠ ĐỘNG VẬT)
I ĐẠI CƯƠNG
A Chất béo toàn phần (lipid) gồm nhiều hợp chất, có thể chia thành 3
nhóm lớn như: 1) Các chất béo dầu mỡ, 2) Sáp, 3) Phospholipid
- Các chất béo dầu mỡ: gồm có các acid béo (dạng dầu hoặc hơi sệt),
hydroxyacid, các acetylenic acid và hỗn hợp các glycerid
Các acid béo hầu như bao giờ cũng có số chẵn carbon
Các acid béo dạng dầu có chứa từ 1 đến 6 nối đôi trong phân tử Trong thiên
nhiên đa số acid béo không no, kể cả những acid không liên hợp quan trọng
nhất (như là acid oleic, acid linoleic, acid linolenic) đều có cấu trúc dạng cis
Các acid béo no thường có dạng mỡ, sệt hơn Acid caproic – C6, acid
caprylic – C8, acid capric – C20, acid behenic – C22 và acid montanic C28
Khi chúng ta thực hiện xà phòng hóa chât béo, các acid béo cũng tham gia
phản ứng nên bị biến đổi hóa tính, tạo muối
- Acid acetylenic là nhóm hợp chất acid carboxylic dạng dầu luôn có chứa
liên kết ba trong phân tử, (có 1 hoặc 2 liên kết ba liên hợp, hoặc có liên kết
ba liên hợp với liên kết đôi) ngoài ra có thể thêm các liên kết đôi Nhóm này
cũng có thể gồm các dẫn xuất có oxygen tương ứng
Ví dụ: acid tairic CH3(CH2)10CC(CH2)4COOH, và hợp chất có cùng công
thức phân tử là acid stearolic CH3(CH2)7CC(CH2)7COOH
Acid ximenynic CH3(CH2)5CH=CHC-CC(CH2)7COOH,
- Glycerid khi xà phòng hóa tạo glycerol và muối của acid béo Có 2 loại
glycerid: loại đơn glycerid và loại hỗn hợp glycerid, ví dụ: Oleodistearin là
glycerid hỗn hợp
- Các chất sáp: chủ yếu gồm có các acid béo dây hở, ester của acid béo và
các alcol monohydric, thường chứa từ 24 đến 36 carbon Ví dụ về những
chất sáp trong thiên nhiên như: sáp ong (ngoài acid panmitic có chứa acid
cerotic và alcol melicssylic); mỡ sáp từ lông cừu (lanolin), mỡ sáp trong dầu
cá nhà táng – spermaceti (có chứa alcol cetylic, acid oleic và aicd panmitic)
Các sáp chịu được sự xà phòng hóa hơn là dầu và chất béo
- Các chất béo là các hợp chất hữu cơ biến dƣỡng thứ cấp, như
sphyngomyelin và phospholipid Phospholipid có chứa acid phosphoric và
một base nitơ (như cholin hoặc etanolamin hoặc serin) và một
polyhydroxyalcol Sphyngomyelin có mạch acid béo hóa hợp với một
polyhydroxyamin mạch hở tạo nối amid, và có thể còn có liên kết glycosidic
với hydrotcarbon
Trang 6B Sterol
Ngoài ra, cần kể đến chất béo sterol, nằm ngoài danh mục các lipid kể trên
Sterol là một dạng chất béo thuộc nhóm chất hữu cơ bậc hai, không bị xà
phòng hóa, có cấu trúc hệ vòng ciclopentano perhydrophenantren, với nhóm
OH ở vị tró C-3 trên vòng.Nhờ cấu trúc này mà cách định tính và định lượng
sterol có những phương pháp riêng
Sterol là nhóm hợp chất rất phong phú, có trong động vật có xương sống,
không xương sống, trong nhiều loại thực vật và các nấm men Sinh tổng hợp
sterol từ chuyển hóa acetat thành squalen, đồng thời có phối hợp đóng vòng
và demethyl hóa Sterol có thể ở thể tự do hoặc hóa hợp như ester hoặc
glycosidic
C Tính chất, vai trò và cách khảo sát chất béo
- Chất béo tan trong dung môi kém phân cực, không tan trong nước.Có thể sử
dụng dung môi hữu cơ như eter dầu hỏa, hexan, chloroform để tách lấy chất
béo từ nguyên liệu khô, hoặc sử dụng các dung mối này chiết lỏng – lỏng để
tách lấy chất béo từ dung dịch chiết alcol của nguyên liệu
- Vai trò của chất béo với cơ thể động vật, thực vật rất quan trọng Đặc biệt
vai trò của các sterol khác hẳn các lipid, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp lên
chủ thể mà có ảnh hưởng đến các sinh vật khác có liên hệ đến chủ thể
II MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Khảo sát sơ bộ thành phần chất béo của dầu đậu nành bằng sắc ký lớp mỏng
(TLC)
III TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
1 Chiết chất béo từ đậu nành
- Chuẩn bị: Hạt đậu nành khô (300g) xay nhuyễn bằng cối xay, thành bột mịn,
cho vào túi vải, để lơi thể tích túi nhưng cột chặt miệng túi
- Dùng eter dầu hỏa ngâm bột đậu chiết lấy các hợp chất béo, ngâm chiết 3
lần, lần lượt với thể tích dung môi giảm dần từ 200ml, 150ml và 100ml Khi
cho dung môi vào ngâm túi, dùng đũa khuấy động lên túi 10 phút rồi để yên
5 phút, vắt lấy dịch eter dầu hỏa (mang bao tay nhựa để thực hiện) Gom
dịch chiết, lọc qua giấy lọc, cô quay thu hồi dung môi
Chú ý: cô quay đến còn thể tích 150ml thì lấy bình ra, chia làm 2 phần:
o Phần 1: 100ml nước cất vào erlen có nắp, bảo quản lạnh dành cho bài sau
o Phần 2: 50ml còn lại cô quay đến cạn (3ml) dùng chấm sắc ký
Ngâm chiết phần bã đậu nành với cloroform 2 lần, mỗi lần với 100ml dung
môi Vắt, gom dịch chiết, lọc, cô quay thu hồi dung môi, đến thể tích còn
khoảng 3ml
2 Phân tích sắc ký dung dịch chất béo của đậu nành:
Trang 7- Chuẩn bị 2 bản mỏng sắc ký, vạch đường xuất phát và đường mốc đến
của dung môi
- Trên mỗi bản mỏng chấm 2 vết sắc ký ứng với 2 loại dịch chiết thu được:
dịch eter dầu hỏa (E) và dịch chloroform (C)
- Chuẩn bị giải ly từng bản mỏng trong 2 loại hệ dung môi khác nhau
Dung môi giải ly (1): eter dầu hỏa: etyl acetate (0,5:1,5)
Dung môi giải ly (2): chloroform: metanol =99:1 (dùng 2ml chloroform
và cho vào 1 giọt metanol)
- Ghi nhận kết quả sắc ký ứng với 2 loại dịch chiết và so sánh khi giải ly
trong 2 loại dung môi khác nhau đã nêu
IV KẾT QUẢ:
1 Chiết chất béo trong đậu nành:
- Dịch chiết (E) thu được có màu vàng
- Dịch chiết (C) thu được có màu vàng cam nhạt
2 Phân tích sắc ký dung dịch chất béo của đậu nành:
- Kết quả phân tích sắc ký dịch chiết trong eter dầu hỏa và dịch chiết trong
chloroform với hai hệ dung môi khác nhau
- Nhận xét và giải thích
Với hai hệ dung môi khác nhau các chất hiện trên bảng mỏng cũng có sự khác
nhau Với hệ dung môi eter dầu hỏa: ethyl acetate (8,5:1,5) thì các vết chạy cao
hơn một chút so với hệ dung môi giải ly là chloroform : metanol (99:1) tuy
nhiên sự chênh lệch trên là không đáng kể do độ phân cực của hai dung môi này
gần như bằng nhau Sự khác biệt ở hai hệ dung môi là trong chloroform :
metanol thì các vết tách và hiện rõ hơn hệ còn lại Điều này là do bản chất của
các dung môi, chloroform thường cho vết tách và rõ hơn Với hai vết trên bảng
mỏng thì vết dịch chiết trong chloroform : metanol cao hơn một chút so với vết
của dịch chiết trong eter dầu hỏa Nguyên nhân là do chloroform có độ phân cực
yếu hơn eter dầu hỏa nên có sự chênh lệch
3 Tìm hiểu và báo cáo nhóm chất béo dầu mỡ, chất béo biến dưỡng thứ
cấp
Trang 8- Chất béo toàn phần (lipid) gồm nhiều hợp chất, có thể chia thành 3 nhóm
lớn như: Các chất béo dầu mỡ, Sáp, Phospholipid
o Các chất béo dầu mỡ: gồm có các acid béo (dạng dầu hoặc hơi sệt),
hydroxyacid, các acetylenic acid và hỗn hợp các glycerid
o Các acid béo hầu như bao giờ cũng có số chẵn carbon
o Các acid béo dạng dầu có chứa từ 1 đến 6 nối đôi trong phân tử Trong thiên
nhiên đa số acid béo không no, kể cả những acid không liên hợp quan trọng
nhất (như là acid oleic, acid linoleic, acid linolenic) đều có cấu trúc dạng cis
o Các acid béo no thường có dạng mỡ, sệt hơn Acid caproic – C6, acid
caprylic – C8, acid capric – C20, acid behenic – C22 và acid montanic C28
o Khi chúng ta thực hiện xà phòng hóa chât béo, các acid béo cũng tham gia
phản ứng nên bị biến đổi hóa tính, tạo muối
o Acid acetylenic là nhóm hợp chất acid carboxylic dạng dầu luôn có chứa
liên kết ba trong phân tử, (có 1 hoặc 2 liên kết ba liên hợp, hoặc có liên kết
ba liên hợp với liên kết đôi) ngoài ra có thể thêm các liên kết đôi Nhóm này
cũng có thể gồm các dẫn xuất có oxygen tương ứng
o Ví dụ: acid tairic CH3(CH2)10CC(CH2)4COOH, và hợp chất có cùng công
thức phân tử là acid stearolic CH3(CH2)7CC(CH2)7COOH
o Acid ximenynic CH3(CH2)5CH=CHC-CC(CH2)7COOH,
o Glycerid khi xà phòng hóa tạo glycerol và muối của acid béo Có 2 loại
glycerid: loại đơn glycerid và loại hỗn hợp glycerid, ví dụ: Oleodistearin là
glycerid hỗn hợp
- Các chất sáp: chủ yếu gồm có các acid béo dây hở, ester của acid béo và các
alcol monohydric, thường chứa từ 24 đến 36 carbon Ví dụ về những chất
sáp trong thiên nhiên như: sáp ong (ngoài acid panmitic có chứa acid cerotic
và alcol melicssylic); mỡ sáp từ lông cừu (lanolin), mỡ sáp trong dầu cá nhà
táng – spermaceti (có chứa alcol cetylic, acid oleic và aicd panmitic) Các
sáp chịu được sự xà phòng hóa hơn là dầu và chất béo
- Các chất béo là các hợp chất hữu cơ biến dưỡng thứ cấp, như
sphyngomyelin và phospholipid Phospholipid có chứa acid phosphoric và
một base nitơ (như cholin hoặc etanolamin hoặc serin) và một
polyhydroxyalcol Sphyngomyelin có mạch acid béo hóa hợp với một
polyhydroxyamin mạch hở tạo nối amid, và có thể còn có liên kết glycosidic
với hydrocarbon
Trang 9BÀI 3 TÁCH CHIẾT STEROL TỪ HỖN HỢP KHÔNG BỊ XÀ
PHÒNG HÓA CỦA CHẤT BÉO
I ĐẠI CƯƠNG:
- Sterol cũng là dạng chất béo thuộc nhóm chất hữu cơ biến dưỡng thứ cấp,
khác hẳn với các chất béo dầu mỡ, và cũng khác nhóm phospholipid Sterol
thường có cấu trúc hệ vòng cyclopentano perhydrophenantren, với nhóm –
OH ở vị tró C-3 trên vòng và trong một số ít trường hợp có cấu trúc biến đổi
của hệ vòng đó Nhờ cấu trúc này mà cách định tính và định lượng sterol có
những phương pháp riêng
- Sterol không bị xà phòng hóa nên vẫn có thể giữ được tính chất kém tan
trong nước, không tan trong dung dịch chất béo đã xà phòng hóa, có thể tách
ra khỏi hệ dụng dịch bằng cách chiết lỏng lỏng dung dịch này với dung môi
hữu cơ kém phân cực
II MỤC TIÊU:
- Sử dụng soxhlet để xà phòng hóa chất béo trong vật liệu → tách rời sterol
- Sử dụng bình lóng để chiết lỏng – lỏng, tách lấy sterol ra khỏi dầu thực vật
- Khảo sát, so sánh sản phẩm sterol và chất béo ban đầu bằng sắc ký lớp
mỏng
- Thực hiện cách kéo ống vi quản, sắc ký lớp mỏng
III TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM:
- Chuẩn bị từ trước chất béo trong đậu nành: Đã chuẩn bị ở bài số 2
- Xà phòng hóa dung dịch chất béo của đậu nành: 100ml dung dịch chất béo,
thêm 100ml metanol và 25g KOH, cho vào bộ đun hồi lưu, đun trong 1 giờ
- Sau đó thêm 50ml nước cất vào thu được hỗn hợp Hỗn hợp chia làm 2
phần, chiết 3 lần, mỗi lần với 50ml eter dầu hỏa
- Tinh chế hỗn hợp sterol
- Dịch chiết eter dầu hỏa rửa với 50ml nước muối bão hòa, và làm khan bằng
Na2SO4 khan, lọc Dung dịch eter dầu hỏa được cô quay thu hồi dung môi
đến còn 3 – 5ml cho ra cốc, và ngâm đá, thu lấy tủa Kết tinh lại: hòa tan kết
tủa này trở vào 3ml chloroform đã đun nhẹ (50oC), sau đó lọc qua phễu giấy
lọc, ngâm lạnh đặt vào tủ hút để bay hơi, thu được tủa sterol
- Sắc ký bản mỏng khảo sát sơ bộ thành phần sterol
- Chuẩn bị bản mỏng sắc ký, vạch đường xuất phát và đường mốc đến của
dung môi Chấm sắc ký 3 vết: dung dịch chất béo của đậu nành (1), dịch
chiết eter dầu hỏa (2), dung dịch khi ngâm tủa sterol đã kết tinh (lấy 1 ít
ngâm vào 1ml eter dầu hỏa)(3)
Trang 10- Chuẩn bị hệ dung môi giải ly là CHCl3 : CH3OH (2ml CHCl3 nhỏ 1 giọt
CH3OH)
- Đặt bản mỏng sắc ký vào cốc giải ly, chờ đến khi dung môi dâng cao đến
vạch mốc đến của dung môi đã gạch sẳn trên bản Lấy bản đã giải ly xong
hong khô trên bếp điện Xem kết quả của giải ky bản mỏng: Bản mỏng hoặc
soi đèn UV, hoặc hiện hình vết: đem nhúng vào thuốc hiện hình vết, hơ nhẹ
và sấy trên bếp điện (120oC) đến khi hiện màu vết, ghi nhận kết quả
IV KẾT QUẢ:
1 Kết quả sắc ký
không kéo vệt so với dung dịch chất béo đậu nành (1) Sterol trước và sau
kết tinh lại không có sự khác biệt nhiều, nhưng vết của sterol sau khi kết tinh
lại (3) rõ và ít tạp hơn một chút so với trước khi kết tinh (2) Nguyên nhân là
do quá trình kết tinh lại, lọc nóng đã loại đi một số tạp chất có trong sterol
trước nên vết sterol sau khi kết tinh lại sẽ rõ và ít tạp chất hơn
2 Tìm hiểu và báo cáo về nhóm chất sterol trong đậu nành
Trong 100g dầu đậu nành có từ 300 – 400mg sterol thực vật Thành phần
chính của sterol trong đậu nành gồm có -sitosterol (53 – 56%), campesterol
(20 – 23%) và stigmasterol (17 – 21%) Cấu trúc hóa học của những sterol
thực vật này giống với cholesterol nhưng khác nhau ở mạch nhánh
Sitostreol có một nhóm ethyl và campesterol có một nhóm methyl ở vị trí 24
của cholesterol, Stigmasterol có một liên kết đôi ở vị trí 22 – 23 của
sitosterol
-sitosterol
▪ Cấu trúc
Trang 11-sitosterol là một trong số nhiều phytosterol (sterol thực vật) có cấu trúc
giống với cholesterol -sitosterol là chất bột màu trắng, dạng sáp, mùi dễ chịu,
không tan trong nước và tan trong alcohol
Trang 12• Ứng dụng
Khi tồn tại một mình cũng như ở dạng hợp chất với các phytosterol
tương tự, -sitosterol làm giảm lượng cholesterol và đôi khi còn được dùng để
chữa tăng cholsterol máu -sitosterol ngăn cản cholesterol hấp thu vào ruột Khi
sterol được hấp thu vào ruột, được vận chuyển bởi các lipoprotein và kết hợp
với màng tế bào Các phytosterol và phytostanol đều ngăn cản sự hấp thu
cholesterol cả trong chế độ ăn uống và cholesterol trong mật, làm giảm mức độ
LDL và cholesterol trong huyết tương Bởi vì cấu trúc của (-Sitosterol rất giống
với cấu trúc của cholesterol, (-Sitosterol chiếm chỗ của cholesterol trong mật và
trong chế độ ăn ở dạng các hạt micelle tạo ra từ lumen ruột, điều này làm cho
lượng cholesterol hấp thu vào cơ thể giảm
• Kỹ thuật hóa học
Trong nhiều năm, người ta đã sử dụng sitosterol như một chất hóa học trung
gian do thiếu một hóa chất để tấn công vào mạch nhánh để khử mạch nhánh
đi Nhiều nhà khoa học đã nỗ lực để khám phá ra một vi ống pseudomonas
rất có hiệu quả trong việc chuyển đổi cấu trạng Sự lên men tiêu hóa toàn bộ
các mạch nhánh no ở C-17 để tạo thành hỗn hợp sản phẩm 17-keto bao gồm
dehydropiandrosterone
• Tác dụng phụ
▪ Tránh dùng (-Sitosterol cho phụ nữ mang thai và cho con bú, bởi vì có
nhiều ảnh hưởng đối với trẻ chưa sinh và trẻ mới sinh
▪ Những người bị sitpsterolemia, một bệnh về dự trữ chất béo (Sitosterol
hiếm Bởi vì những người bị bệnh này có rất nhiều (Sitosterol và các chất
béo có liên quan, dùng thêm (Sitosterol sẽ làm cho tình trạng xấu hơn
▪ Nồng độ (Sitosterol trong máu cao liên quan đến sự gia tăng bệnh tim
nghiêm trọng đối với những người đã có tiền sử bị đau tim
• Làm mất trật tự gene
Trong khi các sterol thực vật thường có ích, nhưng khi hấp thu quá nhiều
phytosterol thì sẽ gây ra sự mất trật tự trên nhiễm sắc thể gene lặn
Phytosterol tăng cao và bị hấp thu quá mức ở mô sẽ gây ra hội chứng động
mạch vành sớm và gân xanthoma