Tổng quan về Tập đoàn Volvo Tập đoàn Volvo là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về xe tải, xe buýt,thiết bị xây dựng, động cơ hàng hải và các động cơ công nghiệp.. Về giá
Trang 1PHẦN A LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 1
A.I Giới thiệu chung 1
A.I.1 Tổng quan về Tập đoàn Volvo 1
A.I.2 Lĩnh vực kinh doanh 1
A.II Lịch sử hình thành của volvo 2
A.III Lịch sử chiến lược của volvo 2
A.III.1 Giai đoạn 1: 1927-1970 2
A.III.2 Giai đoạn 2: 1971-2000 5
A.IV Kết luận 6
PHẦN B PHÂN TÍCH VIỄN CẢNH VÀ SỨ MỆNH 8
B.I Viễn cảnh 8
B.I.1 Tư tưởng cốt lõi 8
B.I.1.1 Giá trị cốt lõi 8
B.I.1.2 Mục đích cốt lõi 9
B.I.2 Hình dung tương lai 9
B.II Sứ mệnh 9
B.II.1 Định nghĩa kinh doanh 10
B.II.2 Định hướng khách hàng 10
B.II.3 Giá trị 11
B.II.4 Mục tiêu 12
B.II.5 Các giá trị cam kết với các bên hữu quan 12
B.II.5.1 Khách hàng 12
B.II.5.2 Cổ đông 13
B.II.5.3 Nhân viên 13
B.II.5.4 Xã hội 14
B.III Kết luận 14
B.IV Mục tiêu chiến lược của Volvo giai đoạn từ 2000 đến nay 14
PHẦN C PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 15
C.I Môi trường toàn cầu 15
C.I.1 Nhu cầu trong ngành công nghiệp xe thương mại 15
C.I.2 Biến động giá dầu thô 17
C.I.3 Sự cải tiến công nghệ 19
C.I.4 Vấn đề an toàn trên phương tiện giao thông vận tải 20
C.I.5 Sự biến đổi khí hậu toàn cầu 20
C.I.6 Kết luận chung 22
C.II Phân tích ngành 23
C.II.1 Định nghĩa ngành 23
C.II.2 Mô tả ngành 23
C.II.3 Phân tích tính hấp dẫn của ngành 24
C.II.3.1 Phân tích năm lực lượng cạnh tranh 24
C.II.3.2 Chu kỳ ngành 28
C.II.3.3 Nhóm chiến lược 29
C.II.3.4 Động thái của các đối thủ cạnh tranh 30
Trang 2C.II.4.2 An toàn 32
C.II.4.3 Chính sách hậu mãi 32
C.II.4.4 Mạng lưới phân phối 33
C.II.5 Các lực lượng dẫn dắt sự thay đổi trong ngành 33
C.II.5.1 Cải tiến sản phẩm, thay đổi công nghệ 33
C.II.5.2 Những thay đổi về quy định và chính sách 33
PHẦN D PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 35
D.I Phân tích quản trị chiến lược 35
D.I.1 Các chiến lược hiện tại 35
D.I.1.1 Chiến lược phát triển công ty 35
D.I.1.2 Chiến lược quốc tế 41
D.I.1.3 Chiến lược chức năng 48
D.I.1.4 Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh 52
D.I.2 Thực thi chiến lược 60
D.I.2.1 Cơ cấu tổ chức 60
D.I.2.2 Hệ thống kiểm soát 61
D.I.3 Thành tựu chiến lược 63
D.I.3.1 Thành tựu thị trường 63
D.I.3.2 Thành tựu tài chính 65
D.I.4 Phân tích SWOT 80
D.II Phân tích lợi thế cạnh tranh 82
D.II.1 Bản chất lợi thế cạnh tranh 82
D.II.1.1 Lợi nhuận ròng biên 82
D.II.1.2 Khối tạo lợi thế cạnh tranh của Volvo 83
D.II.2 Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh 86
D.II.2.1 Phân tích chuỗi giá trị: 86
D.II.2.2 PHÂN TÍCH NGUỒN LỰC 89
D.II.2.3 Khả năng tiềm tàng 91
D.II.2.4 Năng lực cốt lõi 93
PHẦN E KẾT LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC CỦA TẬP ĐOÀN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 2000 ĐẾN NAY 94
PHẦN F TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 3PHẦN A LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN A.I Giới thiệu chung
A.I.1 Tổng quan về Tập đoàn Volvo
Tập đoàn Volvo là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về xe tải, xe buýt,thiết bị xây dựng, động cơ hàng hải và các động cơ công nghiệp Tập đoàn cũng cung cấpcác giải pháp hoàn chỉnh cho lĩnh vực tài chính và dịch vụ
Volvo là một Tập đoàn công khai có trụ sở tại Göteborg, Thụy Điển Cổ phiếu củaVolvo được niêm yết trên sàn chứng khoán OMX Nordic Stockholm
Hiện nay, Tập đoàn Volvo có khoảng 110,000 nhân viên, có cơ sở sản xuất tại 19 quốcgia và sản phẩm được bán tại hơn 190 thị trường Trong đó, thị trường chính là châu Âu,châu Á và Bắc Mỹ
Hơn 2,000,000 xe tải và 100,000 xe buýt mà Tập đoàn sản xuất trong mười năm quahoạt động trên các tuyến đường trên toàn thế giới
A.I.2 Lĩnh vực kinh doanh
Xe tải (Volvo Trucks): Volvo Trucks là nhà sản xuất lớn thứ hai thế giới của xe tải
hạng nặng có trọng lượng trên 16 tấn và xe tải hạng trung Các thị trường chính củaVolvo là ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ Đồng thời, Tập đoàn cũng đang mở rộng thịtrường sang châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ
Xe buýt (Volvo Buses): Volvo Buses là nhà sản xuất lớn thứ hai thế giới về xe buýt và
khung gầm xe buýt có trọng lượng trên 12 tấn Thị trường của dòng sản phẩm này tậptrung ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Á
Thiết bị xây dựng (Volvo Construction Equipment – Volvo CE): Volvo CE là nhà
sản xuất lớn thứ tư thế giới về các thiết bị xây dựng Nó có vị trí vững chắc ở thịtrường châu Âu và Bắc Mỹ, và hiện tại đang đầu tư tại các thị trường ở Đông Âu,Đông Nam Á và Nam Mỹ Các sản phẩm này dẫn đầu ở nhiều thị trường trên thế giới,bao gồm một loạt các bánh xe tải, xe tải khớp nối, và các máy móc, thiết bị xây dựngkhác
Trang 4 Hàng hải và động cơ công nghiệp (Volvo Penta): Volvo Penta cung cấp các động cơ
hàng hải và hệ thống truyền động với mã lực từ 10 đến 900 mã lực Bên cạnh đó,Volvo còn cung cấp các động cơ công nghiệp như máy phát điện, máy bơm thủy lợi
Hàng không vũ trụ (Volvo Aero): Volvo Aero sản xuất các linh kiện cao cấp cho
động cơ máy bay và các ứng dụng hàng không vũ trụ
Dịch vụ tài chính (Volvo Financial Services): Volvo Financial Services cung cấp các
dịch vụ tài chính chất lượng cao và các dịch vụ liên quan đến khách hàng của Tậpđoàn Volvo Dịch vụ tài chính, đại lý tài chính và các dịch vụ khác, chẳng hạn như bảohiểm, góp phần tạo ra giá trị khách hàng Cung cấp giải pháp tài chính hấp dẫn là điềucần thiết để giữ chân khách hàng hiện có và thu hút những khách hàng mới
A.II Lịch sử hình thành của volvo
Tập đoàn Volvo có tiền thân là một công ty con của Tập đoàn AB SKF (SvenskaKullagerfabriken AB) - một nhà sản xuất ổ bi Thụy Điển
Ngày 14/4/1927, Volvo chính thức được thành lập bởi Assar Gabrielsson và GustafLarson, tại Hisingen, Göteborg, Thụy Điển Volvo ban đầu hoạt động trong lĩnh vực sảnxuất ô tô vì Assar phát hiện ra rằng các công ty đối thủ cạnh tranh ở châu Âu đã bắt đầuđầu tư rất nhiều vào các công ty ô tô để duy trì doanh số bán hàng đối với các khách hàngquan trọng Việc thành lập một doanh nghiệp sản xuất ô tô trong SKF là để có được lợithế hơn đối thủ cạnh tranh khi phát triển vòng bi mới cho ngành công nghiệp ô tô, làmdoanh số bán vòng bi tăng, nhưng quan trọng hơn, nó sẽ tác động tích cực đến tổng thểngành công nghiệp Thụy Điển
A.III Lịch sử chiến lược của volvo
A.III.1 Giai đoạn 1: 1927-1970
Ngay từ khi mới thành lập, hai nhà sáng lập đã tuyên bố viễn cảnh, sứ mệnh của Tậpđoàn như sau:
Viễn cảnh:
“Safety is part of our soul, our vision is that no one is killed or injured by Volvo”.
(Assar Gabrielsson – 1927)Dịch:
“An toàn là một phần linh hồn của chúng tôi, viễn cảnh của chúng tôi là không ai chết hay bị thương bởi Volvo”.
Giá trị cốt lõi:
“Safety is part of our soul” – An toàn là một phần linh hồn của chúng tôi. An toàn
chính là kim chỉ nam của Tập đoàn Volvo kể từ năm 1927 Chính vì thế, yếu tố an toànluôn luôn là tiêu chuẩn hàng đầu trong mọi sản phẩm của Volvo Assar Gabrielson vàGustaf Larson, hai nhà sáng lập Volvo cho rằng: “Xe hơi do chính con người điều khiển,
do đó quy tắc tiên quyết trong mọi sản phẩm chúng ta sản xuất ra phải là đảm bảo antoàn”, những lời này đã trở thành phương châm hoạt động Volvo
Mục đích cốt lõi:
Trang 5“No one is killed or injured by Volvo” – Không một ai chết hay bị thương bởi Volvo.
Volvo quan niệm việc mang lại hạnh phúc cho con người chính là mạng sống của họđược bảo vệ trong mọi hoàn cảnh Mục đích cốt lõi của Volvo là không có bất kỳ ai chếthay bị thương khi sử dụng những sản phẩm của mình Với mục đích cao cả này đã địnhhướng cho sự phát triển không ngừng của Tập đoàn Volvo, mang lại hạnh phúc cho kháchhàng thông qua sự an toàn một cách tuyệt đối trong các sản phẩm mà nó cung cấp
Sứ mệnh:
“Our mission is zero accidents with Volvo Group products We are committed to work hard to prevent accidents, but we are also aware of the fact that most accidents involve factors that are out of our control Therefore, the Volvo Group cooperates with users, authorities, scientists and other actors in society who want to create a safer world”.
Dịch:
“Sứ mệnh của chúng tôi là không có bất kì tai nạn nào xảy ra khi sử dụng các sản phẩm của Tập đoàn Volvo Chúng tôi cam kết làm việc chăm chỉ để ngăn ngừa các tai nạn, nhưng cũng nhận thức được thực tế rằng hầu hết các tai nạn đều liên quan đến các yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi Do đó, Tập đoàn Volvo hợp tác với người
sử dụng, chính quyền, các nhà khoa học và các thành phần khác trong xã hội, những người muốn tạo ra một thế giới an toàn hơn”.
( Assar Gabrielsson – 1927 )
Mục tiêu chiến lược:
Với những tuyên bố về viễn cảnh, sứ mệnh đã nêu như trên và định hướng an toàn làmột giá trị cốt lõi, Volvo luôn nỗ lực đưa an toàn vào từng sản phẩm của mình Cũngtrong giai đoạn này, Volvo định hướng mục tiêu là mở rộng hoạt động kinh doanh củamình trên thị trường thế giới
Năm 1932, Volvo xuất khẩu thành công dòng xe LV71-74 Việc xuất khẩu thành công
lần đầu tiên này đã giúp Volvo mở rộng thị trường hoạt động của mình ở nhiều quốc gia
và trở thành công ty toàn cầu, từng bước định vị chỗ đứng của mình trên thị trường thếgiới
Trong giai đoạn này, Volvo đã định hướng cho mình một trong những lĩnh vực sản xuất chính có thể đem lại nguồn doanh thu lớn cho mình là sản xuất xe tải
Năm 1936, Assar Gabrielsson và Gustaf Larson đưa ra các nguyên tắc vàng chỉ ra
cách thức để bán một chiếc xe hơi: “Rule number one: Let the customer drive the car;
Rule number two: Let the customer drive the car; Rule number three: Let the customer drive the car” (Nguyên tắc thứ nhất: hãy để khách hàng lái xe; nguyên tắc thứ hai: hãy để
khách hàng lái xe; nguyên tắc thứ ba: hãy để khách hàng lái xe) Chiếc xe chính là khônggian làm việc của người lái, ý nghĩa của nguyên tắc này đó là để cho khách hàng tự cảmnhận được những giá trị của chiếc xe, sự thoải mái, tin tưởng về độ an toàn và cảm nhậnmột không gian lý tưởng khi ngồi trên xe, cầm vô lăng và khởi động xe
Năm 1944, một phát minh quan trọng của Volvo đánh dấu sản phẩm vì an toàn đó là
sự ra đời của mẫu xe PV Điểm nổi bật trong sản phẩm này chính là thiết kế kính chắn giónhiều lớp Mẫu xe này được bán khá chạy với hơn 125.000 đơn đặt hàng Nhưng một
Trang 6năm sau đó, Volvo đã gặp phải vấn đề lớn do sự thiếu hụt về cao su và tấm kim loại, vìvậy mẫu xe mới PV444 được sản xuất với giá thành rất cao Tuy nhiên, vì sự hứng thúvới chiếc xe tuyệt vời như vậy mà mọi người sẵn sàng trả giá gấp đôi để được sở hữu nó.
Năm 1955, Tập đoàn Volvo quyết định đưa Volvo Cars vào thị trường Mỹ, một thị
trường tiềm năng với dân số đông và nền kinh tế phát triển, thu nhập người dân cao hơn
so với các nước khác trong giai đoạn này
Một trong những chiếc xe hơi đầu tiên của Volvo tại Mỹ, là dòng xe PV444 HS màunâu sẫm với lốp xe whitewall, đã được trưng bày trong các gian hàng của Thụy Điển tạiHội chợ & Triển lãm Bang California ở Sacramento vào tháng 9/1955
Bên cạnh đó, Volvo còn phát triển dòng xe thể thao dành riêng cho thị trường Mỹ Cácphiên bản Mỹ của PV444 được trang bị động cơ B14A 70 mã lực đã được phát triển chodòng xe thể thao thân nhựa của Volvo tại Mỹ, trong khi đó loại động cơ mạnh mẽ nàykhông được tích hợp sẵn trong dòng xe PV444s tại thị trường Thụy Điển (ngoài một số
Doanh số bán hàng tại Mỹ của Volvo là một câu chuyện thành công chưa từng có.
Năm 1959, các kỹ sư của hãng đã phát minh ra loại dây an toàn 3 điểm Loại dây này
được đánh giá là hàng đầu về tính năng an toàn và bảo vệ mạng sống của con người.Volvo cũng cho biết, cơ quan cấp bằng sáng chế của Đức từng gọi dây an toàn 3 điểm làmột trong 8 sáng chế quan trọng nhất đối với nhân loại từ 1885 đến 1985
Cho đến bây giờ hệ thống dây an toàn 3 điểm của Nils Bohlin vẫn được sử dụng trên gần như tất cả mọi loại xe Không chỉ cứu sống cả triệu mạng sống, dây an toàn 3 điểm còn là sáng kiến quan trọng nhất của Volvo và gần như là quan trọng nhất trong lịch sử của lĩnh vực giao thông vận tải.
Năm 1970, Volvo thành lập đội điều tra tai nạn ô tô, thành viên của đội này có thể sử
dụng chính xe Volvo để làm vật thí nghiệm, nhằm đánh giá mức độ an toàn và khả năngchống chịu va chạm Các thông số thu từ thử nghiệm được sử dụng để thiết kế sao cho xeVolvo trở nên an toàn hơn Ngoài ra, nó thúc đẩy Volvo sáng tạo ra các công nghệ an toàncao cấp hơn
Kết luận giai đoạn:
Trong hơn 40 năm qua, Tập đoàn đã trải qua nhiều biến cố, việc bán hàng của Volvogần như phải ngừng lại vì hàng loạt các đơn đặt hàng bị khách hàng hủy bỏ vì chiến tranhthế giới thứ II Tuy nhiên, Volvo đã vượt qua và hoàn thành được mục tiêu sứ mệnh củagiai đoạn này đó là: đã tạo ra những các sản phẩm có tính năng an toàn cao, đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng đã định vị được vị thế củamình thị trường toàn cầu
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất ô tô con, xe tải, xe buýt.
Trang 7 Đổi mới sản phẩm liên tục phù hợp với tốc độ thay đổi của sản phẩm.
A.III.2 Giai đoạn 2: 1971-2000
Năm 1971, Pehr G Gyllenhammar lên nắm quyền CEO và Chủ tịch Tập đoàn, ông vẫngiữ nguyên các tuyên bố viễn cảnh và sứ mệnh Ngay sau khi lên nắm quyền, ông đã phátbiểu:
“We aim to establish a global industrial structure with manufacturing, selling and distributing channels on all continents We commit to continually create products that aspire to a kind of perfection that transcends requests’s customers”
(Pehr G Gyllenhammar – 1971)
“Chúng tôi hướng đến việc thành lập một cơ cấu công nghiệp trên toàn cầu bằng cách sản xuất, bán hàng và xây dựng các kênh phân phối trên tất cả các châu lục Chúng tôi cam kết không ngừng sáng tạo ra các sản phẩm đáp ứng một cách hoàn hảo vượt qua sự mong đợi của khách hàng”.
Mục tiêu chiến lược:
Mở rộng thị trường của Volvo trên toàn thế giới
Cam kết mang lại sự hài lòng cho khách hàng
Năm 1971, Volvo đã mua lại hàng loạt công ty và nhà máy sản xuất ở Scotland, Hà
Lan
Năm 1986, Volvo mua lại Tập đoàn xe tải hạng nặng GM, với mạng lưới lớn ở Mỹ và
Canada Tập đoàn xe buýt Leyland bị mua lại bởi Volvo vào năm 1988 ở Mỹ
Trong những năm này, dưới sự điều hành của Pehr G Gyllenhammar, Volvo đã đạt được nhiều thành công Với hàng loạt thương vụ mua lại, thâu tóm, Volvo lúc bấy giờ là một thế lực mạnh không những ở Châu Âu mà còn ở Bắc Mỹ, sân chơi của các đại gia khác trong ngành sản xuất ô tô, xe tải.
Năm 1990, Volvo tham gia liên doanh với nhà sản xuất ô tô của Pháp, Renault.
Renault với sự nổi tiếng về kiểu dáng xe và cách kiểm soát chi phí Volvo được biết đến
về kỹ thuật với chất lượng cao và các giải pháp an toàn Liên doanh được thành lập vớitham vọng dài hạn đưa Volvo trở thành người dẫn đầu về sản xuất xe tải, còn Renaultthành nhà tiên phong trong sản xuất xe ô tô khách, đồng thời thay đổi mô hình chiến lược
ở châu Âu và tạo ra một công ty với quy mô lớn để cạnh tranh hiệu quả trong thị trường
Trang 8toàn cầu Và mục tiêu ngắn hạn là giúp Volvo cải thiện tình hình tài chính bị ảnh hưởngnghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng kinh tế ở Thụy Điển Nhưng do liên doanh hoạt độngkhông hiệu quả, khi vào năm 1992, liên minh Volvo - Renault sau đó đã được giải thể.
Năm 1994, Volvo liên doanh với công ty thiết bị xây dựng Clark, thành lập công ty
liên doanh VME, với mục tiêu trở thành công ty hàng đầu trên thế giới về sản xuất vàcung cấp thiết bị xây dựng Trong quá trình liên doanh, công ty này hoạt động rất hiệuquả, khi hàng loạt các sản phẩm do liên doanh này tung ra luôn đạt vị trí dẫn đầu vềdoanh số Chính vì vậy, Volvo đã thực hiện rất nhiều nỗ lực để mua lại nó và cuối cùngthương vụ đã hoàn tất vào năm 1995 khi Volvo đã mua lại 50% các cổ phiếu lưu hànhcòn lại của liên doanh, sau khi quyền điều hành được chuyển giao,Volvo đã đổi tên thànhVolvo Construction Equipments (Volvo CE) – chính thức trở thành một mảng hoạt độngkinh doanh độc lập của Tập đoàn Volvo, giúp Volvo nâng cao năng lực hoạt động củamình
Năm 1993, Volvo giới thiệu dòng xe tải Volvo FH nhằm cung cấp một động cơ giảm
sốc, đồng thời thiết kế lại buồng lái để cải thiện khí động lực học, tuân thủ các quy định
về khí thải trong Euro III của Liên minh châu Âu Volvo FH là sự lựa chọn hoàn hảo chovận chuyển hàng nặng trên một khoảng cách dài, làm cho công việc của người lái xe dễdàng và thoải mái hơn Ông Lars Martensson - Giám đốc môi trường của Volvo Truckkhẳng định: “Chúng tôi tin tưởng rằng Volvo FH sẽ đáp ứng được nhu cầu của kháchhàng về giải pháp vận chuyển an toàn và thân thiện với môi trường.”
Kết luận giai đoạn:
Mặc dù có những khó khăn vào đầu những năm 90, nhưng với khả năng nhìn nhận,giải quyết tốt vấn đề, mục tiêu rõ ràng thì Volvo ngày càng mở rộng thị trường, mạnh mẽnhất là ở châu Âu và Bắc Mỹ, cùng với những dòng sản phẩm mới về xe thương mại
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất ô tô con, ô tô tải, xe buýt, thiết bị xây dựng.
Về giá trị và truyền thống của Tập đoàn: Từ khi nguyên tắc vàng về an toàn được các
nhà sáng lập phát biểu: “An toàn là và phải là nguyên tắc cơ bản trong tất cả các công
việc thiết kế”, thì đó luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và là tiêu chuẩn hàng đầu
trong mọi sản phẩm của Volvo Volvo luôn dẫn đầu thế giới về công nghệ an toàn,
Trang 9chính vì vậy an toàn đã được thị trường thế giới mặc định trở thành “brandassociation” (sự liên tưởng thương hiệu) của Volvo Nhắc đến Volvo người ta nghĩngay đến an toàn.
Mục đích kinh doanh: Volvo nhận thức được mục đích kinh doanh cao cả của nó là
mang lại hạnh phúc cho con người thông qua cách mà Volvo bảo vệ mạng sống của họtrong mọi hoàn cảnh Chính với mục đích này đã định hướng cho sự phát triển khôngngừng của Tập đoàn Volvo, mang lại hạnh phúc cho khách hàng thông qua sự an toànmột cách tuyệt đối trong các sản phẩm mà nó cung cấp
Khả năng, kỹ năng đặc biệt: Khả năng phát minh ra các sản phẩm an toàn cao Với
nhiều tính năng mới thay đổi qua nhiều thời kì, sự ổn định trong vận hành luôn đượcchú trọng cùng với mục tiêu giảm thiểu tối đa thương tích khi gặp tai nạn trong nhiềudòng xe, Volvo đã lập ra nhiều trung tâm thử nghiệm trên khắp nước Mỹ và cả ở ChâuÂu
Trang 10PHẦN B PHÂN TÍCH VIỄN CẢNH VÀ SỨ MỆNH B.I Viễn cảnh
“The Volvo Group's vision is to become the world leader in sustainable transport solutions by:
Creating value for customers in selected segments
Pioneering products and services for the transport and infrastructure industries
Driving quality, safety and environmental care
Working with energy, passion and respect for the individual.”
Dịch:
“Viễn cảnh của Tập đoàn Volvo là trở thành nhà dẫn đạo thế giới về các giải pháp vận chuyển bền vững bằng cách:
Tạo ra giá trị cho khách hàng trong những phân khúc đã lựa chọn.
Là nhà tiên phong cho các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực công nghiệp vận tải và
cơ sở hạ tầng.
Quan tâm tới chất lượng, sự an toàn và môi trường.
Làm việc với sự nhiệt huyết, lòng đam mê và tinh thần tôn trọng cá nhân.”
B.I.1 Tư tưởng cốt lõi
B.I.1.1 Giá trị cốt lõi
Chất lượng:
Chất lượng là một mục tiêu mà Volvo hướng đến trong việc cung cấp sản phẩm vàdịch vụ Trong tất cả các khía cạnh hoạt động, từ phát triển sản phẩm, sản xuất đếnphân phối và hỗ trợ khách hàng, trọng tâm của Volvo là dựa trên nhu cầu và mong đợicủa khách hàng Mục tiêu của Tập đoàn là trở thành số một trong sự hài lòng củakhách hàng Điều này dựa trên một nền tảng văn hóa mà tất cả nhân viên của Volvo đãhưởng ứng và nhận thức được điều gì cần phải hoàn thành để trở thành người bạn tốtnhất của khách hàng
An toàn:
“Safety is part of our soul” – An toàn là một phần linh hồn của chúng tôi. An toàn
chính là kim chỉ nam của Tập đoàn Volvo kể từ năm 1927 Những người sáng lập Volvo
tuyên bố rằng: “An toàn là và phải là nguyên tắc cơ bản trong tất cả các thiết kế”, chính
vì thế, yếu tố an toàn luôn là tiêu chuẩn hàng đầu trong mọi sản phẩm của Volvo AssarGabrielson và Gustaf Larson, hai nhà sáng lập Volvo cho rằng “Xe hơi do chính conngười điều khiển, do đó quy tắc tiên quyết trong mọi sản phẩm chúng ta sản xuất ra phải
là đảm bảo an toàn”, những lời này đã trở thành phương châm hoạt động Volvo
Volvo đã làm việc chăm chỉ trong hơn 80 năm qua nhằm hướng tới việc phát triển cácsản phẩm có tính năng an toàn ngày càng cao hơn cho người sử dụng Đội nghiên cứu tainạn của Volvo đã cho chúng ta cái nhìn sâu sắc vào những nguyên nhân của tai nạn vànhững gì có thể được thực hiện để ngăn chặn chúng Các sản phẩm của Volvo đã được ra
Trang 11đời để tối thiểu hóa hậu quả của những tai nạn, điều này giúp Volvo dẫn đầu thế giớitrong công nghệ an toàn qua nhiều năm.
Bảo vệ môi trường:
Là một trong những nhà sản xuất xe thương mại hạng nặng hàng đầu thế giới, Volvo
có ý thức rõ ràng trong việc giảm thiểu tác động đến môi trường của sản phẩm Tập đoànVolvo là nhà sản xuất xe tải hạng nặng đầu tiên phát triển 7 chiếc xe tải khác nhau mà tất
cả có thể điều khiển để không tác động đến khí hậu – không có khí thải carbon dioxide.Tập đoàn Volvo đang chú trọng trong việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nănglượng và giảm khí thải vào môi trường Mục tiêu của Tập đoàn Volvo là trở thành nhàdẫn đạo trong việc bảo vệ môi trường ở trong ngành sản xuất xe tải, xe buýt, thiết bị xâydựng, hàng hải và các động cơ công nghiệp
B.I.2 Hình dung tương lai
Mục tiêu thách thức:
Tham vọng của Tập đoàn Volvo là:
“ To become the World Leader in sustainable transports solutions.”
Dịch:
“Hướng đến dẫn đầu thế giới về các giải pháp vận chuyển bền vững.”
Tính đến nay, Tập đoàn Volvo đã là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về
xe tải, xe buýt, thiết bị xây dựng, động cơ hàng hải và công nghiệp; đồng thời Volvo cũng
là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về các động cơ diesel hạng nặng
Để đạt được mục tiêu đề ra, đòi hỏi Volvo phải nỗ lực không ngừng trong việc tạo racác giải pháp vận chuyển an toàn, mang lại sự hài lòng cho khách hàng, tiết kiệm nhiênliệu đồng thời sử dụng nguồn nhiên liệu “xanh”
B.II Sứ mệnh
Bản sứ mệnh được tuyên bố bởi Leif Johansson năm 1997:
“By creating value for our customers, we create value for our shareholders We use
our expertise to create transport-related hard and soft products of superior quality, safety and environmental care for demanding customers in selected segments We work with energy, passion and respect for the individual.”
( Leif Johansson –1997)Dịch:
Trang 12“Bằng cách tạo ra giá trị cho khách hàng, chúng tôi tạo ra giá trị cho các cổ đông Chúng tôi sử dụng chuyên môn của mình để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có liên quan đến giao thông vận tải với tiêu chí chất lượng cao, an toàn và quan tâm đến môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong các phân khúc đã lựa chọn Chúng tôi làm việc với sự nhiệt huyết, lòng đam mê và tinh thần tôn trọng cá nhân.”
Tập đoàn Volvo kinh doanh cái gì ?
Chúng tôi là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới của xe tải, xe buýt, thiết
bị xây dựng, hệ thống truyền động cho các ứng dụng công nghiệp và hàng hải Chúng tôicũng cung cấp các giải pháp hoàn chỉnh về tài chính và dịch vụ Sản phẩm và dịch vụ củachúng tôi mang lại hiệu quả cho toàn xã hội
Tập đoàn Volvo mong muốn điều gì ?
Tập đoàn Volvo mong muốn trở thành nhà lãnh đạo thế giới về các giải pháp vậnchuyển bền vững Các hoạt động khác nhau của Tập đoàn Volvo được tổ chức để cungcấp sự tốt nhất cho khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ, khai thác sâu rộng và chia sẻcác nguồn lực của Tập đoàn theo những cách tốt nhất có thể
B.II.2 Định hướng khách hàng
Khách hàng của Tập đoàn Volvo là ai ?
“We use our expertise to create transport-related products and services of superior quality, safety and environmental care for demanding customers in selected segments”.
Tập đoàn Volvo xác định hoạt động kinh doanh định hướng vào khách hàng, đó là “sử
dụng chuyên môn của mình để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến giao thông vận tải chất lượng cao, an toàn và quan tâm đến môi trường cho yêu cầu của khách hàng trong các phân khúc được lựa chọn” Theo đó thì Tập đoàn Volvo phân loại khách hàng
theo từng nhóm đối tượng và tạo ra giá trị cho từng phân khúc thông qua các sản phẩmcủa mình Cụ thể Volvo hoạt động tại các mảng: Volvo Truck, Volvo Buses, VolvoConstruction Equipment, Volvo Penta, Volvo Aero, Volvo Financial Services Điều nàygiúp Tập đoàn Volvo dễ dàng ứng phó với những thay đổi của nhu cầu khách hàng vàmôi trường kinh doanh
Nhu cầu của con người về giao thông vận tải ngày càng cao cùng với sự phát triểnkhông ngừng của công nghệ hiện đại, chắc chắn trong tương lai lĩnh vực giao thông vậntải sẽ có nhiều biến chuyển, sẽ cho ra đời những loại phương tiện giao thông vận tải mới,những nguồn nguyên – nhiên liệu mới hay những sản phẩm phức hợp hạ tầng côngnghiệp và giao thông vận tải… Và lúc đó, Tập đoàn Volvo không phải chỉ hoạt động kinh
Trang 13doanh là ô tô, hàng không… mà là toàn bộ những gì liên quan đến giao thông vận tải và
cơ sở hạ tầng công nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tạo ra giá trị cho khách hàng
Khách hàng của Tập đoàn Volvo mong muốn điều gì ?
Tập đoàn Volvo phục vụ cho khách hàng dựa trên nền tảng đó là sự tôn trọng và niềmtin của khách hàng đối với thương hiệu Lựa chọn của mỗi khách hàng trong từng phânkhúc cụ thể là khác nhau Volvo cố gắng hiểu rõ yêu cầu của khách hàng để tìm ra cácgiải pháp phù hợp nhất
Sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng sẽ không chỉ phụ thuộc vào chấtlượng và hiệu suất của sản phẩm, mà còn là cách khách hàng được đối xử như thế nào vàcác dịch vụ được cung cấp ra sao
Đó chính sự mong đợi của khách hàng và cũng là nhu cầu kinh doanh hiện tại.
Khách hàng của Tập đoàn Volvo được thỏa mãn bằng cách nào ?
Tập đoàn Volvo hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua việc chế
tạo ra các sản phẩm tuân theo Nguyên tắc vàng được các nhà sáng lập đưa ra: “An toàn
là và phải là nguyên tắc cơ bản trong tất cả các công việc thiết kế” Từ đó trở về sau, nó
luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và là tiêu chuẩn hàng đầu trong mọi sản phẩmcủa Volvo
Bên cạnh đó, sự hài lòng của khách hàng luôn được các nhà kinh doanh quan tâm đặcbiệt Trong tất cả những lĩnh vực hoạt động của mình, từ việc phát triển sản phẩm và sảnxuất, đến phân phối và chăm sóc khách hàng, trọng tâm của Volvo đều hướng vào nhucầu và mong muốn của khách hàng
B.II.3 Giá trị
Đạo đức kinh doanh (Business ethics)
“Volvo Group strives for integrity and compliance with business ethics principles in all parts of our operations and prefers to work with component suppliers, consultants, distributors and other business partners that share the same values The most important principles to apply and implement relate to anti-corruption, not facilitating money laundering, reporting in a transparent, truthful and timely manner, fair competition and compliance with tax rules.”
Dịch:
“Tập đoàn Volvo phấn đấu cho sự toàn vẹn và phù hợp với các nguyên tắc đạo đứckinh doanh trong tất cả các hoạt động của các bộ phận và làm việc tốt hơn với các nhàcung cấp, nhà tư vấn, nhà phân phối và các đối tác kinh doanh khác Các nguyên tắc quantrọng nhất để áp dụng và thực hiện liên quan đến chống tham nhũng, chống các hoạt độngrửa tiền, báo cáo một cách minh bạch, trung thực, kịp thời, cạnh tranh công bằng và phùhợp với các quy định về thuế.”
Trang 14Nhân quyền và công bằng xã hội (Principles of human rights and social justice)
“Volvo Group shall support and respect the protection of internationally proclaimed human rights and make sure that the Group is not complicit in human rights abuses Volvo Group’s commitment to employees is that all employees shall be treated with respect and be offered equal opportunities, be provided the conditions for a safe and healthy work environment and have the right to join an association to represent their interests.”
Dịch:
“Tập đoàn Volvo hỗ trợ và tôn trọng sự bảo vệ nhân quyền của quốc tế đã công bố vàđảm bảo rằng Tập đoàn không đồng lõa trong việc vi phạm nhân quyền Tập đoàn Volvocam kết với nhân viên là tất cả các nhân viên được đối xử với sự tôn trọng và có các cơhội bình đẳng, được làm việc trong một môi trường an toàn, lành mạnh và có quyền thamgia hiệp hội xã hội có lợi cho họ.”
Môi trường (Environmental)
“Environmental care has been a corporate core value for the Volvo Group since 1972 and is an integrated part of daily business throughout the value chain We strive to design our processes and products in such a way that energy, natural resources and raw material shall be used efficiently We aim to avoid materials and methods posing environmental and health risks.”
Dịch:
“Bảo vệ môi trường đã trở thành giá trị cốt lõi của Tập đoàn Volvo từ năm 1972 và làmột phần tích hợp trong chuỗi giá trị Chúng tôi cố gắng để thiết kế quy trình và sảnphẩm của chúng tôi theo cách mà năng lượng, tài nguyên thiên nhiên và nguyên vật liệuđược sử dụng có hiệu quả Mục đích của chúng tôi là tránh sử dụng các nguyên vật liệu
và phương pháp gây hại cho môi trường và sức khỏe chúng ta.”
Volvo hướng tới mục tiêu tăng 12% đến 15% lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Volvo hướng tới tăng thu nhập thêm 9 tỷ SEK, tương ứng với sự cải thiện lợi nhuậnhoạt động của Tập đoàn lên 3%
B.II.5 Các giá trị cam kết với các bên hữu quan
B.II.5.1 Khách hàng
Tập đoàn Volvo đã khẳng định rõ trong sứ mệnh: “creating value for customers in
selected segments” – “tạo ra giá trị cho khách hàng trong những phân khúc đã lựa chọn” Với trọng tâm hướng vào nhu cầu và mong muốn của khách hàng, Tập đoàn
Volvo đặt ra mục tiêu vượt lên trên sự mong đợi của khách hàng, thấu hiểu đầy đủ thị
Trang 15trường để cung cấp những sản phẩm chất lượng và an toàn cao nhất cho khách hàng củamình Mục đích cuối cùng của Tập đoàn Volvo là không có bất kỳ tai nạn nào xảy ra khikhách hàng sử dụng những sản phẩm của mình
Để tăng cường lợi thế cạnh tranh, Volvo phục vụ ngày càng chuyên nghiệp, đáng tincậy về bảo hiểm, dịch vụ cho thuê, phụ tùng, linh kiện, bảo trì, các giải pháp và dịch vụkinh doanh khác Đây là cách mà Volvo tạo ra giá trị cho khách hàng và đóng góp vào sựphát triển tích cực của xã hội Phối hợp với khách hàng để phát triển sản phẩm và dịch
vụ, nâng cao năng suất, tính linh hoạt, hiệu quả chi phí và lợi nhuận
B.II.5.2 Cổ đông
“By creating value for our customers, we create value for our shareholders”.
Bằng cách tạo ra giá trị cho khách hàng, Volvo tạo ra giá trị cho cổ đông của mình.
Tập đoàn Volvo luôn phấn đấu hành động một cách có trách nhiệm, tôn trọng những giátrị đóng góp từ các cổ đông của mình và tạo ra giá trị cho họ, dựa trên quan điểm toàncầu, dài hạn, đồng thời không ngừng nâng cao vị thế và giá trị của Tập đoàn
B.II.5.3 Nhân viên
“We work with energy, passion and respect for the individual”
Thành công của Tập đoàn Volvo phần lớn nhờ vào sự tích cực, nhiệt tình và tận tụycủa nhân viên, những người luôn sẵn sàng đóng góp hết mình vào sự phát triển và tươnglai của Tập đoàn Chính vì vậy, xuyên suốt quá trình hoạt động, Volvo luôn đặt ra và tuân
thủ chính sách về tạo ra một môi trường làm việc mà trong đó sự nhiệt huyết, lòng đam
mê và tinh thần tôn trọng cá nhân được thể hiện cao nhất Volvo quan niệm: một nhân
viên có tinh thần trách nhiệm và luôn cống hiến có thể đáng giá bằng 10 nhân viên cónăng lực nhưng không gắn bó với họ Từ đó, trong công tác nhân sự, Volvo luôn chú
trọng việc làm thế nào để thu hút và giữ chân người giỏi Với Volvo, an toàn không chỉ
đơn thuần là một giá trị cốt lõi mà còn có nghĩa là tạo ra một môi trường làm việc an
toàn và lành mạnh cho toàn thể nhân viên – một yếu tố cốt yếu để tạo nên thành côngtrong hoạt động kinh doanh Volvo cam kết sẽ không ngừng thúc đẩy vấn đề an toàn laođộng, quan tâm đến sức khỏe và phúc lợi của nhân viên về mọi khía cạnh thể chất, tinh
thần và quan hệ xã hội, đã được cụ thể hóa trong “Volvo Group Workplace Safety, Health
& Wellbeing Policy” như sau :
Volvo luôn chủ động xây dựng các hướng dẫn an toàn, sức khỏe, phúc lợi và có tráchnhiệm tuân thủ tất cả các văn bản luật có liên quan, các quy tắc, quy định cả thỏa ước
về hợp đồng lao động
Truyền đạt và huấn luyện cho nhân viên về những rủi ro tiềm tàng và việc họ phải làm
để đảm bảo được an toàn theo hướng dẫn của Tập đoàn
Công khai và chủ động hướng nhân viên đến việc thiết kế và cải tiến liên tục cáchướng dẫn, quy trình làm việc và hệ thống hỗ trợ nhằm thúc đẩy phúc lợi vật chất vàtinh thần cho họ
Trang 16 Định hướng cho nhân viên trong xây dựng lối sống hằng ngày giúp tăng cường sứckhoẻ.
B.II.5.4 Xã hội
Chất lượng, an toàn và sự quan tâm đến môi trường đã được Tập đoàn Volvo xácđịnh rõ trong bản tuyên bố sứ mệnh của mình Điều này thể hiện Volvo có một tinh thầntrách nhiệm cao trong việc đóng góp tạo nên chất lượng cuộc sống tốt hơn cho mọi ngườitrong xã hội Công ty là một phần quan trọng của xã hội và việc có một mối quan hệ tốtvới cộng đồng xung quanh sẽ giúp cho sự thành công của kinh doanh trong dàihạn Volvo tin rằng việc thực hiện điều này sẽ không ngừng đóng góp cho cộng đồng nơiVolvo hoạt động Chính vì vậy mà Volvo đã trở thành một đối tác có trách nhiệm, thamgia vào các cuộc đối thoại với người dân và các nhóm có quan điểm, kinh nghiệm vàchuyên môn khác nhau để tiếp thu ý kiến từ họ
B.III Kết luận
Bản tuyên bố sứ mệnh của Volvo đã nêu rõ hoạt động của Tập đoàn sẽ tập trung vàolĩnh vực xe thương mại – mảng kinh doanh truyền thống của Volvo Với tham vọng “trởthành nhà dẫn đạo thế giới về các giải pháp giao thông thương mại”, Volvo đã xác địnhthị trường hoạt động của mình là trên phạm vi toàn cầu, chính vì vậy các quyết định chiếnlược của Volvo sau này đều nhằm mục tiêu thực hiện tham vọng đó
Trong một thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, Volvo xem chất lượng, an toàn
và quan tâm đến môi trường là những giá trị cốt lõi, niềm tin nguyên tắc được chia sẻ bêntrong tổ chức, nhằm thực hiện mục tiêu thách thức “trở thành vị trí số 1 trong sự hài lòngcủa khách hàng”
Với những ý đồ chiến lược của sứ mệnh, Volvo sẽ có những hành động chiến lược đểđạt đến viễn cảnh của mình
B.IV Mục tiêu chiến lược của Volvo giai đoạn từ 2000 đến nay
Trở thành số một trong hình ảnh và sự hài lòng của khách hàng bằng cách hợp tác chặt chẽ với khách hàng trong việc phát triển sản phẩm, thực hiện các cuộc điều tra kháchhàng thường xuyên để tìm hiểu các yêu cầu mới của khách hàng đối với sản phẩm của Volvo
Tăng cường xây dựng thương hiệu Volvo trở thành nhà dẫn đạo trong ngành công nghiệp xe thương mại
Thu hẹp thị phần ở châu Âu và Bắc Mỹ, đồng thời mở rộng thị phần ở châu Á
Mục tiêu đến năm 2020, các dòng xe thương mại của Volvo giảm 15% mức tiêu thụ nhiên liệu so với 2000
Triển khai chương trình VPS (Volvo Production System) hướng tới sự cải tiến, nângcao chất lượng sản phẩm, loại bỏ các hoạt động dư thừa giúp đáp ứng khách hàng nhanhchóng
Trang 17PHẦN C PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI Định nghĩa ngành:
Ngành công nghiệp xe thương mại (commercial vehicles industry) là nhóm các công tycung cấp các loại xe thương mại phục vụ nhu cầu vận chuyển và đi lại
Giới hạn nghiên cứu:
Lĩnh vực nghiên cứu: Ngành công nghiệp xe thương mại (commercial vehiclesindustry)
Mức độ ảnh hưởng của ngành: Ngành công nghiệp xe thương mại là một trong nhữngngành chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tô toàn cầu, nên chúng tôi sẽ tập trungnghiên cứu những thay đổi của môi trường toàn cầu đến ngành công nghiệp xe thươngmại
Thời gian: 2000-2014
C.I Môi trường toàn cầu
C.I.1 Nhu cầu trong ngành công nghiệp xe thương mại
Nhu cầu sử dụng xe thương mại có xu hướng tăng dần:
Trong giai đoạn từ 1999-2012, ngành công nghiệp xe thương mại phát triển khá đồngđều qua các năm, tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2008 –đầu năm 2009 đã làm số lượng xe thương mại trên thế giới giảm mạnh (-21% năm 2009),sau đó có dấu hiệu tăng trở lại trong các năm tiếp theo
Sự dịch chuyển nhu cầu trong ngành công nghiệp xe thương mại:
Theo ACEA, từ 2000-2005, thị trường xe thương mại thế giới chỉ tăng bình quânhàng năm là 2%, trong đó các nước Châu Âu không tăng, Mỹ tăng ít còn các nước Châu
Á tăng 7% và Nam Mỹ tăng 5% Nhu cầu về xe thương mại ở thị trường Tây Âu và Bắc
Mỹ cũng đang có xu hướng giảm dần Nếu như năm 2006, Tây Âu chiếm khoảng 10% vàBắc Mĩ chiếm hơn 50% doanh thu về xe thương mại trên toàn thế giới thì đến năm 2010,con số này đã giảm xuống còn 7 % ở Tây Âu và 32% ở Bắc Mĩ Điều đó cho thấy thịtrường ở các nước phát triển gần như bão hòa về xe thương mại phổ thông
Trong khi đó, sự phân bổ quyền lực trong thị trường xe thương mại trên toàn thế giới
đã thay đổi kể từ năm 2006 Nhu cầu ở thị trường châu Á, đặc biệt là thị trường TrungQuốc, Ấn Độ và ASEAN về lâu dài có tiềm năng lớn do mật độ người/xe còn rất cao
Trang 18so với các nước Châu Âu, Mỹ Đây là khu vực tập trung đông dân cư nhất thế giớinhưng tỉ lệ sử dụng xe còn rất thấp do thu nhập của người dân còn thấp, trung bình trên
100 người/1xe Tuy nhiên, khi chất lượng cuộc sống đang ngày một được cải thiệnnhanh chóng tại các quốc gia này nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, đây quả làmiền đất hứa cho các nhà sản xuất xe biết tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầutại các thị trường này (Xem Bảng 1)
Bảng 1 - Số người trên một xe tại các nước
(Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê của các nước)
Biểu đồ sau thể hiện nhu cầu về xe thương mại ở một số khu vực trên thế giới:
Kết luận:
Khuynh hướng:
Trang 19 Cầu: Trong giai đoạn này, thị trường xe thương mại trên thế giới dự báo sẽ có xuhướng tăng trong những năm tiếp theo về nhu cầu sử dụng.
Ngành công nghiệp xe thương mại đang có sự chuyển hướng mạnh mẽ: thị trườngchâu Âu, châu Mỹ đang có xu hướng bão hòa, còn thị trường xe thương mại ở cácnước Châu Á lại có sự phát triển mạnh mẽ, hiện nay châu Á tiêu thụ gần ½ lượng xethương mại bán ra toàn cầu Đặc biệt, Trung Quốc đã tăng từ 10%-30% trong năm
2010, trở thành quốc gia tiêu thụ xe thương mại lớn nhất thế giới, thay thế vị trí củaMỹ
Cơ hội: Việc nhận thức được các xu hướng gia tăng về nhu cầu tại các thị trường mớinổi sẽ giúp các nhà sản xuất có thể mở rộng thị phần, từ đó giúp làm gia tăng doanh sốbán hàng
C.I.2 Biến động giá dầu thô
Sự tăng vọt của giá dầu:
Trong năm 2007, giá dầu leo thang lên khoảng 100 USD/thùng Giá dầu tăng vọt vànguy cơ cạn kiệt nguồn cung đã làm bùng lên cuộc chiến năng lượng tranh chấp cácgiếng dầu lớn Tháng 7/2008, giá dầu đạt mức cao nhất là 143.68 USD một thùng, điềunày đã đẩy giá khí đốt 4.17 USD một gallon Hầu hết các phân tích đều cho rằng giá dầutăng vì nhu cầu sử dụng tăng mạnh từ Trung Quốc và Ấn Độ, kết hợp với việc giảmnguồn cung từ Nigeria và các giếng dầu của Iraq Tuy nhiên, cung cầu không phải lànguyên nhân duy nhất làm giá dầu tăng cao
Sau khi lập kỷ lục cao trong lịch sử là 143.68 USD/thùng vào năm 2008, giá dầu đãgiảm xuống mức thấp nhất của năm 2009, chỉ 32.70 USD/thùng vào ngày 20/1/2009
Trang 20Việc nhu cầu giảm mạnh do suy thoái kinh tế là nguyên nhân chính khiến giá dầu giảmvào nửa đầu năm 2009 Tuy nhiên, kinh tế hồi phục đã kéo dầu tăng giá trở lại.
Bảng giá dầu thô thế giới từ năm 2000 – 2012
Chiến tranh và lệnh trừng phạt của Châu Âu với Iran:
Iran là nước có nguồn cung dầu mỏ lớn và chỉ xếp sau Saudi Arabia về sản lượng dầuxuất khẩu trong Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Vấn đề chiến tranh ở Irantác động tới tình hình an ninh khu vực Trung Đông - nguồn cung dầu chủ yếu cho thếgiới, vì vậy giá dầu trên thế giới có sự biến động Cụ thể thời gian cuối 2002 đầu 2003,giá dầu đã leo thang khủng khiếp từ 22 USD/thùng lên 35-36 USD vì lo sợ nguy cơnguồn cung của thế giới gián đoạn do chiến tranh
Đe dọa:
Cạnh tranh: Khách hàng ngày càng quan tâm và cân nhắc lựa chọn những dòng xe
hiệu suất năng lượng cao Chính vì vậy, khi giá dầu tăng đã khiến nhiều công ty đứngtrước nguy cơ mất thị phần hay thậm chí phá sản khi không tìm được giải pháp sửdụng hiệu quả năng lượng và cải tiến động cơ tiết kiệm năng lượng Điều này dẫn đếnmột cuộc cạnh tranh mạnh mẽ giữa các công ty nhằm tạo ra các sản phẩm tiết kiệmnhiên liệu hơn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Trang 21C.I.3 Sự cải tiến công nghệ
Áp lực cạnh tranh luôn đẩy các hãng xe phải cải tiến không ngừng để tạo ra những sảnphẩm an toàn, tiết kiệm và hấp dẫn hơn Cho đến nay, kết quả của những cải tiến côngnghệ mới đã trở thành một phần không thể thiếu của những chiếc xe hiện đại và nổi bậtnhất là công nghệ hybrid
Công nghệ hybrid là sự kết hợp tối ưu giữa động cơ đốt trong và động cơ điện trêncùng một chiếc xe Động cơ hybrid có thể lưu trữ và điều tiết năng lượng một cách thôngminh tương ứng với từng trạng thái của cộng cơ, giúp tăng gấp đôi hiệu quả sử dụngnhiên liệu và thân thiện với môi trường Vì thế, công nghệ hybrid có những ưu điểm nổibật như: Tiết kiệm nhiên liệu, lượng khí thải thấp, vận hành mạnh mẽ nhưng vẫn đảm bảochuyển động êm ái cho xe
Từ 2000-2007: sản lượng xe sử dụng công nghệ hybrid ngày càng tăng lên, điển hình
là xe của Toyota Prius và Honda Insight, được thể hiện cụ thể qua biểu đồ bên dưới
Hybrid Vehicle Sales, 1999-2007
Kết luận:
Khuynh hướng:
Từ năm 2001-2010, khi xu hướng giá nhiên liệu và khí thải ngày càng tăng thì cáccông ty trong ngành sẽ ngày càng cho ra đời các sản phẩm mang công nghệ hybrid, nhằmphục vụ cho nhu cầu tiết kiệm nhiên liệu và an toàn với môi trường của khách hàng
Cơ hội:
Cạnh tranh: Giúp các công ty trong ngành có lợi thế sở hữu những công nghệ mới và
tiên tiến hơn chiếm lấy ưu thế so với các đối thủ ngoài ngành và các đối thủ cạnh tranhtiềm tàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Cầu: Động cơ Hidro, động cơ điện, năng lượng mặt trời… đã được phát minh, tuy
sạch nhưng lại rất khó ứng dụng Vì vậy, các công nghệ mới, đặc biệt là xe hybrid làgiải pháp tốt nhất hiện nay của ngành công nghiệp xe thương mại trước các vấn đề vềnhiên liệu và bảo vệ môi trường Chúng làm gia tăng nhu cầu của khách hàng về cácphương tiện có sử dụng công nghệ nhằm tiết kiệm nhiên liệu, từ đó giúp gia tăng đáng
kể doanh số bán hàng của các công ty trong ngành
Cụ thể sự gia tăng về nhu cầu xe hybrid được thể hiện dưới biểu đồ sau:
Trang 22-C.I.4 Vấn đề an toàn trên phương tiện giao thông vận tải
Tai nạn giao thông ngày càng trở thành mối đe dọa lớn của thế giới Theo báo cáo của
tổ chức Y tế thế giới WHO, năm 2000 số người tử vong do tai nạn giao thông lên đến1.26 triệu người Vì vậy, nhu cầu an toàn về giao thông vận tải ngày càng tăng làm chokhách hàng ngày càng chú trọng hơn về tính năng an toàn của các sản phẩm
Biểu đồ sau thể hiện tỷ lệ các sự cố thương tích liên quan đến các nhà sản xuất xe làtương đối cao, chiếm 11% trong những nguyên nhân gây thương tích xảy ra hàng ngày.Điều này đặt ra thách thức lớn cho các nhà sản xuất xe về vấn đề an toàn của xe
Đánh mất thị phần: Việc vận chuyển bằng máy bay, tàu điện … mang lại cho khách
hàng độ an toàn cao với thời gian rất ngắn Việc cải tiến về mức độ an toàn và vậnchuyển với tốc độ cao của những ngành công nghiệp khác đã chiếm mất thị phần vềvận chuyển của ngành công nghiệp xe thương mại
C.I.5 Sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Thủng tầng Ozon:
Tháng 9/2000, tầng Ozon trong bầu khí quyển Trái đất bị thủng ở vùng Nam Cực, là lỗthủng lớn nhất từng quan sát được Diện tích lỗ thủng là 11.4 triệu dặm vuông
Trang 23Lỗ thủng thứ 2 hình thành năm 2003 và bao phủ 11.1 triệu dặm vuông Những lỗthủng tầng Ozon này che phủ toàn bộ phần Nam Cực và đỉnh phía Nam của Nam Mĩ Lượng khí CO2 tăng lên kỉ lục:
Năm 2000-2008: Lượng khí thải CO2 trên thế giới tăng đến 29% trong vòng 8 năm.Lượng khí thải này chủ yếu là do việc sử dụng năng lượng hoá thạch Tổng lượng phátthải khí nhà kính toàn cầu đạt 48 tỷ tấn CO2 tương đương vào 2004
Sự nóng lên của Trái Đất:
Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0.13oC/thập kỷ, gấp gần 2 lần xu thế tăngnhiệt độ của 100 năm qua 11 trong 12 năm gần đây (1995-2006) nằm trong số 12 nămnóng nhất trong chuỗi số liệu kể từ năm 1850, thể hiện qua biểu đồ bên dưới:
Mực nước biển tăng cao:
Năm 1962-2003: lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1.8mm/năm Tổng cộngtrong 100 năm qua, mực nước biển đã tăng 0.31m
Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng với sự nóng lên của khí hậu các đại dươngtoàn cầu (tới độ sâu 3,000m) đã góp phần làm cho mực nước biển dâng cao Dự báo đếncuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2.0 – 4.5oC và mực nước biểntoàn cầu sẽ tăng từ 0.18m – 0.59m
Quy định quốc tế về giảm khí thải:
Nghị định thư Kyoto năm 1997:
Đây là một nghị định liên quan đến Khung chương trình về biến đổi khí hậu mang tầmquốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải trên 5.2% năm 1990 (lưu
ý rằng mức độ cắt giảm đến 2010 phải đạt được thì chỉ tiêu này là khoảng 29%) Mục
tiêu hướng tới việc giảm thiểu các loại khí : Carbon dioxide, methane, nito oxit, lưuhuỳnh hexafluorua, clorofluorocarbon và perflourocarbon Trong khoảng thời gian 2008-
2021, mức trần được qui định cho các nước tham gia cụ thể là 8% mức cắt giảm cho cácnước Châu Âu và 7% cho Hoa Kỳ,6% với Nhật Bản, 0% với Nga trong khi mức hạnngạch cho phép tang của Úc là 8% và 10% đối với Iceland
Tiêu chuẩn Euro của Liên minh châu Âu:
Tiêu chuẩn khí thải Euro là một trong những hệ thống được áp dụng rộng rãi trên thếgiới Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đang áp dụng tiêu chuẩn Euro I hoặc II, một
số nước Đông Nam Á như Singapore đã chuyển sang Euro III
Trang 24Tiêu chuẩn này áp dụng cho các xe trên 4 bánh lắp động cơ đốt trong chạy bằng nhiênliệu xăng, dầu, LPG và chia theo các tính năng như : xe du lịch, xe công suất nhỏ, xecông suất lớn, xe bus.
Các nhà khoa học ước tính mỗi ngày thế giới thiệt hại một tỉ USD do ô nhiễm Khí gây
ô nhiễm là những hợp chất gây hại cho sức khỏe của con người và môi trường trong mộtthời gian dài, bao gồm: cacbon oxit(CO),nito oxit(NOx),hydrocacbon nói chung (HC)
Cạnh tranh: Với tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu ngày một nghiêm trọng và các
tiêu chuẩn về khí thải sẽ ngày càng được quy định một cách nghiêm ngặt buộc các công
ty phải tiến hành cuộc chạy đua về công nghệ để đưa vào thị trường những sản phẩm thânthiện với môi trường hơn
C.I.6 Kết luận chung
Khuynh hướng:
Nhu cầu trong ngành dự báo sẽ có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo
Ngành công nghiệp xe thương mại đang có sự chuyển hướng mạnh mẽ: thị trườngchâu Âu, châu Mỹ đang có xu hướng bão hòa, còn thị trường xe thương mại ở cácnước Châu Á lại có sự phát triển mạnh mẽ
Giá dầu có xu hướng tiếp tục tăng cao
Các công ty trong ngành sẽ ngày càng cho ra đời các sản phẩm mang công nghệhybrid, nhằm phục vụ cho nhu cầu tiết kiệm nhiên liệu và an toàn với môi trường củakhách hàng
Nhu cầu về an toàn ngày càng cao, đồng thời những tiêu chuẩn an toàn của xe ngàycàng được quy định nghiêm ngặt
Biến đổi của khí hậu ngày càng để lại các hậu quả nghiêm trọng bởi sự gia tăng lượngkhí thải, cạn kiệt nhiên liệu …
Cơ hội:
Mở rộng thị phần sang thị trường châu Á
Các công ty có thế mạnh về công nghệ phát triển các dòng xe thương mại tiết kiệmnhiên liệu, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh so với các công ty không làm được điềunày
Gia tăng nhu cầu của khách hàng về các phương tiện có sử dụng công nghệ nhằm tiếtkiệm nhiên liệu và an toàn với môi trường hơn
Đe dọa:
Đánh mất thị phần bởi những ngành khác như ngành vận tải đường không, đường sắt
và đường thủy
Trang 25 Gia tăng sự cạnh tranh giữa các công ty trong cuộc chạy đua về công nghệ để đưa vàothị trường những sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện với môi trường hơn.
Vốn đầu tư của ngành công nghiệp xe thương mại là rất lớn so với vốn đầu tư vào cácđại bộ phận của các ngành công nghiệp khác Các chi tiết, bộ phận lại được sản xuấtvới những công nghệ có đặc điểm khác biệt, chi tiết phụ tùng của loại xe này thường ít
có thể sử dụng chung cho các loại xe khác, do vậy vốn đầu tư cho việc sản xuất các chitiết thường rất cao
Ngành công nghiệp xe thương mại có khả năng sinh lợi lớn nhưng đi kèm với nó là rấtnhiều rủi ro Không những chỉ thu hồi chậm mà còn có thể không thu hồi được nếukhông bắt kịp với thời đại
Một chiếc xe thương mại được hình thành từ rất nhiều chi tiết và có thể lên đến hơn30,000 chi tiết đòi hỏi sự tinh vi cao trong quá trình chế tạo Chính nhờ đặc điểm này
mà ngành công nghiệp xe thương mại đã trở thành khách hàng của rất nhiều ngànhkhác Hơn nữa, giá trị của mỗi đơn vị chi tiết phụ tùng nói riêng và giá trị đơn vị sảnphẩm là rất lớn và đòi hỏi chất lượng cao
Trang 26 Thêm vào đó, do đặc điểm của ngành là không ngừng vận dụng các tiến bộ kỹ thuậtvào sản xuất Vì vậy, chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnhvực xe thương mại cũng chiếm một phần đáng kể trong tổng vốn đầu tư ban đầu vàtăng thêm Chính vì thế khi một hãng trong ngành đầu tư dây chuyền công nghệ mới
sẽ phải tính toán rất kỹ lưỡng chứ không thể đầu tư ồ ạt như các ngành khác
Khuynh hướng diễn ra trong năm 2006-2010:
Vị thế của các công ty trong ngành có sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn 2006-2010.Các công ty hàng đầu trước đây trên thị trường như: GM, Daimler, Ford, Toyota… dầnđánh mất vị thế của mình trên thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh đến từ các thịtrường mới nổi như: Dongfeng, FAW, CNHTC của Trung Quốc hay Tata Motors của ẤnĐộ
C.II.3 Phân tích tính hấp dẫn của ngành
C.II.3.1 Phân tích năm lực lượng cạnh tranh
C.II.3.1.1 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Sự trung thành thương hiệu:
Do quyết định mua xe tiêu tốn một khoản chi phí lớn, nên khách hàng thường cân nhắcrất kĩ trước khi ra quyết định Theo kết quả khảo sát của NADAguides – một tổ chứcchuyên cung cấp các thông tin liên quan đến các dòng tàu, xe, về mức độ tác động củacác nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe hơi hoặc xe tải của khách hàng, thì yếu tốliên quan đến chất lượng, độ tin cậy của xe chiếm vị trí quan trọng hàng đầu với 25.1%
và yếu tố thương hiệu của xe, của nhà sản xuất chiếm vị trí thứ 2 với 10.9%, là 2 yếu tố
có ảnh hưởng nhất đến quyết định mua xe của khách hàng
Trang 27Với sự trung thành nhãn hiệu này thì đây sẽ là một rào cản rất lớn cho các công tychưa tên tuổi muốn gia nhập ngành và tranh giành thị phần với các công ty đầu ngành đã
có tên tuổi và khẳng định được chất lượng và độ tin cậy ở sản phẩm của mình trên thịtrường
Lợi thế chi phí tuyệt đối:
Các công ty hoạt động trong ngành có nhiều lợi thế về chi phí so với những công tymới nhập cuộc Bởi lẽ, ngành công nghiệp xe thương mại cần phải có nguồn lực tài chínhlớn với việc đầu tư vào các máy móc, trang thiết bị cũng như dây chuyền công nghệ lớn
và cần sự đổi mới liên tục Các đối thủ cạnh tranh xuất hiện sau muốn xâm nhập ngànhthì rào cản về chi phí so với các công ty tên tuổi, đã có chỗ đứng trong ngành thật sự rấtlớn và nếu không có chiến lược kinh doanh hợp lý thì bị bài trừ khỏi ngành chỉ là vấn đềthời gian
Tính kinh tế theo quy mô:
Tính kinh tế theo quy mô đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong đó một sự tănglên về số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra.Thực tế, với những kinh nghiệm lâu đời trong kinh doanh cũng như những kế hoạch táobạo cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm và dịch vụ, ngành sản xuất xe thươngmại đòi hỏi rất nhiều nhân công và chi phí Vì vậy, tính kinh tế của quy mô là một rào cảnlớn đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và vượt qua nó thực sự là một điều không hề
Kết luận:
Các công ty hiện có cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm tàng không cho họ gia nhậpngành bằng các rào cản: sự trung thành thương hiệu, lợi thế chi phí tuyệt đối, tính kinh tế
Trang 28theo quy mô và các quy định của chính phủ Do đó, nguy cơ nhập cuộc của các đối thủcạnh tranh tiềm tàng thấp.
C.II.3.1.2 Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Là một ngành tập trung với sự tham gia cạnh tranh của các công ty lớn mạnh
Biểu đồ bên dưới thể hiện các công ty trong ngành và xếp hạng của các công ty nàytheo doanh thu vào năm 2000 Từ biểu đồ ta có thể thấy có rất nhiều các công ty hoạtđộng trong ngành công nghiệp xe thương mại, đồng thời giai đoạn 2002-2012, ngànhtrong giai đoạn bão hòa nên tốc độ tăng trưởng nhu cầu đối với các loại xe chậm Chính
vì thế tạo ra đeo đuổi, giành giật thị phần mạnh mẽ giữa các công ty trong ngành: GM,Ford, Dailmer, Volvo, Scania, Iveco, Volkswagen, Man SE, Hyundai…
Bên cạnh đó rào cản rời ngành là cao giữa các công ty ở lại và cạnh tranh mạnh mẽ đốivới các đối thủ, do dây chuyền sản xuất, các trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, các bằng sángchế… đều có tính chuyên môn hóa cao, rất khó cho công ty nếu chuyển đổi sang mộtngành khác Đồng thời ngành công nghiệp xe thương mại yêu cầu một số lượng nhânviên cao, chi phí để thanh toán cho nhân viên khi rời ngành là rất lớn
Kết luận:
Sự cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành công nghiệp xe thương mại ởmức độ cao do nảy sinh ra một cuộc chạy đua trong việc tìm kiếm công nghệ mới sảnxuất các dòng xe phù hợp với các yêu cầu về chất lượng, độ an toàn và quan trọng hơn làtiết kiệm nhiên liệu.Quá trình này không phải là dễ dàng, đòi hỏi những công nghệ phứctạp và vốn đầu tư cao Chính vì điều này sự cạnh tranh ngày càng trở mạnh mẽ hơn, giảmkhả năng sinh lợi của các công ty trong ngành
C.II.3.1.3 Năng lực thương lượng của người mua
Đặc điểm khách hàng của các công ty trong ngành công nghiệp xe thương mại là cáchãng vận tải và các công ty phân phối trung gian, vì vậy họ thường có nhu cầu với sốlượng lớn Mà đặc điểm về các sản phẩm do các doanh nghiệp trong ngành cung cấpkhông có tính khác biệt hóa cao Đặc biệt, trong điều kiện thị trường bão hòa, tốc độ tăngtrưởng cũng như nhu cầu đều thấp nên xảy ra sự tranh chấp thị phần giữa các công ty
Trang 29trong ngành, vị thế của khách hàng trong lúc này càng được đặt lên cao, họ sẽ đưa ra cácyêu cầu về chiết khấu cao, giá thấp và các dịch vụ tốt hơn…
Kết luận:
Lực đe dọa của năng lực thương lượng người mua lúc này cao, khiến các công ty gặpphải áp lực về chi phí hoạt động, cải tiến liên tục, gia tăng tính năng và giảm giá thànhsản xuất để có thể cung cấp sản phẩm với chất lượng, độ bền, tính năng và giá cả nhưmong muốn của khách hàng, làm gia tăng chi phí và giảm khả năng sinh lợi
C.II.3.1.4 Năng lực thương lượng của nhà cung cấp
Với hơn 1,200 công ty vừa và nhỏ có mặt trên thị trường là những nhà cung cấp các bộphận linh kiện cho việc sản xuất xe thương mại như Autoliv, SKF (cung cấp ổ bi), Haldex, SSAB, Delphi, Johnson Controls, Valeo, Bosch, Tenneco, Sigma, Teleco… trong khingười mua chỉ là một số hãng lớn Đồng thời, không có sự khác biệt giữa các nhà cungcấp với nhau, không tạo ra được tính cạnh tranh cao giữa sản phẩm mà các nhà cung cấpnên sản phẩm mang đến dễ thay thế bởi các hãng khác Thị phần và doanh thu của ngànhchỉ tập trung trong một vài tổ chức lớn nên các nhà cung cấp không có nhiều lợi thếthương lượng với các tổ chức này Bên cạnh đó, các công ty trong ngành với nguồn lựcmạnh mẽ của mình hoàn toàn có khả năng hội nhập ngược về phía nhà cung cấp để tựđáp ứng nhu cầu của mình
Kết luận:
Như vậy, năng lực thương lượng của nhà cung cấp đối với ngành là không lớn nênkhông tạo ra nhiều đe dọa đối với các công ty hoạt động trong ngành Với xu hướng hộinhập ngược của các nhà sản xuất có nguồn vốn lớn mạnh thì mối đe dọa từ năng lựcthương lượng của nhà cung cấp càng giảm đi
C.II.3.1.5 Các sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế cho ngành công nghiệp xe thương mại là tàu thuyền, máy bay, tàulửa, ô tô… Tuy nhiên, nếu vận chuyển bằng tàu thủy thì phải đi bằng đường sông, điềunày rất bất lợi trong việc bảo quản hàng hóa hay có một số khó khăn nhất định về vị tríđịa lý, nhiều khi không thể thỏa mãn được Còn đối với đường hàng không, thì chi phívận chuyển quá lớn làm tăng chi phí sản xuất và hạn chế về khối lượng Do vậy nhu cầucủa khách hàng về vận chuyển hàng hóa bằng xe tải ngày càng cao Năm 2011, 78% hànghoá trên thế giới được vận chuyển bằng các loại xe tải, xe khách, 2% vận chuyển bằngđường sắt, 5% vận chuyển bằng đường biển và 9% vận chuyển bằng đường hàng không
Từ đó cho thấy khi khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa, thì phương tiện đầu tiên
mà họ nghĩ đến chính là xe tải, đường bộ
Trang 30Biểu đồ mức độ vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện sử dụng năng lượng
(2011)
Vì vậy, các loại xe thương mại như xe tải, xe buýt là lựa chọn tiện lợi và hiệu quảnhất cho việc di chuyển với khoảng cách dài hay ngắn với tính linh hoạt, vị trí địa lýthuận tiện, hệ thống đường cao tốc hiện đại, chi phí phù hợp
Kết luận:
Dựa trên các số liệu trong biểu đồ trên, nhu cầu thế giới trong ngành công nghiệp xethương mại sẽ tăng cho nhu cầu vận chuyển Vì vậy, lực đe dọa của sản phẩm thay thế làyếu, cơ hội thị phần lớn do tiêu tốn ít nhiên liệu, việc di chuyển thuận tiện
C.II.3.1.6 KẾT LUẬN:
Các lực lượng cạnh tranh Lực đe dọa
Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng YếuCạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành MạnhNăng lực thương lượng của người mua MạnhNăng lực thương lượng của nhà cung cấp Yếu
Qua những phân tích trên, có thể thấy ngành công nghiệp xe thương mại là một ngành
có tính hấp dẫn ở mức trung bình Tuy mối đe dọa từ sự cạnh tranh của các đối thủ trongngành và từ năng lực thương lượng của người mua là mạnh nhưng so với những lợi thếrất lớn đối với các đối thủ tiềm tàng, với nhà cung cấp và các sản phẩm thay thế thì ngànhvẫn có thể đạt được mức sinh lợi cao hơn so với trung bình các ngành hiện nay
C.II.3.2 CHU KỲ NGÀNH
Biểu đồ thể hiện lượng cung và cầu về xe thương mại (commercial vehicle) giai đoạn
1991-2010 (Đơn vị: nghìn chiếc)
Trang 31Nhìn vào biểu đồ ta thấy lượng cung - cầu xe thương mại từ năm 1991 đến 2000 tăngtrưởng một cách ổn định, cung và cầu xấp xỉ ngang nhau Năm 1994, sản lượng sản xuấtnăm 1992 tăng 1% so với 1991 Giai đoạn này, sự phục hồi nền kinh tế Mỹ sau khủnghoảng cuối thập niên 90 đã có tác động lớn đối với các nền kinh các khu vực, lượng cầutiếp tục tăng lên đến năm 1995 và các nhà sản xuất xe thương mại vẫn chưa đáp ứngđược tốc độ tăng trưởng này Từ năm 1996 trở đi, lượng cung xe tải tiếp tục tăng và đápứng vượt trên mức cầu Tuy nhiên, lượng chênh lệch cung-cầu giai đoạn 1991-2000không đang kể, dao động trong khoảng (+/-) 5%.
Từ những phân tích trên có thể rút ra vào thời điểm năm 2000, ngành đang ở trong
giai đoạn tái tổ chức.
Xu hướng giai đoạn 2000-2012:
Đến năm 2000, thế giới đã có nhiều nhà sản xuất xe thương mại, trong đó các công tynhư GM, Daimler, Paccar, Man, Iveco… chiếm thị phần chủ yếu Các nhà sản xuất khôngngừng gia tăng sản lượng để đáp ứng với lượng tăng của nhu cầu
Giai đoạn này chứng kiến nền kinh tế toàn cầu dần dịch chuyển về các khu vực đangphát triển, đặc biệt khu vực châu Á với sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc, theo đó,các nhà sản xuất xe mới nổi của Trung Quốc như Dongfeng, FAW, CNHTC… đang vươnlên vị thế dẫn đầu Chính vì vậy, lượng cung đang có xu hướng vượt cầu, ngành dần bướcvào giai đoạn bão hòa
Kết luận:
Những dấu hiệu trên cho thấy ngành công nghiệp xe thương mại trên thế giới nóichung và ở Thụy Điển nói riêng đang ở giai đoạn tái tổ chức, bởi đặc điểm của giai đoạnnày là:
Tăng trưởng chậm lại
Giá giảm do các cuộc chiến tranh giá
Ganh đua giữa các công ty trong ngành trở nên mãnh liệt
Rào cản gia nhập ngành cao
Đe dọa:
Tăng trưởng chậm
Sức ép phải giảm chi phí để giảm giá bán
Trang 32Dư thừa năng lực sản xuất cùng với sự cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi trình độ quản lí và chiến lược dài hạn hiệu quả.
C.II.3.3 Nhóm chiến lược
Nhóm chiến lược bao gồm các đối thủ cạnh tranh có các điều kiện và cách tiếp cậncạnh tranh tương tự nhau trên thị trường Các công ty trong cùng một nhóm chiến lượcthường có vị trí thị trường tương tự nhau và cùng nhau theo đuổi các chiến lược chủ yếugiống nhau Các công ty trong ngành sản xuất xe thương mại tạo ra sự khác biệt bằng cácyếu tố:
Dòng sản phẩm
Đòi hỏi giá
Công nghệ mới của sản phẩm
Kênh phân phối
Quy mô công ty
Phạm vi hoạt động
Qua nghiên cứu đặc điểm và điều kiện thực tế trong ngành công nghiệp xe thươngmại, nhóm chiến lược có thể phân loại bởi hai tiêu chí chính sau đây :
Dòng sản phẩm
Đòi hỏi giá
Dựa vào hai tiêu chí trên, ta có thể chia ngành công nghiệp xe thương mại thành hainhóm chiến lược:
Trang 33 Nhóm 1: Bao gồm các công ty: Volvo, Daimler AG, Scania, Paccar Đây là nhóm cáccông ty tập trung vào những dòng xe tải hạng nặng Các công ty này định giá cao chocác sản phẩm thuộc dòng xe tải hặng nặng.
Nhóm 2: Các công ty hướng tới giá thấp và tập trung vào dòng xe tải hạng nhẹ : Tata,Isuzu, Tata
C.II.3.4 Động thái của các đối thủ cạnh tranh
Hoạt động với vai trò là một doanh nghiệp toàn cầu, vì vậy cạnh tranh là điều khôngthể tránh khỏi Với Volvo điều đó càng khốc liệt hơn khi mà tiềm lực của đối thủ của họhiện đang ngang ngửa họ Muốn cho “guồng máy” Volvo hoạt động tốt thì cần phải theodõi sát sao các động thái của đối thủ để có các biện pháp đối phó kịp thời Sau đây làđộng thái của mọt số đối thủ nặng kí trên thương trường của Volvo:
1 Daimler AG
Daimler được thành thành lập năm 1886, đây là một trong những công ty sản xuất xethương mại hàng đầu thế giới Daimler là một trong các đối thủ cạnh tranh hàng đầu củaVolvo và nhiều công ty trong ngành này Mục đích chính của công ty này là sản xuất ranhững dòng xe chất lượng cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của kháchhàng
2 Scania
Scania được thành lập năm 1891 Là một nhà sản xuất hàng đầu thế giới trong phânkhúc xe tải và xe buýt Scania có sự hiện diện tại hơn 100 quốc gia, có hơn 37,000 nhânviên Đây là công ty cạnh tranh trực tiếp với Volvo tại sân nhà Thuỵ Điển
3 Paccar
Tập đoàn Paccar được thành lập năm 1905, là nhà sản xuất xe tải và xe đầu kéo, có thịtrường trọng điểm là Bắc Mỹ, Châu Âu, Australia và Nam Mỹ Paccar có sự hiện diện ởhơn 100 quốc gia trên toàn thế giới và đang mở rộng thị trường sang châu Á Mục đíchchính của Tập đoàn là tạo ra những sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu và ít gây ô nhiễm môitrường
C.II.3.5 KẾT LUẬN VỀ TÍNH HẤP DẪN CỦA NGÀNH
Qua việc phân tích về năm lực lượng cạnh tranh, nhóm chiến lược và chu kì ngànhtrong giai đoạn 2000-2012 nhóm có thể rút ra một số kết luận như sau:
Cơ hội và các khuynh hướng:
Ngành công nghiệp xe thương mại hiên nay đang ở giai đoạn tái tổ chức Với các đặcđiểm của giai đoạn này thì các công ty có cơ hội dự đoán nhu cầu về xe thương mại trongtương lai thông qua mức tăng trưởng trong quá khứ và lập kế hoạch sản xuất một cáchthích ứng
Ngành công nghiệp xe thương mại là ngành có tính sinh lợi rất cao, tuy nhiên, rào cảnnhập ngành quá lớn khiến nó trở nên kém hấp dẫn đối với các doanh nghiệp ngoài ngành,tránh được các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Đe dọa và các khuynh hướng:
Trang 34Cạnh tranh trong ngành là rất cao, thể hiện qua các cuộc cạnh tranh gay gắt của cáccông ty sản xuất xe thương mại trên thế giới Mặc dù rào cản nhập cuộc cao, nguy cơ từcác đối thủ cạnh tranh tiềm tàng không nhiều, đe dọa từ sản phẩm thay thế cũng thấpnhưng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng nhóm chiến lược, và các doanhnghiệp trong các nhóm chiến lược khác nhau diễn ra rất mạnh mẽ Điều này dẫn đến mối
đe dọa cho cuộc chiến tranh về giá, sẽ khiến các công ty xe thương mại hoạt động kémhiệu quả phải phá sản
Rào cản rời ngành cao cũng là đe dọa gây áp lực cho các công ty trong ngành vì họphải hoạt động thực sự hiệu quả, nếu không sẽ bị thua lỗ và rất khó để chuyển đổi sangngành khác
Ngành công nghiệp xe thương mại đang trong giai đoạn tái tổ chức Sự mua lại, liênminh, sáp nhập diễn ra sôi nỗi, tạo ra sự đe dọa cho các công ty nhỏ trong ngành, khó có
cơ hội vươn lên
C.II.4 Các nhân tố then chốt cho thành công trong ngành
C.II.4.1 Tiên phong trong công nghệ
Đây là một nhân tố quan trọng hàng đầu trong những nhân tố then chốt cho sự thànhcông trong ngành xe thương mại Để duy trì sự phát triển mạnh mẽ, khả năng cạnh tranhbền vững và tăng trưởng lợi nhuận thì các công ty trong ngành phải không ngừng cải tiến
về công nghệ để cho ra đời những sản phẩm mới đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng và
sự phát triển của thế giới Đặc biệt trong môi trường toàn cầu ngày càng có nhiều chínhsách và quy định chặt chẽ về việc sử dụng năng lượng hóa thạch, giảm khí thải, tăngcường sử dụng các năng lượng thay thế, thì tiên phong trong công nghệ càng trở thànhnhân tố quan trọng của các công ty Các công ty cần đầu tư lớn vào chi phí R&D vàkhông ngừng nỗ lực cải tiến để cho ra đời những sản phẩm với hiệu suất cao, tiết kiệmnăng lượng, những động cơ trung lập khí CO2, thân thiện môi trường
Tiên phong trong công nghệ giúp các công ty tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể, giúpduy trì và phát triển thị phần, thu được lợi nhuận cao trên những phát minh mới, khẳngđịnh giá trị thương hiệu
C.II.4.2 An toàn
An toàn là một trong những yếu tố quan trọng khi khách hàng lựa chọn mua một chiếc
xe Vì vậy, để thành công các công ty trong ngành phải chú trọng đến nhân tố an toàntrong từng sản phẩm, phải đặt mình ở vai trò là khách hàng để thấu hiểu đầy đủ thị trườngnhằm cung cấp những sản phẩm an toàn cao nhất, thỏa mãn tối đa cho sự hài lòng củakhách hàng Từ đó khách hàng có thể tin tưởng, an tâm khi sử dụng các sản phẩm củamình Điều này giúp các công ty có vị thế trên thị trường, chiếm được thị phần và giữđược lòng trung thành của khách hàng
An toàn cũng chính là yếu tố thể hiện trách nhiệm xã hội của các công ty trong ngành,giúp công ty phát triển bền vững và lâu dài trong tương lai
Trang 35C.II.4.3 Chính sách hậu mãi
Chính sách hậu mãi là một nhân tố quan trọng của ngành xe thương mại Cùng với sựphát triển của khoa học công nghệ, sản phẩm xe chất lượng cao trên thị trường ngày càngnhiều Nhưng thực tế cho thấy sản phẩm dù có được sản xuất từ công nghệ hiện đại đếnmấy nhằm hướng tới sự hoàn hảo, cũng vẫn xảy ra những trục trặc kỹ thuật, thậm chíkhông phải cho một vài mà cho hàng triệu sản phẩm Điển hình là vào năm 2000,Firestone đã thu hồi 6.5 triệu lốp xe Firestone trong một vụ sản xuất sản phẩm lỗi Vì vậy
để tránh rủi ro, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến việc lựa chọn mua hàng ở nhữngnhà phân phối có chế độ hậu mãi tốt Từ việc hướng dẫn sử dụng có tận tình không?Thực hiện chế độ bảo hành có nghiêm chỉnh không? Bảo dưỡng, sửa chữa có thuận tiệnkhông? Phụ tùng thay thế có sẵn không? Trong điều kiện chất lượng, giá cả tương đươngnhau, nhà cung ứng nào đáp ứng được những câu hỏi trên của người tiêu dùng thì sẽgiành được khách hàng Chính vì vậy dịch vụ hậu mãi tưởng chừng chỉ liên quan đến lợiích của người tiêu dùng, nhưng thực ra đây là cách nhìn xa của nhà kinh doanh có bề dàykinh nghiệm nhằm giữ chân khách hàng Đối với người tiêu dùng đây là một biểu hiệnvăn minh thương mại, hành động có trách nhiệm của người bán đối với người mua, vìvậy chiếm được thiện cảm và lòng tin của khách hàng, cuối cùng nhà kinh doanh cũngđem lại lợi ích cho chính mình từ việc giữ chân được khách hàng cũ và thu hút đượckhách hàng mới Ngoài ra, nên đáp ứng đủ nhu cầu về sau bán hàng ở tất cả các thịtrường lớn, xây dựng và thiết lập mạng lưới bảo trì, sửa chữa, bảo hành ở tất cả các thịtrường quan trọng, sẽ giúp cho ngành xe thương mại giữ vững được thị phần
C.II.4.4 Mạng lưới phân phối
Một yếu tố thành công quan trọng cho bất kỳ công ty sản xuất nào hoạt động trongngành công nghiệp sản xuất xe thương mại là thiết lập được một mạng lưới phân phốitoàn cầu Với đặc thù của ngành xe thương mại là kích thước và giá trị sản phẩm lớn nênviệc thiết lập các đại lý, nhượng quyền phân phối, xây dựng các showroom càng trở nênquan trọng để sản phẩm của công ty có thể đến được với hàng một cách dễ dàng
Các công ty trong ngành hiện nay không ngừng thực hiện chiến lược mở rộng kênhphân phối trên thị trường quốc tế, cạnh tranh, giành giật thị trường với công ty đối thủ để
có vị thế đứng trên toàn cầu
Mạng lưới phân phối rộng lớn giúp công ty phát triển bền vững, đương đầu được vớinhững khó khăn của nền kinh tế, chiếm lĩnh thị trường và ngày càng khẳng định được vịthế của thương hiệu
C.II.5 Các lực lượng dẫn dắt sự thay đổi trong ngành
C.II.5.1 Cải tiến sản phẩm, thay đổi công nghệ
Cải tiến là nguồn lực vô tận tạo ra những biến đổi Ngành công nghiệp xe thương mại
là ngành ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao nên sự cải tiến sản phẩm liên tục với chiphí thấp sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công ty cũng như tạo ra bước ngoặc mới trongngành Với những vấn đề toàn cầu như kiểm soát khí thải và cạn kiệt nguồn nhiên liệu
Trang 36hóa thạch Các nhà sản xuất xe thương mại đang dịch chuyển công nghệ từ sử dụng cácnhiên liệu truyền thống sang sử dụng các nhiên liệu sạch hơn và hiệu quả hơn Các động
cơ sử dụng nhiên liệu dầu diesel sinh học, hybrid, điện và ethanol đang dần dần đượcthay thế động cơ chạy bằng xăng Để tồn tại và tiếp tục tăng trưởng trong điều kiện nàythì xu hướng chung của ngành là phải chuyển đổi dần những thiết kế của nó từ chỗ động
cơ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang các loại động cơ ứng dụng công nghệ hybrid, pinđiện (battery electric) hoặc công nghệ nhiên liệu tế bào điện (fuel cell electrictechnology)
C.II.5.2 Những thay đổi về quy định và chính sách
Ngành công nghiệp xe thương mại là ngành mà các công ty luôn phải hoạt động dưới
sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ sở tại cũng như các tổ chức liên minh Bởi đây
là một ngành có ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề về môi trường và cuộc sống của ngườidân
Hiện nay, ngành công nghiệp xe thương mại đang trải qua một sự thay đổi cơ bản do
sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng đối với các loại xe có một lượng khí thải carbon thấp Hơnnữa, Chính phủ các nước cũng đang đưa ra các quy định ngày càng nghiêm ngặt hơn vềmôi trường trong việc kiểm soát khí thải và tiết kiệm nhiên liệu Kết quả là, các công tytrong ngành đang bị thách thức buộc phải nghiên cứu và phát triển các dòng xe phù hợpvới các tiêu chuẩn cao hơn, điều này dự kiến sẽ làm tăng thêm chi phí sản xuất
Trên thế giới các cơ quan quản lý đã đưa ra các tiêu chuẩn về giảm khí thải gồm cáctiêu chuẩn giới hạn khí thải của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ EPA năm 1990, tiêuchuẩn Euro trong Liên minh châu Âu năm 1992 và tiêu chuẩn JP của Nhật Bản năm1990
Tại Thụy Điển, hàng loạt các chính sách và dự án về môi trường và an toàn đã đượcchính phủ Thụy Điển triển khai trong thời gian qua và yêu cầu các công ty trong ngànhphải thực hiện Đó là:
Dự án “Vision Zero” về an toàn giao thông đường bộ năm 1997 yêu cầu các nhà sảnxuất phương tiện giao thông tuân thủ thực hành tốt nhất trong khâu thiết kế xe để thựchiện dự án
Bổ nhiệm ủy ban để xây dựng một chương trình toàn diện năm 2001, với mục tiêu làmgiảm sự phụ thuộc của Thụy Điển vào các nguồn nguyên - nhiên liệu
Trang 37PHẦN D PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG D.I Phân tích quản trị chiến lược
D.I.1 Các chiến lược hiện tại
D.I.1.1 Chiến lược phát triển công ty
D.I.1.1.1 Lĩnh vực kinh doanh
Trong giai đoạn 2002-2012, Volvo đang tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh
là giao thông thương mại (Commercial Transports), bao gồm các dòng sản phẩm
xe tải (Volvo Trucks), xe buýt (Volvo Buses) và thiết bị xây dựng (VolvoConstruction Equipment)
Ngoài ra, Volvo cũng đang kinh doanh lĩnh vực thiết bị công nghiệp và hàng hải(Volvo Penta), thiết bị hàng không vũ trụ (Volvo Aero), và lĩnh vực tài chính(Customer Finance) nhưng chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng cơ cấu doanhthu
Trang 38Bảng doanh thu theo lĩnh vực kinh doanh của Volvo giai đoạn 2002 – 2012: (Đơn vị tính: SEK M)
Commercial
Transport 153,799 152,101 178,961 206,801 230,667 258,133 276,626 193,063 241,631 284,243 286,136
Trucks 118,752 116,969 136,879 155,396 171,265 187,892 203,235 138,940 167,305 198,920 202,283Buses 14,035 11,978 12,722 16,589 17,271 16,608 17,312 18,465 20,516 21,823 20,295Construction
Trang 39Bảng ma trận thu nhập của Volvo trong giai đoạn 2002 – 2012: (Đơn vị tính: Triệu SEK)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Commercial Transport 1,501 4,069 11,048 14,939 17,933 19,642 13,899 (15,160) 17,072 26,153 26,038
(loss) Volvo Group 2,837 2,504 14,679 18,153 20,399 22,231 15,852 (17,014) 18,001 26,899 27,621
Tỷ trọng doanh thu theo lĩnh vực kinh doanh của Volvo giai đoạn 2002 – 2012: (Đơn vị tính: %)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Commercial Transport 82.60% 82.98% 84.79% 85.97% 89.12% 90.44% 91.10% 88.41% 91.27% 91.58% 91.23%
Trucks 63.78% 63.82% 64.85% 64.60% 66.17% 65.83% 66.93% 63.63% 63.19% 64.09% 64.49%
Construction Equipment 11.28% 12.63% 13.91% 14.47% 16.28% 18.79% 18.47% 16.33% 20.32% 20.46% 20.26%
Volvo Penta 4.12% 4.14% 4.29% 4.06% 4.16% 4.11% 3.76% 3.74% 3.29% 2.73% 2.43% Volvo Aero 4.75% 4.38% 3.28% 3.13% 3.18% 2.68% 2.45% 3.57% 2.91% 2.05% 1.66% Customer Finance 5.33% 4.99% 4.54% 3.14% 2.95% 2.70% 2.79% 5.36% 3.41% 2.86% 3.12% Other 3.21% 3.50% 3.10% 3.70% 0.58% 0.07% -0.11% -1.09% -0.88% 0.78% 1.56% Total 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100%
Trang 40Biểu đồ thể hiện doanh thu theo từng lĩnh vực kinh doanh giai đoạn 2002 – 2012:
Penta Commercial Transports
Trên đây là bảng số liệu về doanh thu của các lĩnh vực kinh doanh của Volvo trong giaiđoạn 2002-2012, Volvo không có sự thay đổi nào trong lĩnh vực kinh doanh và tập trungchủ yếu các nguồn lực vào lĩnh vực giao thông thương mại, doanh thu của lĩnh vực nàyđạt 286,136 triệu SEK vào năm 2012, tăng 86% so với năm 2002 chỉ đạt 153,799 triệuSEK, tỷ trọng của lĩnh vực này luôn chiếm trên 80% tổng doanh thu của Tập đoàn
Tập đoàn Volvo đang tập trung vào lĩnh vực kinh doanh đơn lẻ là giao thông thương mại, các hành động chiến lược thể hiện điều này:
Năm 2004, Volvo đạt được thỏa thuận mua lại nhà máy sản xuất xe buýt Prévost CarInc- một trong những nhà sản xuất xe buýt hàng đầu ở Bắc Mỹ Việc mua lại này đã đãgiúp Volvo tận dụng lợi thế theo quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động trong việc sản xuất
xe buýt của Volvo ở Bắc Mỹ
Liên doanh:
Volvo đã tăng cường hoạt động của Tập đoàn ở châu Á hơn bằng cách liên doanh vớihàng loạt các công ty tại các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Ấn Độ Năm 2003,Volvo Trucks đã ký một thỏa thuận liên doanh với China National Heavy Truck