Trong đó: giá vật liệu xác định theo thị trườngtính đến chân công trình; Chi phí nhân công theo mặt bằng khu vực và từng ngành nghề sử dụng cần phải thị trường hóa tiền lương nhân công x
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặc điểm của giá xây dựng trong cơ chế thị trường
Giá xây dựng trong cơ chế thị trường được xác định cho công trường cụ thể, nhằmkhắc phục hệ thống đơn giá xây dựng khu vực trong một thời gian dài mang tính bìnhquân, không phản ánh được khác biệt về yêu cầu kỹ thuật và vị trí xây dựng công trình,không đáp ứng được yêu cầu xác định giá trong từng giai đoạn xây dựng công trình, chưaphù hợp với thực tế giá cả ở các vùng miền khác nhau
Trong cơ chế thị trường các yếu tố cấu thành giá xây dựng (vật liệu, nhân công, máythi công) tính đến các yếu tố thị trường Trong đó: giá vật liệu xác định theo thị trườngtính đến chân công trình; Chi phí nhân công theo mặt bằng khu vực và từng ngành nghề
sử dụng (cần phải thị trường hóa tiền lương nhân công xây dựng và tư vấn đầu tư xâydựng); Giá máy xây dựng phù hợp với loại máy sử dụng trong thi công xây dựng
Đối với tiền lương nhân công, yêu cầu không những phải tính đúng, tính đủ mà cònphải phù hợp với mặt bằng lao động phổ biến ở từng khu vực, tỉnh và ngành nghề sửdụng Đối với tiền lương tư vấn được xác định theo bình quân thị trường hoặc theo mứclương thực tế chi trả của tổ chức tư vấn Việc thị trường hóa nhân công lao động, tạo điềukiện để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần của người lao động cũng như thúc đẩy tínhchuyên nghiệp, nâng cao trình độ cho các cá nhân tư vấn đầu tư xây dựng
Giá sản phẩm xây dựng và dịch vụ phục vụ trong lĩnh vực này cũng phải tuân theonhững quy luật chung của kinh tế thị trường
Giá cả vừa có chức năng tín hiệu vừa có chức năng điều chỉnh cung-cầu:
Quy luật cung cầu và giá cả tác động đến các yếu tố đầu vào trong sản xuất xây dựng:Vật liệu, nhân công, máy thi công
• Vật liệu xây dựng:
Trang 2Vật liệu xây dựng (VLXD) có nhiều chủng loại và quy cách phẩm chất khác nhau.Khả năng cung ứng, số lượng tiêu thụ và chất lượng sản phẩm từng loại vật liệu xâydựng cũng ảnh hưởng đến giá cả VLXD Điều này làm cho các chủ đầu tư phải cân nhắctrong quyết định lựa chọn loại VLXD để sử dụng cho từng loại công trình cụ thể để saocho vừa phù hợp với khả năng tài chính của mình đồng thời không ảnh hưởng đến vậtchất công trình xây dựng.
Đối với doanh nghiệp xây dựng, hoạt động sản xuất-kinh doanh cần đảm bảo hiệu quả
về mặt tài chính đạt được Về VLXD sử dụng trong thi công xây lắp của doanh nghiệpxây dựng có liên quan đến 2 khái niệm: Vật liệu xây dựng sơ cấp và vật liệu xây dựngthứ cấp
• Nhân công trong xây dựng
Sản xuất xây dựng có một sô đặc điểm khác biệt so với các ngành sản xuất khác, nhưcông việc không cố định ở một nơi, kém ổn định; môi trường sẩn xuất nhiều cát bụi, tiếngồn; chịu tác động trực tiếp bở các điều kiện của tự nhiên như mưa, nắng, gió, bão Tấtnhiên các tác động xấu đối với người lao động sẽ được đền bù (tính chất bù trừ trong tiềnlương, tiền công)
Sản xuất xây dựng sử dụng nhiều nghề chuyên môn, mỗi loại công tác xây lắp lại đòihỏi một trình độ nghề nghiệp khác nhau Điều này cũng được xét đến khi trả công laodộng trên cơ sở thang bảng lương và sự đền bù cho người lao động làm việc trong điềukiện khó khăn, độc hại dưới dạng phụ cấp theo quy định hiện hành
Tiền lương biểu thị sức lao động tính bằng tiền, trong khi đó tiền công phản ánh giá cảcủa lao động trên thị trường Do đó, nói chung tiền công thường hay thay đổi theo quyluật cung cầu trên thị trường lao động Tiền công thường lớn hơn so với tiền lương tươngứng của từng bậc thợ
Có thể nói tiền lương là bộ phận chủ yếu trong tiền công Tỷ lệ này cao hay thấp cónghĩa là đưa phần đền bù (dạng phụ cấp) vào tiền lương nhiều hay ít, còn mức thu nhập
Trang 3của công nhân xây dựng cao hay thấp còn phải căn cứ vào tiền công trả theo giờ công hayngày công Nếu chỉ xét riêng mức tiền công trả cho 1 giờ công hoặc 1 ngày công thì chưa
đủ mà còn phải xét đến chế độ lao động (quy định cường độ lao động trung bình trongnăm của mỗi người thợ theo từng loại ngành nghề và điều kiện làm việc cụ thể)
Tiền công cao, số giờ làm việc theo quy định ít, người thợ có điều kiện nghỉ ngơihưởng thụ điều kiện văn hóa, tinh thần và tham quan du lịch; người nào thấy còn thiếuthốn về tiền bạc thì có thể làm thêm giờ hoặc làm thêm công việc khác Ngược lại tiềncông không cao thì phải làm việc nhiều giờ trong một năm, nếu làm không đủ thời gianquy định thì thu nhập sẽ bị giảm và nhất là không còn hoặc còn rất ít thời gian rảnh rỗicho các hoạt động khác
Quy luật cung cầu và giá cả tác động trong thị trường lao động có nét riêng Khi màthu nhập bình quân tính theo đầu người đạt đến mức giàu có nhất định thì nhu cầu về đờisống vật chất không còn là vấn đề cấp bách nữa và người ta muốn có nhiều thời gian nghỉngơi để hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần Do đó, tiền công mặc dù rất cao nhưng vẫnrất khó thuê lao động nhất là đối với những công việc nặng nhọc Tình trạng này thườngthấy ở các nước phát triển Đó là nguyên nhân của tình trạng xuất khẩu lao động từ cácnước kém phát triển sang các nước giàu có
• Chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công được tính vào đơn giá xây dựng là một đặc điểm vềhạch toán giá thành sản phẩm trong xây dựng
Các hình thức sử dụng máy xây dựng thường gặp:
+ Doanh nghiệp tự trang bị máy móc thiết bị cho thi công xây lắp
+ Thuê máy theo ca tùy thuộc tiến độ thi công
+ Thuê máy trong một khoảng thời gian nhất định
Đối với hình thức doanh nghiệp tự trang bị máy móc thiết bị cho thi công xây lắp Thìcác doanh nghiệp phải xác định giá ca máy theo quy định chung và theo giá cả thì trường.Giá ca máy bao gồm các loại chi phí và phương pháp xác định như sau:
Trang 4• Mức khấu hao cơ bản: chi phí này tính bình quân cho một ca máy
Mức khấu hao cơ bản:
K CB
TK
ca
=
∑
(1)Trong đó:
NKH < NKT < NCH (2)Trong đó:
NKT - tuổi thọ kinh tế của máy (thông thường từ 5 đến 10 năm)
NCH - tuổi thọ cơ học của máy (một số thiết bị vận hành được 10-20 năm
• Số ngày làm việc định mức trong 1 năm (
365 - số ngày trong 1 năm;
NCN - các ngày chủ nhật trong năm;
Trang 5NTL - những ngày nghỉ tết, nghỉ lễ theo chế độ;
NSCBD - số ngày máy ngừng việc để sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ trong năm;
NNGNH - số ngày máy ngừng việc do các nguyên nhân ngẫu nhiên (hỏng hóc đột xuất,mữa, bão…) Đại lượng này có thể xác định bằng phương pháp mô phỏng Monte Carlo
- Số ca làm việc bình quân trong ngày:
Việc tăng cường thời gian sử dụng máy móc thiết bị theo thời gian nhằm đảm bảo thuhồi lại giá trị ban đầu của nó trước khi kết thúc tuổi thọ kinh tế Tuy nhiên, tùy theo điềukiện và công việc thực tế mà bố trí và tổ chức số ca làm việc trong 1 ngày cho phù hợp (1
ca, 2 ca hoặc 3 ca)
Chú ý: số ca 1 phải đảm bảo hằng số ngày làm việc định mức trong 1 năm (NĐM)
Số ca 2 được sử dụng ít hơn do điều kiện làm việc hoặc điều kiện sử dụng
Số ca 3 được sử dụng ít hơn trong xây dựng rất ít
Các số liệu này các doanh nghiệp có được bằng cách phải lấy theo số liệu thống kêhàng năm và tự xác định cho từng loại máy
Vậy tổng số ca máy định mức trong thời hạn khấu hao theo quy định (∑ca) được xácđịnh theo công thức:
ca
∑
= NĐM × (1 + Kca2 + Kca3) × NKH (4)Với:
Kca2- là hệ số sử dụng ca 2 thường lấy từ 0,4-0,5
Kca3 - là hệ số sử dụng ca 3 thường lấy từ 0,10-0,15
Khấu hao sửa chữa lớn (KSCL) và sửa chữa-bảo dưỡng kỹ thuật các cấp:
Trang 6Đây là chi phí nhằm khôi phục tính năng kỹ thuật của máy xây dựng do hao mòn hữuhình gây ra Có thể xác định các chi phí này bằng cách áp dụng mô hình thích hợp để sửachữa, bảo dưỡng định kỳ.
• Chi phí năng lượng, nhiên liệu động lực cho 1 ca máy:
Chi phí này dựa trên định mức tiêu hao và giá cả thị trường
Tiền công cho thợ điều khiển và phục vụ máy thi công: cần tuân thủ các quy định về
số lượng thợ điều khiển và phục vụ máy trong ca và cấp bậc thợ
Lái xe được trả công trên cơ sở lương 3 bậc
Lái máy xây dựng được trả công trên cơ sở lương 7 bậc
Đối với máy xây dựng đi thuê:
- Các máy xây dựng loại lớn (cần trục, máy đào đất, máy đóng cọc, ép cọc, máy lu lèn,
…) thường do các doanh nghiệp thi công cơ giới mới đủ khả năng đầu tư mua sắm trang
bị để sử dụng và cho thuê
- Các doanh nghiệp xây dựng đi thuê máy cần lựa chọn phương án thuê máy hợp lý: lànên thuê theo ca hay thuê trong một khoảng thời gian dài đảm bảo phục vụ cho 1 quátrình thi công để đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
2 Giá (chi phí) xây dựng trong các giai đoạn đầu tư
a) Trong giai đoạn thiết kế
Chi phí xây dựng trên cơ sở hồ sơ thiết kế với các bước thiết kế phù hợp với cấp,loại công trình là dự toán công trình, dự toán hạng mục công trình
b) Trong giai đọa lựa chọn nhà thầu
Trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu chi phí xây dựng được biểu thị bằng:
Trang 7- Giá gói thầu: giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầutrên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiệnhành.
- Giá dự thầu: giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dựthầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá
- Giá đề nghị trúng thầu: giá đề nghị trúng thầu là giá do bên mời thầu đề nghị trên
cơ sở giá dự thầu của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau đề nghị trên cơ sở giá dựthầu của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêucầu của hồ sơ mời thầu
- Giá trúng thầu: giá trúng thầu là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhàthầu làm cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
- Giá ký hợp đồng: giá hợp đồng xây dựng là khoản kinh phí bên giao thầu trả chobên nhận thầu để thực hiện khối lượng công việc theo yêu cầu về tiến độ, chất lượng vàcác yêu cầu khác do quy định trong hợp đồng xây dựng Tùy theo đặc điểm, tính chất củacông trình xây dựng các bên tham gia ký kết hợp đồng phải thỏa thuận giá hợp đồng xâydựng theo một trong các hình thức sau đây: Giá hợp đồng trọn gói; Giá hợp đồng theođơn giá cố định; Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh; Giá hợp đồng kết hợp
3 Dự toán xây dựng công trình và dự toán gói thầu thi công xây dựng
A Dự toán xây dựng công trình.
1) Khái niệm dự toán xây dựng công trình
Dự toán xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng công trìnhđược xác định ở giai đoạn thực hiện dự án phù hợp với thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽthi công và các yêu cầu công việc phải thực hiện của công trình
2) Nội dung dự toán xây dựng công trình
Bao gồm chi phí xây dựng, phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tưxây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng được quy định cụ thể như sau:
Trang 8a) Chi phí xây dựng gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tínhtrước, thuế giá trị gia tăng;
b) Chi phí thiết bị gồm chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ, chiphí đào tạo, chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phíkhác có liên quan;
c) Chi phí quản lý dự án gồm các chi phí quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị địnhnày để tổ chức thực hiện quản lý dự án đối với công trình kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án,thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng;
d) Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của công trình gồm chi phí khảo sát, thiết kế,giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan;
đ) Chi phí khác của công trình gồm chi phí hạng mục chung và các chi phí khôngthuộc các nội dung quy định tại các Điểm a, b, c, và d Khoản này Chi phí hạng mụcchung gồm chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường, chi phí
di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến và ra khỏi công trường, chi phí antoàn lao động, chi phí bảo đảm an toàn giao thông phục vụ thi công (nếu có), chi phí bảo
vệ môi trường cho người lao động trên công trường và môi trường xung quanh, chi phíhoàn trả mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật do bị ảnh hưởng khi thi công công trình (nếu có),chi phí thí nghiệm vật liệu của nhà thầu và một số chi phí có liên quan khác liên quan đếncông trình;
e) Chi phí dự phòng của công trình gồm chi phí dự phòng cho khối lượng công việcphát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian xây dựng công trình Đối với dự án có nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư có thể xác định tổng dựtoán xây dựng công trình để quản lý chi phí Tổng dự toán xây dựng công trình được xácđịnh bằng cách cộng các dự toán xây dựng công trình và các chi phí khác có liên quancủa dự án
3) Xác định dự toán xây dựng công trình
Trang 9Dự toán xây dựng công trình được xác định trên cơ sở khối lượng tính toán từ thiết
kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, chỉ dẫn kỹ thuật, các yêu cầu công việc phải thựchiện của công trình và định mức xây dựng, giá xây dựng của công trình
Các chi phí trong dự toán xây dựng công trình được xác định như sau:
a) Chi phí xây dựng gồm chi phí trực tiếp về vật liệu, nhân công, máy thi công đượcxác định trên cơ sở khối lượng các công tác, công việc xây dựng được đo bóc, tính toán
từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, chỉ dẫn kỹ thuật, yêu cầu công việcphải thực hiện của công trình, giá xây dựng của công trình và chi phí chung, thu nhậpchịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng được xác định căn cứ định mức chi phí do cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc công bố;
b) Chi phí thiết bị được xác định trên cơ sở khối lượng, số lượng, chủng loại thiết bị
từ thiết kế công nghệ, xây dựng và giá mua thiết bị tương ứng Chi phí đào tạo, chuyểngiao công nghệ, chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phí khác có liên quanđược xác định bằng dự toán hoặc ước tính chi phí;
c) Chi phí quản lý dự án được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định32;
d) Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được xác định theo quy định tại Khoản 3 Điều 25Nghị định 32;
đ) Chi phí khác được xác định trên cơ sở định mức tỷ lệ phần trăm (%) hoặc ướctính hoặc bằng dự toán hoặc giá trị hợp đồng đã ký kết;
e) Chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh được tính bằng tỷ lệ phầntrăm (%) trên tổng các chi phí quy định tại các Điểm a, b, c, d và đ Khoản này Chi phí dựphòng cho yếu tố trượt giá được tính trên cơ sở độ dài thời gian xây dựng công trình, kếhoạch bố trí vốn và chỉ số giá xây dựng phù hợp với loại công trình xây dựng có tính đếncác khả năng biến động giá trong nước và quốc tế
B Dự toán gói thầu thi công xây dựng
Trang 10Dự toán gói thầu xây dựng gồm dự toán gói thầu thi công xây dựng; dự toán góithầu mua sắm vật tư, thiết bị lắp đặt vào công trình; dự toán gói thầu tư vấn đầu tư xâydựng và dự toán gói thầu hỗn hợp.
1) Khái niệm dự toán gói thầu thi công xây dựng
Dự toán gói thầu thi công xây dựng là toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện thi côngxây dựng các công tác, công việc, hạng mục, công trình xây dựng phù hợp với phạm vithực hiện của gói thầu thi công xây dựng Nội dung dự toán gói thầu thi công xây dựnggồm chi phí xây dựng, chi phí hạng mục chung và chi phí dự phòng
2) Chi phí xây dựng được xác định trên cơ sở khối lượng cần thực hiện của gói thầu
và đơn giá xây dựng được quy định như sau:
a) Khối lượng cần thực hiện của gói thầu gồm khối lượng các công tác xây dựng đãđược đo bóc, tính toán khi xác định chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công trình
và các khối lượng cập nhật, bổ sung khác (nếu có) được xác định từ bản vẽ thiết kế, biệnpháp thi công đối với những công trình, công tác riêng biệt phải lập thiết kế biện pháp thicông, các chỉ dẫn kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật liên quan của gói thầu
b) Đơn giá xây dựng là toàn bộ chi phí cần thiết (gồm chi phí trực tiếp, chi phíchung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng) để thực hiện một đơn vị khốilượng công tác xây dựng tương ứng của khối lượng cần thực hiện của gói thầu Đơn giáxây dựng được cập nhật trên cơ sở đơn giá trong dự toán xây dựng, phù hợp với mặt bằnggiá thị trường khu vực xây dựng công trình, các chế độ chính sách của nhà nước có liênquan tại thời điểm xác định dự toán gói thầu, các chỉ dẫn kỹ thuật và yêu cầu kỹ thuật liênquan của gói thầu
3) Chi phí hạng mục chung được xác định căn cứ định mức chi phí do cơ quan nhànước có thẩm quyền công bố hoặc ước tính chi phí hoặc bằng dự toán
4) Chi phí dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng được xác định theo tỷ
lệ % của các chi phí đã xác định trong dự toán gói thầu và thời gian thực hiện gói thầu
Trang 11nhưng không vượt mức tỷ lệ phần trăm (%) chi phí dự phòng của dự toán xây dựng côngtrình đã được phê duyệt.
4 Giới thiệu về công trình xây dựng
1) Vị trí xây dựng, đặc điểm kiến trúc công trình
Công trình “CHUNG CƯ THU NHẬP THẤP QUẬN THANH XUÂN”
Được xây dựng tại quận Thanh Xuân, Thành Phố Hà Nội
Công trình gồm 5 tầng nổi, có tổng chiều cao là 19,8 m, công trình có hình chữ nhật
có chiều dài các cạnh 10,2×650,4 (m), diện tích xây dựng 514,08 (m2) Công trình trênkhu đất tương đối rộng, mặt bằng xây dựng rộng rãi tổ chức thi công thuận tiện
2) Sự cần thiết phải đầu tư
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triểnmạnh mẽ của thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Song song với nhữngthành tựu vượt bậc về kinh tế, những sức ép của nó lên xã hội cũng ngày càng nặng nề đó
là sự bùng nổ dân số đô thị Trong điều kiện đất đai còn hạn hẹp, việc đảm bảo điều kiện
ăn ở sinh hoạt của công nhân viên chức làm việc trong các nhà máy, các khu công nghiệp
là vấn đề cấp thiết đặt ra không chỉ cho các công ty mà còn là vấn đề của toàn xã hội Đểđáp ứng nhu cầu đó, giải pháp xây dựng các khu chung cư cao tầng dành cho người dân
có thu nhập thấp và trung bình chắc chắn sẽ là giải pháp mang tính khả thi hơn cả
Và việc xây dựng công trình “NHÀ CHUNG CƯ THU NHẬP THẤP QUẬNTHANH XUÂN” đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó
Yêu cầu cơ bản của công trình
Công trình thiết kế cao tầng, kiến trúc đẹp mang tính hiện đại, tính bền vững cao.Đáp ứng phù hợp với yêu cầu sử dụng và các quy định chung của quy hoạch tỉnhtrong tương lai
Bố trí thang bộ đầy đủ đảm bảo giao thông thuận tiện và yêu cầu thoát hiểm