Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc, Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 12 có chọn lọc
Trang 1ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - THPT
Thời gian: 180 phút, không kể thời gian giao đề
Câu 1 (3 điểm):
Pythagos từng nói: “Im lặng là cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan Ai không biết im
lặng là không biết nói” Còn Martin Luther King Jr lại phát biểu: “Cuộc sống chúng
ta bắt đầu chấm dứt ngay trong cái ngày mà chúng ta giữ im lặng trước những vấn
đề hệ trọng”
Từ hai ý kiến trên, anh (chị) hãy viết một bài luận bàn về vấn đề cần im lặng hay lên
tiếng trong cách xử thế của con người trong cuộc sống
Câu 2 (7 điểm):
Đánh giá về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có ý kiến cho rằng:
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 2“Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng được những yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển cách mạng.”
(SGK Ngữ văn, Ban cơ bản, NXB giáo dục Việt Nam, 2010, trang 14) Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích
các tác phẩm “Tây Tiến” (Quang Dũng), “Việt Bắc” (Tố Hữu) và “Đất nước” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)
- HẾT -
(Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ tên học sinh……… ……… Số báo danh…………
A YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo cần nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của
đề, diễn đạt tốt vẫn cho điểm tối đa
- Điểm bài thi làm tròn đến 0,25 điểm
Thời gian: 180 phút, không kể thời gian giao đề
(Đáp án gồm 05 trang)
Trang 3b.Về kiến thức:
- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1 Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề (0,25 điểm)
2 Giải thích hai ý kiến (1,0 điểm)
* Giải thích câu nói: “Im lặng là cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan Ai
không biết im lặng là không biết nói”
- Im lặng là không nên nói trong những lúc không cần thiết vì lời nói đó có
thể đem lại tai hoạ cho bản thân hoặc làm tổn hại đến người khác
- Câu nói đề cao giá trị của sự im lặng, xem im lặng là cách xử thế khôn
ngoan nhất của con người trong cuộc sống Từ nền tảng của sự im lặng khôn
ngoan đó, con người sẽ biết nên nói lúc nào và nói những gì
0,25
0,25
* Giải thích câu nói: “Cuộc sống chúng ta bắt đầu chấm dứt ngay trong cái
ngày mà chúng ta giữ im lặng trước những vấn đề hệ trọng”
- Lên tiếng là bày tỏ chính kiến của bản thân truớc những vấn đề quan trọng
của cuộc sống, là tiếng nói của chân lí, của lẽ phải, của tình yêu đối với con
người và cuộc sống
- Câu nói của Martin Luther King Jr nói về tác hại của sự im lặng trước
những vấn đề hệ trọng Từ đó mong muốn con người cần phải lên tiếng
trước những vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, đời sống
con người, liên quan đến cuộc sống gia đình, bản thân
0,25
0,25
3 Bình luận, chứng minh (1,0 điểm)
* Từ câu nói của Pythagos, luận bàn về giá trị của sự im lặng:
- Im lặng là một cách xử thế khôn ngoan vì:
+ Im lặng để giữ bí mật cho quốc gia, cho công việc, cho một ai đó
+ Im lặng để lắng nghe người khác, để học hỏi, để thể hiện sự tôn trọng
+ Im lặng thể hiện sự điềm tĩnh, suy nghĩ chín chắn, nhận thức bản thân,
cuộc sống trước khi nói hay hành động
+ Im lặng để giữ hoà khí trong những xung đột, va chạm
+ Im lặng còn là một cách thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối trước một
vấn đề nào đó
+ Im lặng để đồng cảm sẻ chia với những nỗi đau của người khác
+ Im lặng để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống quanh mình, để di dưỡng tâm
hồn
0,5
* Từ câu nói của Martin Luther King Jr luận về giá trị của việc lên tiếng
trước những vấn đề hệ trọng:
- Lên tiếng trước những vấn đề hệ trọng là một cách sống đẹp vì:
+ Lên tiếng để khẳng định giá trị, khẳng định bản lĩnh, thể hiện sự chủ động
tự tin của bản thân, bày tỏ nguyện vọng, mơ ước của mình
+ Lên tiếng để đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu, cái bạo ngược chà đạp lên
cuộc sống của con người
+ Lên tiếng để bênh vực cho cái tốt, cái yếu bị chà đạp
0,5
Trang 4+ Lên tiếng để bày tỏ tình yêu thương, động viên, chia sẻ, giúp đỡ người
khác
+ Lên tiếng để mang niềm vui, tiếng cười cho cuộc đời
4 Mở rộng, nâng cao vấn đề (0,5 điểm)
- Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau: Con người cần phải vận
dụng linh hoạt để “im lặng” hay “lên tiếng” trước những hoàn cảnh cụ thể
trong cuộc sống
- Cần hiểu và phân biệt im lặng khác với sự nhu nhược, vô tâm, thờ ơ, vì đó
không phải là “cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan” Cần hiểu sự lên tiếng
xuất phát từ thiện ý tốt đẹp của bản thân, lên tiếng đúng nơi, đúng lúc, đúng
thời điểm và lời nói phải đi kèm với hành động
- Biết cách phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b Về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1 Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề (0,5 điểm)
2 Giải thích nhận định (1,5 điểm)
- Khuynh hướng sử thi: Văn học đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử
và có tính chất toàn dân tộc Nhân vật chính thường là những con người đại
diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc, tiêu biểu cho
lí tưởng của cộng đồng hơn là lợi ích và khát vọng của cá nhân Con người
chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽ
sống lớn và tình cảm lớn Lời văn sử thi cũng thường mang giọng điệu ngợi
ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng
- Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc
và hướng tới lí tưởng Cảm hứng lãng mạn trong văn học từ năm 1945 đến
năm 1975 chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng
của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng
cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
→ Ý kiến đã khẳng định: Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng
mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời
đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động
và phát triển cách mạng Tất cả yếu tố trên hòa hợp với nhau, tạo nên đặc
0,5
0,5
0,5
Trang 5điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 và giúp văn
học thời kì này thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ mà lịch sử, thời đại đặt ra
3 Phân tích, chứng minh (4,0 điểm)
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
- Quang Dũng, Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm là những tác giả tiêu biểu của
văn học giai đoạn 1945 – 1975
- “Tây Tiến”, “Việt Bắc”, “Đất nước” (trích “Mặt đường khát vọng”) là ba
tác phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
0,5
* Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học 1945 – 1975
thấm nhuần tinh thần lạc quan:
- Hiện thực kháng chiến chồng chất khó khăn, gian khổ: thiếu thốn về vật
chất; chịu nhiều mất mát, hy sinh…
- Con người vẫn tràn đầy mơ ước, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân
tộc: lạc quan, lãng mạn, dí dỏm, yêu đời; xác định lí tưởng sống cao đẹp; tin
tưởng vào sức mạnh, chiến thắng của dân tộc và khát vọng xây dựng đất
nước hòa bình, tươi đẹp…
1,0
* Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học 1945 – 1975
đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và
phát triển của cách mạng:
- Phán ánh được những vấn đề sống còn của dân tộc, những bức tranh hiện
thực rộng lớn: cả ba bài thơ đều tập trung thể hiện hình tượng Tổ quốc; phản
ánh quá trình vận động cách mạng đi từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến
cuộc kháng chiến chống Mĩ – cả dân tộc không chịu áp bức, nô lệ, chiến đấu
hy sinh giành độc lập tự do cho đất nước
- Thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn: lòng yêu nước, tình cảm cách mạng, tình
quân dân, tình đồng chí đồng đội…
- Viết về những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và
ý chí của cả dân tộc; tiêu biểu cho lí tưởng của cả cộng đồng: người lính,
người cán bộ cách mạng, quần chúng cách mạng, trong đó đặc biệt đề cao thế
hệ trẻ với trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc…
1,5
* Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tạo nên giọng điệu ngợi ca,
trang trọng, tráng lệ, hào hùng: thể hiện qua cách sử dụng hình ảnh, ngôn
ngữ, các thủ pháp nghệ thuật (đối lập, cường điệu…)…
* Lưu ý: Học sinh lựa chọn dẫn chứng phù hợp trong ba tác phẩm: “Tây
Tiến”, “Việt Bắc”, “Đất nước” – trích trường ca “Mặt đường khát vọng”,
phân tích để làm sáng tỏ những luận điểm trên
1,0
4 Đánh giá chung (1,0 điểm)
- Lí giải nguyên nhân khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trở thành
đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn 1945 – 1975: Văn học giai đoạn này
tồn tại và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong một hoàn cảnh lịch sử
đặc biệt – cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt 30
năm Không khí cách mạng và kháng chiến đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần
0,25
Trang 6công dân, tinh thần chiến sĩ của người cầm bút
- Khuynh hướng sử thi đòi hỏi người cầm bút cần nhìn con người và cuộc đời
không chỉ bằng con mắt của cá nhân mình mà chủ yếu là bằng con mắt có
tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời đại
- Người đọc cần đặt giai đoạn văn học này vào hoàn cảnh ra đời để đánh giá
đúng vai trò, giá trị của nó trong lịch sử văn học dân tộc
- Tuy nhiên khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cũng dẫn đến những
hạn chế nhất định của văn học giai đoạn này như cái nhìn một chiều và một
số tác phẩm thiếu tính nghệ thuật, thiên về sự minh họa giản đơn…
0,25
0,25 0,25
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc, Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?
(Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học 2000,
tr.289) Đọc bài thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:
a Chỉ ra những âm thanh được Lưu Trọng Lư cảm nhận trong bài thơ và nhận xét về những âm thanh ấy
b.Nêu ý nghĩa của hình thức câu hỏi và điệp ngữ “em không nghe” được sử dụng
trong bài thơ
Trang 7c Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về bức tranh thu trong bốn dòng thơ cuối
Câu 2 (6,0 điểm):
NHỮNG VẾT ĐINH
Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ” Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất
cả 37 cái đinh lên hàng rào Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào Đến một ngày, cậu bé đã không nổi giận một lần nào trong suốt cả ngày Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra khỏi hàng rào” Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cây đinh nào trên hàng rào nữa Cha cậu liền đến bên hàng rào Ở
đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi ”
không đội trời chung Ý kiến khác lại nhấn mạnh: Họ là những tấm lòng tri âm, tri kỷ
đã tìm thấy nhau trong cuộc đời
Bằng những hiểu biết về hai nhân vật, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên
-HẾT -
(Thí sinh không sử dụng tài liệu Giám thị không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:……… Số báo danh………
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH THPT
HƯNG YÊN MÔN NGỮ VĂN - NĂM HỌC 2014 –
2015
HƯỚNG DẪN CHẤM
(Gồm 03 trang)
Câu 1: (4,0 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng: Biết đọc hiểu một văn bản thơ trữ tình với kỹ năng phát hiện
những chi tiết, cách thức biểu đạt để nắm bắt tinh thần và vẻ đẹp của bài thơ
2 Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
Trang 8a - Chỉ ra những âm thanh được tác giả cảm nhận trong bài thơ:
+ Tiếng mùa thu thổn thức trong đêm trăng mờ
+ Tiếng lòng rạo rực của người cô phụ khi nhớ đến người chồng đi chinh
chiến
+ Tiếng lá khô rơi xào xạc nơi rừng xa
- Nhận xét về những âm thanh:
Những âm thanh mơ hồ, mong manh, xa vắng, hư thực Thực chất, đó là
những xao động nhẹ nhàng, tinh tế của đất trời và lòng người lúc sang thu
0,5 điểm
0,5 điểm
b.Ý nghĩa của hình thức câu hỏi và điệp ngữ "em không nghe”:
- Tạo nên sự liền mạch, liên kết giữa các khổ thơ và âm điệu nhẹ nhàng, triền
miên, da diết của bài thơ
- Nhấn mạnh sự mơ hồ, khó nắm bắt của những âm thanh mùa thu
0,5 điểm 0,5 điểm
c Cảm nhận bức tranh mùa thu:
- Bức tranh thu mênh mông, thơ mộng, êm đềm, trong trẻo, im vắng, mang
đậm nét đặc trưng của mùa thu
- Bức tranh có hình ảnh, sắc màu, âm thanh, chuyển động, giàu chất nhạc,
chất họa, chất thơ
- Bức tranh được cảm nhận bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và trí tưởng
tượng bay bổng
1,0 điểm 0,5 điểm 0,5 điểm
* Lưu ý: Nếu thí sinh có cách cảm nhận khác nhưng phù hợp thì vẫn cho
điểm
Câu 2: (6,0 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng: Biết làm một bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí được gửi
gắm trong một mẩu chuyện với các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận Diễn đạt tốt, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp và chính tả; dẫn chứng sinh động
2 Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
- Có thể có nhiều cách trình bày nhưng bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản trong Hướng dẫn chấm
- Những bài làm có hướng đi khác nhưng phù hợp, thuyết phục vẫn chấp nhận
* Giới thiệu về mẩu chuyện và nêu khái quát vấn đề cần nghị luận 0,5 điểm
* Dựa vào nội dung mẩu chuyện, rút ra những vấn đề cần suy ngẫm:
- Khi nóng giận, con người thường gây tổn thương cho người khác và để lại
dấu ấn không tốt lâu dài
- Con người cần biết kiềm chế và có thể kiềm chế được những cơn nóng giận
của bản thân
0,5 điểm 0,5 điểm
Trang 9* Bình luận, chứng minh:
- Câu chuyện là bài học sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc
sống
+ Khi nóng giận, con người sẽ không có đủ bình tĩnh, tỉnh táo để làm chủ lời
nói, hành động của mình Những lời nói, hành động ấy sẽ giống như mũi
đinh nhọn đóng vào tâm hồn người khác khiến họ đau đớn, tổn thương Ấn
tượng ấy không dễ gì mất đi
+ Nóng giận là nhược điểm của không ít người trong cuộc sống Nhiều người
vì nóng giận mà gây ra những hậu quả khôn lường với người khác và bản
thân (Lấy dẫn chứng)
+ Nếu kiên trì, nỗ lực, tự rèn luyện, con người sẽ kiềm chế được những cơn
nóng giận
+ Kiềm chế sự nóng giận sẽ khiến tâm hồn mình được thanh thản và mối
quan hệ của con người trở nên tốt đẹp hơn
0,5 điểm 1,0 điểm
1,0 điểm
0,5 điểm 0,5 điểm
* Rút ra bài học, phương hướng hành động:
+ Không ngừng rèn luyện để kiềm chế sự nóng nảy của bản thân
+ Xây dựng những thói quen tốt trong ứng xử, giao tiếp
1,0 điểm
Câu 3 (10,0 điểm):
1 Yêu cầu về kĩ năng:
Biết làm bài văn nghị luận về nhân vật văn học Có kiến thức vững chắc về tác
phẩm Chữ người tử tù và các nhân vật Huấn Cao, quản ngục Có phương pháp làm
bài tốt với các kỹ năng giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận Văn viết có cảm
xúc, hình ảnh; bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ; không mắc lỗi về dùng từ, chính tả,
diễn đạt, kiến thức và ngữ pháp
2 Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
- Có thể có nhiều cách trình bày nhưng bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản trong
Hướng dẫn chấm
- Những bài làm có hướng đi khác nhưng phù hợp, thuyết phục vẫn chấp nhận
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật và trích dẫn được những ý kiến về
các nhân vật
0,5 điểm
* Giải thích được các ý kiến:
- Hai kẻ đối nghịch không đội trời chung: Hai con người ở thế đối lập, không
thể dung hòa, đồng cảm được
- những tấm lòng tri âm, tri kỷ : Những tâm hồn đồng điệu, thấu hiểu, gặp gỡ và
tìm được tiếng nói chung
1,0 điểm
Trang 10* Bình luận:
- Hai ý kiến tưởng như mâu thuẫn nhưng lại thống nhất, bổ sung cho nhau khi
đánh giá về mối quan hệ giữa nhân vật Huấn Cao và nhân vật viên quản ngục
* Làm sáng tỏ những ý kiến đã cho:
Hai kẻ đối nghịch không đội trời chung:
- Huấn Cao bị khép án tử vì tội “làm phản” chống lại triều đình Với triều đình
phong kiến, ông là một tên tội phạm nguy hiểm cần phải tiêu diệt
- Viên quản ngục là người đứng đầu nhà tù Ông là đại diện cho pháp luật để
thực hiện quyền lực và bảo vệ lợi ích của triều đình
- Họ ở hai vị trí đối lập nhau, thậm chí là tử thù của nhau trên bình diện chính
trị, xã hội
- Cũng vì sự tương phản ấy mà ban đầu Huấn Cao tỏ ra lạnh lùng, khinh bạc và
xua đuổi tàn nhẫn khi viên quản ngục vào gặp ông trong nhà lao
Những tấm lòng tri âm, tri kỷ đã tìm thấy nhau trong cuộc đời
Những tấm lòng tri âm, tri kỷ
- Huấn Cao là người nổi tiếng viết chữ nhanh và đẹp Tài viết chữ của ông đã
lừng danh trong thiên hạ Người đời coi những con chữ của ông như báu vật trên
đời Tuy vậy, ông lại là người khoảnh tính, ít chịu cho chữ Cả đời ông mới chỉ
cho chữ ba người bạn thân
- Từ khi mới đọc vỡ sách thánh hiền, viên quản ngục đã ao ước một ngày nào đó
có chữ của Huấn Cao để treo trong nhà
- Trong nghệ thuật, họ là một cặp tri kỷ, tri âm, cùng yêu mến, trân trọng cái
đẹp Một người là nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp còn người kia biết thưởng thức, nâng
niu cái đẹp và “biệt nhỡn liên tài”
Sự tìm gặp của những tấm lòng
-Viên quản ngục: Dành cho Huấn Cao sự biệt đãi; kiên nhẫn trước thái độ khinh
bạc của Huấn Cao; liều lĩnh nhờ thầy thơ lại bày tỏ tâm nguyện của mình với
Huấn Cao; bất chấp nguy hiểm để xin chữ Huấn Cao ngay trong nhà tù; cảm
động, cung kính, tuân thủ trước những lời di huấn của Huấn Cao
- Huấn Cao: Bất ngờ, xúc động trước sở thích cao quý của viên quản ngục; hối
hận về sự khinh bạc của mình với viên quản ngục trước đây; đồng ý cho chữ tại
nhà lao; khuyên quản ngục giữ thiên lương lành vững rồi mới nghĩ đến việc chơi
chữ
- Sự gặp gỡ được khắc họa rõ nét, xúc động trong cảnh cho chữ Những tấm
lòng tri kỷ đã vượt qua mọi ranh giới về chính trị, xã hội để hội ngộ bên cái đẹp
và hướng đến thiên lương
* Đánh giá về tài năng của Nguyễn Tuân: Sở dĩ có những ý kiến trái chiều là
vì Nguyễn Tuân đã đặt các nhân vật trong một tình huống truyện độc đáo, khắc
họa nhân vật không đơn giản một chiều mà luôn khai thác nhân vật ở nhiều
phương diện, thậm chí trái chiều để nhân vật hiện lên sinh động, hấp dẫn
1,0 điểm
2,0 điểm
0,5 điểm 0,5 điểm 0,5 điểm 0,5 điểm
4,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm 1,0 điểm
Trang 11Thời gian : 180 phút (không kể thời gian giao đề) Ngày thi : 02/10/2013
Câu 1 (8 điểm)
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm sống thể hiện trong các câu sau:
- Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(trích Giục giã - Xuân Diệu)
- Sống tung sóng gió thanh cao mới
Có nhận định rằng: Văn chương không có gì riêng sẽ không là gì cả
Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên ?
Hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm sáng tỏ ý kiến đó
- HẾT -
Thí sinh không được sử dụng tài liệu
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 12SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO
TẠO QUẢNG NAM
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 12
THPT Năm học 2013 - 2014 HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
(Hướng dẫn chấm này có 4 trang)
A HƯỚNG DẪN CHUNG
- Cần nắm bắt được nội dung trình bày của học sinh để đánh giá một cách tổng quát
bài làm, tránh đếm ý cho điểm Cần chủ động và linh hoạt khi vận dụng Hướng dẫn
chấm này
- Đặc biệt trân trọng những bài viết có cách diễn đạt chặt chẽ, mạch lạc, giàu hình ảnh
và cảm xúc, có cách nhìn riêng, cách trình bày riêng hợp lí
- Điểm lẻ toàn bài tính đến 0,5 đ
B ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
Câu 1 (8 điểm)
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm sống thể hiện trong các câu sau:
- Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(trích Giục giã - Xuân Diệu)
- Sống tung sóng gió thanh cao mới
Sống mạnh dù trong một phút giây
(trích Đi - Tố Hữu)
- Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
(trích Để gió cuốn đi (ca từ) - Trịnh Công Sơn)
I Yêu cầu về hình thức và kĩ năng:
- Vận dụng thuần thục cách thức làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí: kết hợp các thao tác lập luận một cách nhuần nhuyễn, huy động tốt những kiến thức sách
vở, đời sống, những trải nghiệm của bản thân…để bảo vệ cho lập luận của mình
- Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt sáng rõ, trôi chảy ; hạn chế tối đa việc mắc lỗi chính tả,
dùng từ và ngữ pháp
II.Yêu cầu về kiến thức:
Cần hiểu đúng ý tưởng của các câu trích ; cũng như dẫn ra được những dẫn chứng thực tế để bảo vệ cho lập luận của mình Học sinh có quyền đưa ra những ý kiến riêng Điều quan trọng là cách hiểu và cách bàn luận phải xuất phát từ ý tưởng được dẫn trên đề
và phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội cũng như có sự hợp lí về lập luận
Bài làm cần thiết đảm bảo định hướng chính sau:
Trang 131 Giải thích vấn đề: 3.0
- So sánh làm nổi bật quan niệm sống, khát vọng sống tích cực: phải hướng đến một đời sống tỏa sáng, có ý nghĩa (ngay cả khi “huy hoàng” chỉ diễn ra trong thoáng chốc) Đó là cách sống tận hiến, với khát vọng được làm chuyện lớn lao có ích cho đời cho mình, để
có được những giây phút vinh quang, chói sáng
1.0
- Sống trong sạch cao thượng, mạnh mẽ hào hùng giữa “sóng gió” cuộc đời và hướng
theo cái mới Khác với cách sống cũ: thụ động, buông xuôi, cam chịu, ươn hèn 1.0
- Sống với một tấm lòng chân thật yêu thương, mở ra phía tha nhân ; sống trong tình thân
- Không chấp nhận lối sống nhàn nhạt “lờ mờ, lẹt đẹt, luộm thuộm” (chữ của Nguyễn Tuân) vô nghĩa trong suốt đời người chính là thái độ sống đẹp của con người có khát vọng lớn lao
- “Quăng thân vào gió bụi”, sống “thanh cao”, mạnh mẽ và hướng theo lí tưởng cao đẹp chính là lối sống tích cực, có tránh nhiệm
- Trải lòng để yêu thương, chia sẻ, “để gió cuốn đi” đến với mọi người gần xa, không tính toán vị kỉ chính là đạo lí rất đáng được ngợi ca
1.5
- “Phút huy hoàng” trong cuộc đời thật quý và có ý nghĩa ; nhưng không thể vì thế mà đánh đổi cả phần đời còn lại Con người không chỉ tỏa sáng trong chốc lát rồi vụt tắt Đời người có lúc thăng hoa, có lúc trầm lắng và cũng khó tránh khỏi những lúc “le lói” buồn đau Cũng có nhiều người sống âm thầm nhưng có ích cho xã hội Nhưng cái đáng trân trọng là khát vọng được cháy hết mình, được tận hiến cho đời
- Không phải lúc nào cũng sống mạnh, sống hùng ; có lúc cần lắng lòng trước cái đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, tình người
- Và cũng không phải lúc nào cũng giao đãi với người bằng tình yêu thương, phải biết phẫn nộ và đấu tranh với cái xấu, cái ác Mở lòng ra với mọi người song phải biết trân trọng giá trị cuộc sống của chính mình
1.5
- Những quan niệm sống khác nhau, có thể bổ sung cho nhau, hướng con người theo một cách sống đẹp đẽ, hoàn thiện từ khát vọng đến hành động và tình cảm 1.0
- Nhận thức: Cần tự trang bị cho bản thân một quan niệm sống đúng đắn, đẹp đẽ 0.5
- Hành động: Mạnh mẽ trong thực hiện những dự định tốt đẹp ; trong sạch trong lối sống
* Lưu ý: Xem xét cả hai yêu cầu về hình thức, kĩ năng và kiến thức để cho điểm
Câu 2 (12 điểm)
Có nhận định rằng: Văn chương không có gì riêng sẽ không là gì cả
Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên ?
Hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm sáng tỏ ý kiến đó
I Yêu cầu về hình thức và kĩ năng:
Học sinh có thể giải thích xong nhận định, sau đó phân tích bài thơ, so sánh đối
chiếu, để làm rõ nét riêng độc đáo của tác phẩm ; hoặc kết hợp các thao tác nghị
Trang 14luận trên cùng một lúc Kết cấu chặt chẽ, văn viết lưu loát, có hình ảnh và cảm xúc ; hạn
chế tối đa việc mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
II Yêu cầu về nội dung:
Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản về lí luận văn học và những kiến thức thuộc phạm
vi đề bài, học sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách khác nhau, miễn là làm rõ
được các ý chính sau :
- Văn chương là lĩnh vực của cái độc đáo Mỗi tác phẩm văn chương phải có nét riêng, nét mới ở ý tưởng nghệ thuật cũng như ở hình thức biểu hiện Mỗi nhà văn phải có một thế giới nghệ thuật riêng, một “chân trời” riêng, một “biên cương” riêng Nhà văn có phong cách thì mới được người đọc chấp nhận và yêu mến Phong cách càng độc đáo thì sức hấp dẫn càng lớn
2.0
- Mới mẻ, độc đáo là điều kiện tồn tại của tác phẩm văn chương Tác phẩm chương không có gì mới sẽ không được người đọc tiếp nhận Nhà văn có phong cách nghệ thuật
mờ nhạt sẽ bị người đọc quên lãng ; lặp lại mình hoặc lặp lại người khác đều là điều tối
kị trong hoạt động sáng tác của nhà văn
2.0
+ Giọng điệu riêng biệt của tác phẩm
+ Cách nhìn, cách cảm của nhà văn có tính chất khám phá
+ Yếu tố mới trong nội dung tác phẩm
+ Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật mang dấu ấn riêng
Lưu ý: Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo hai khía cạnh: nội dung và nghệ thuật
Tuy vậy, cần đảm bảo các ý trên
+ Xuân Quỳnh thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong chống Mĩ
+ Tác giả của những thi phẩm nổi tiếng: Hoa dọc chiến hào (1968), Tự hát (1984),
Hoa cỏ may (1989)
+ Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường
+ Sóng là bài thơ viết về tình yêu hạnh phúc, trích trong tập Hoa dọc chiến hào, viết
năm 1967, tại biển Diêm Điền, Thái Bình
+ Thơ năm chữ, có cấu tứ độc đáo – mượn sóng để nói đến khát vọng tình yêu
- Giọng điệu chung của bài thơ: dào dạt, da diết, khát khao, âu lo, day dứt… Mỗi câu thơ như một con sóng vỗ vào bờ, gợi tả tinh tế nhịp điệu tâm hồn của người phụ nữ đang yêu
1.0
- Cách nhìn, cách cảm mới mẻ về tình yêu: Qua hình tượng “sóng” và “em”, tình yêu
Trang 15+ Những biến động khác thường, nghịch lí trong lòng người phụ nữ đang yêu (Dữ dội
và dịu êm/Ồn ào và lặng lẽ)
+ Khát vọng vươn xa, thoát khỏi sự chật chội, tầm thường ; tìm sự đồng điệu Yêu là
đưa lòng ra biển lớn (Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể)
+ Tình yêu là nỗi khát vọng muôn đời Yêu là hiện tượng vĩnh hằng (Ôi con sóng
ngày xưa/Và ngày sau vẫn thế)
+ Nhu cầu lí giải sự khởi nguồn, khởi điểm của tình yêu (Em nghĩ về anh em/Em nghĩ
về biển lớn/Từ nơi nào sóng lên ? Khi nào ta yêu nhau)
+ Nỗi nhớ nhung da diết, mãnh liệt Nó chiếm cả bề rộng và tầng sâu ; khắc khoải
trong mọi thời gian, cả trong ý thức và vô thức ; khắc khoải trong mọi không gian (Con
sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước/Ôi con sóng nhớ bờ/Ngày đêm không ngủ được/Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức/Dẫu xuôi về phương bắc/Dẫu ngược
về phương nam/Nơi nào em cũng nghĩ/Hướng về anh một phương)
+ Niềm tin về một tình yêu dù cách trở vẫn đến được bến bờ hạnh phúc (Ở ngoài kia
đại dương/Trăm ngàn con sóng đó/Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở)
+ Nỗi trăn trở về sự hữu hạn của cuộc đời ; niềm mong mỏi về sự vô hạn trong tình
yêu (Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua/Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về
xa)
Lưu ý: Có thể thí sinh nêu cách hiểu khác: Từ tình yêu hiện hữu, suy niệm về cuộc đời,
thấy cuộc đời là có thật và dài nhưng có thể đo đếm được bằng năm tháng…
+ Tình yêu nồng cháy, mãnh liệt, bí ẩn nhưng giàu nữ tính, đòi hỏi sự thủy chung trong một tình yêu đúng nghĩa, hướng đến cuộc sống chung
+ Khát vọng tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, khám phá cái tôi bản thể
+ Kết cấu: kết cấu song hành “sóng” và “em”
+ Cách biểu hiện vừa mới mẻ vừa truyền thống, đặc biệt là cách sử dụng hình tượng sóng: mỗi trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương
đồng với một khía cạnh, một đặc tính của sóng
+ Thể thơ 5 chữ, các câu nối tiếp gợi liên tưởng từng đợt sóng vào bờ
- Nội dung: Tình yêu trong bài thơ là tình yêu hạnh phúc, gắn liền với cuộc sống chung (không phải tình yêu đau khổ, không phải tình đầu non nớt, vụng dại), với nhiều đam mê khao khát, đòi hỏi chiều sâu trong tình cảm
Trang 16Môn thi: Ngữ văn
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Cậu bé dùng đủ mọi cách, cố hết sức lực nhưng rốt cuộc vẫn không thể đẩy được tảng đá ra khỏi đống cát Đã vậy bàn tay cậu còn bị trầy xước, rướm máu Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng
Người bố ngồi trong nhà lặng lẽ theo dõi mọi chuyện Và khi cậu bé bật khóc,
người bố bước tới: “Con trai, tại sao con không dùng hết sức mạnh của mình?”
Cậu bé thổn thức đáp: “Có mà! Con đã dùng hết sức rồi mà bố!”
“Không con trai – người bố nhẹ nhàng nói – con đã không dùng đến tất cả sức mạnh của con Con đã không nhờ bố giúp”
Nói rồi người bố cúi xuống bới tảng đá ra, nhấc lên và vứt đi chỗ khác
(Theo báo Tuổi trẻ - Bùi Xuân Lộc phỏng dịch từ Faith to Move Mountains)
Suy nghĩ của anh/chị về bài học rút ra từ câu chuyện trên
Câu 2 (12 điểm)
Nhận định về bài thơ Tràng giang của Huy Cận, có ý kiến cho rằng: đó là nỗi
sầu vạn kỉ Ý kiến khác thì nhấn mạnh: đó là nỗi sầu của một con người giàu sức lực
Anh/chị hiểu những ý kiến trên như thế nào? Làm sáng tỏ những ý kiến đó qua việc phân tích thi phẩm
- Hết -
- Thí sinh không được sử dụng tài liệu
- Giám thị không giải thích gì thêm
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Trang 17HƯỚNG DẪN CHẤM
(gồm có 04 trang)
I YÊU CẦU CHUNG
- Thí sinh phải nắm được vấn đề chính cần nghị luận của mỗi câu, từ đó trình bày được khả năng hiểu, phân tích, đánh giá của mình; biết vận dụng các thao tác lập luận trong bài làm
- Bài làm phải rõ ràng về bố cục, ý mạch lạc, có cảm xúc, thể hiện được màu sắc cá nhân trong lập luận, diễn đạt, hành văn,
- Dẫn chứng từ văn học và cuộc sống phải chuẩn xác, phong phú và có chọn lọc
- Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của đề Khuyến khích cho điểm tối đa những bài làm sáng tạo, viết hay, độc đáo
- Có thể cân đối hai câu để cho điểm toàn bài nhằm phát hiện đúng đối tượng học sinh
Lưu ý: Giám khảo có thể cho tới 0.25 điểm, không làm tròn điểm số
II YÊU CẦU CỤ THỂ TỪNG CÂU
Câu 1 (8 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí đặt ra trong tác phẩm văn học Bài viết thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội; dẫn chứng thực tế, phong phú, có sức thuyết phục; bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt tốt; không mắc lỗi đặt câu, dùng từ, chính tả,
2 Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, chấp nhận cả các ý ngoài đáp án, miễn là phù hợp với đề bài và có kiến giải hợp lí, có sức thuyết phục Sau đây
là những yêu cầu cơ bản:
a Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
b Giải thích nội dung, ý nghĩa câu chuyện và rút ra bài học (1.5 điểm)
- Cậu bé đối diện với khó khăn, dù cố gắng hết sức vẫn thất bại, khóc và tuyệt vọng vì nghĩ rằng sức mạnh của con người nằm trong chính bản thân mình
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Trang 18- Người cha với lời nói và hành động mang đến một thông điệp: sức mạnh của mỗi người là sức mạnh của bản thân và sự giúp đỡ từ người khác
==> Bài học: Tự lực là cần thiết nhưng nếu không biết dựa vào sự giúp đỡ từ người khác khi cần thiết cũng khó thành công hơn
c Bàn luận (4.0 điểm)
- Tại sao mỗi người nên nhận sự giúp đỡ của người khác?
+ Thực tế cuộc sống đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, bất ngờ vượt khỏi khả năng của mỗi cá nhân; có những vấn đề phải nhiều người mới giải quyết được
+ Mỗi người luôn có khát vọng được thành công trên nhiều lĩnh vực
- Ý nghĩa của sự giúp đỡ từ người khác:
+ Sự thành công sẽ nhanh và bền vững hơn
+ Người nhận sự giúp đỡ có thêm sức mạnh và niềm tin, hạn chế được những rủi ro và thất bại
+ Tạo lập mối quan hệ tốt đẹp, gắn kết giữa người với người, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay
- Giúp đỡ không phải là làm thay; giúp đỡ phải vô tư, chân thành, tự nguyện
- Phê phán những người tự cao không cần đến sự giúp đỡ của người khác, những người ỷ lại, dựa dẫm vào người khác
d Bài học nhận thức và hành động (1.5 điểm)
- Phải nhận thấy sức mạnh của cá nhân là sức mạnh tổng hợp
- Chủ động tìm sự giúp đỡ và chỉ nhận sự giúp đỡ khi bản thân thực sự cần
- Có thói quen giúp đỡ mọi người
e Khái quát vấn đề (0.5 điểm)
3 Tiêu chuẩn cho điểm
- Điểm 7 – 8: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên
- Điểm 5 – 6: Đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu trên, có hiểu biết thực tế, biết
cách triển khai vấn đề, diễn đạt khá
- Điểm 3 – 4: Đáp ứng tốt 1/2 những yêu cầu trên; hoặc đạt 2/3 các ý trên, tỏ ra
hiểu vấn đề song chưa thuyết phục trong cách lập luận, tư liệu thực tế chưa phong phú, diễn đạt khá trôi chảy nhưng còn mắc một vài lỗi nhỏ
- Điểm 1 – 2: Hiểu chưa sát yêu cầu của đề, diễn đạt yếu
Câu 2 (12 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng
- Nắm vững yêu cầu của bài văn nghị luận văn học (dạng bài phân tích làm sáng tỏ ý kiến bàn về một tác phẩm văn học) Bài viết phải thể hiện được khả năng cảm thụ, đánh giá một cách xác đáng, khoa học về tác phẩm
Trang 19- Bố cục hợp lí, lập luận chặt chẽ, ý tứ sâu sắc, diễn đạt trôi chảy, văn giàu hình ảnh, cảm xúc và mang dấu ấn cá nhân
2 Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau (có thể phân tích theo chỉnh thể tác phẩm hoặc phân tích theo từng khía cạnh của nhận định, không phân tích thuần túy bài thơ), chấp nhận cả những cách hiểu ngoài đáp án, miễn là phù hợp với bài thơ, kiến giải hợp lí, có sức thuyết phục Sau đây là những gợi ý cơ bản:
a Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
b Giải thích vấn đề (3.0 điểm)
- “Nỗi sầu vạn kỉ”: là nỗi buồn chồng chất, dồn nén (từ thời gian, không gian,
tạo vật cho đến lòng người) chảy từ ngàn xưa
- “Nỗi sầu ( ) của một con người giàu sức lực”: là nỗi buồn của người giàu
khao khát sống - hòa nhập - gắn bó, giàu tình yêu với thiên nhiên đất nước, con người, ý thức sâu sắc về cá nhân
→ Hai ý kiến đã thâu tóm được nội dung, ý nghĩa của bài thơ và nét riêng của hồn thơ Huy Cận
c Phân tích bài thơ làm sáng rõ ý kiến (6.0 điểm)
- Bài thơ là “Nỗi sầu vạn kỉ”:
+ Không gian vũ trụ bao la, vô tận, mênh mông, hoang vắng, rợn ngợp, trống trải (tràng giang, sông dài, trời rộng, bến cô liêu, không đò, không cầu )
+ Thời gian vô định
+ Tạo vật nhỏ bé, lẻ loi, rời rạc, lạc loài, chia lìa,
+ Tâm trạng lữ thứ: nỗi buồn triền miên, nỗi sầu mênh mang, lẻ loi, bơ vơ, lạc lõng, bế tắc, lo sợ, nhớ mong,
+ Nghệ thuật tương phản, ước lệ, kết hợp thi liệu cổ điển và hiện đại
=> Tràng giang vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận, vô định, vô tình
- Bài thơ là “Nỗi sầu ( ) của một con người giàu sức lực”:
+ Nỗi buồn bắt nguồn từ khát vọng được sống, được kết nối, giao hòa và gắn
bó với tạo vật và con người Ẩn sau nỗi buồn là một trái tim tha thiết với đời, một sức sống âm thầm mà mãnh liệt
+ Nỗi buồn bắt nguồn từ nhận thức về sự hữu hạn, nhỏ bé, lẻ loi, lạc loài, mong manh của thân phận, kiếp người trước cuộc đời Đó là sự thức tỉnh của ý thức cá nhân
+ Sâu hơn là nỗi buồn vì nhận thấy thiếu quê hương và tổ quốc ở trong lòng + Những hình ảnh, thi liệu trong văn học cổ được vận dụng một cách sáng tạo góp phần thể hiện sâu sắc sức sống trong bài thơ
d Đánh giá nâng cao (2.0 điểm)
Trang 20- Hai ý kiến không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau khẳng định giá trị sâu sắc của bài thơ và hồn thơ Huy Cận
- Hai ý kiến thể hiện sự thấu cảm sâu sắc về Tràng giang – một bài thơ tuy
buồn nhưng mang ý nghĩa tích cực bởi khả năng đánh thức trong con người tình yêu thiên nhiên, đất nước, khát vọng được sống trọn vẹn trong sự giao hòa, gắn bó với cuộc đời Đó là nỗi buồn có ý nghĩa thời đại của bài thơ và Thơ mới
e Khái quát vấn đề (0.5 điểm)
3 Tiêu chuẩn cho điểm:
- Điểm 10 – 12: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên
- Điểm 8 – 9: Đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu trên, biết cách triển khai vấn
đề, biết cách phân tích cứ liệu làm rõ ý kiến, diễn đạt khá
- Điểm 6 – 7: Đáp ứng tốt 1/2 các yêu cầu trên; hoặc đạt 2/3 các ý trên, tỏ ra
hiểu vấn đề song chưa thuyết phục về lí lẽ và cứ liệu phân tích, diễn đạt khá trôi chảy, còn mắc một vài lỗi nhỏ
Lưu ý: Nếu bài làm của thí sinh tỏ ra hiểu vấn đề nhưng lúng túng trong cách
khai triển và nghiêng về phân tích tác phẩm thuần túy – tất nhiên phải đúng – chỉ cho tối đa 6.0 điểm
- Điểm 4 – 5: Đáp ứng được 1/2 những yêu cầu trên, chưa nắm chắc vấn đề,
phân tích tác phẩm còn hạn chế, diễn đạt còn vụng
- Điểm 2 – 3: Hiểu chưa sát về vấn đề, kĩ năng phân tích, bình luận và diễn đạt
còn nhiều hạn chế
- Điểm 0 – 1: Hiểu sai về đề, bài làm quá sơ sài, diễn đạt kém
Lưu ý: Đối với bài làm của thí sinh thuộc hệ GDTX, giám khảo cần linh hoạt vận dụng tiêu chuẩn cho điểm sau đây
- Điểm 10 – 12: Đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu trên, biết cách triển khai
vấn đề, biết cách phân tích tác phẩm, diễn đạt khá
- Điểm 8 – 9: Đáp ứng 2/3 các ý trên, tỏ ra hiểu vấn đề song chưa thật thuyết
phục về lí lẽ và cứ liệu phân tích, diễn đạt khá trôi chảy, còn mắc một vài lỗi nhỏ (nếu bài làm của thí sinh tỏ ra hiểu vấn đề nhưng lúng túng trong cách khai triển và nghiêng về phân tích thuần túy – tất nhiên phải đúng – chỉ cho tối đa 8.0 điểm)
- Điểm 6 – 7: Đáp ứng tốt 1/2 các yêu cầu trên; nắm chưa thật chắc vấn đề,
phân tích tác phẩm còn hạn chế, diễn đạt đôi chỗ còn vụng
- Điểm 4 – 5: Thí sinh chỉ phân tích tác phẩm thuần túy, diễn đạt còn hạn chế,
mắc nhiều sai sót
- Điểm 2 – 3: Hiểu chưa sát về vấn đề, bài làm quá sơ sài, diễn đạt kém
- Điểm 0 – 1: Có viết liên quan đến bài thơ nhưng không đáp ứng được yêu cầu
nào về kiến thức và kĩ năng
Trang 21- Hết -
Đề số 5:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO HẢI DƯƠNG
ĐỀ CHÍNH
THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2013 - 2014
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể giao
đề)
Đề thi gồm: 01 trang
Câu 1 (3,0 điểm)
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ Hạt mầm thứ nhất nói: Tôi muốn lớn lên thật nhanh Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá
Và rồi hạt mầm nằm im và chờ đợi
Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt mầm nằm lạc lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức
(THẢO NGUYÊN, Nguồn: Hạt giống tâm hồn - Từ
những điều bình dị - First News và NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp ấn hành)
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong câu chuyện trên?
Câu 2 (7,0 điểm)
Bàn về lao động nghệ thuật của nhà văn, Mác-xen Pruxt cho rằng:
“Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần
một đôi mắt mới”
Trang 22Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết về truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, hãy làm rõ quan niệm nghệ thuật của Mác-xen Pruxt
Hết
Họ và tên thí sinh: Số báo danh:
Chữ ký giám thị 1: Chữ ký giám thị 2:
Trang 23SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO HẢI DƯƠNG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2013 - 2014
MÔN THI: NGỮ VĂN
Hướng dẫn chấm gồm: 03 trang
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
A YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh
đếm ý cho điểm Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức độ điểm
một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm
- Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn
B YÊU CẦU CỤ THỂ Câu 1 (3,0 điểm)
1 Giới thiệu câu chuyện và quan niệm sống tích cực mà truyện
gợi ra: Sống phải có ước mơ cao đẹp, dám đương đầu với
những khó khăn thử thách để thực hiện ước mơ
0,25 đ
- Tóm tắt thật ngắn gọn truyện: Hạt mầm thứ nhất muốn lớn
lên, bén rễ, đâm chồi nảy lộc, nở hoa dịu dàng nên đã mọc
lên Hạt mầm thứ hai sợ đất sâu tối tăm, sợ chồi non bị côn
trùng nuốt, sợ trẻ con vặt hoa nên nằm im, chờ đợi, kết cục
bị gà mổ tức khắc
- Mượn câu chuyện hai hạt mầm, tác giả đã nêu lên và khẳng
định một quan niệm nhân sinh đúng đắn, tích cực: Con
người sống phải có ước mơ (mong muốn những điều tốt đẹp
trong tương lai), dám đối đầu với khó khăn để biến ước mơ
thành hiện thực và tỏa sáng Sống không có ước mơ, hèn
nhát, sợ hãi, thụ động chỉ nhận được sự thất bại, thậm chí
bị hủy diệt
- Cuộc sống rất đa dạng và phong phú: có cơ hội cho con
Trang 24người lựa chọn nhưng cũng lắm thử thách gian nan Hành
trình sống của con người là không ngừng vươn lên để sáng
tạo, in dấu ấn trong cuộc đời Khó khăn không hoàn toàn là
trở lực mà chính là động lực thôi thúc hành động, đạt tới
thành công
- Ước mơ tạo nên bản lĩnh, là nguồn sức mạnh tinh thần to
lớn giúp con người vượt qua khó khăn “xuyên qua đá cứng”
để sống và tận hưởng hương vị, vẻ đẹp của cuộc đời; là động
lực thôi thúc con người tìm tòi, khám phá, đóng góp sức
mình làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn
- Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người có ước mơ,
khát vọng và nỗ lực vượt khó, chinh phục mọi thử thách để
sinh tồn và phát triển
- Sợ hãi trước cuộc sống, không dám làm bất cứ điều gì, chỉ
biết thu mình trong vỏ bọc hèn nhát, thụ động chờ đợi con
người sẽ trở nên yếu hèn
- Cuộc sống không ước mơ, không dám đương đầu với thực
tế là cuộc sống vô vị, nhàm chán, sống thừa, sống vô ích,
con người sẽ chỉ nhận được thất bại, thậm chí có thể tan biến
trong cuộc đời
(Trong quá trình lí giải cần chọn dẫn chứng minh họa)
4 Bàn luận
- Bên cạnh những người có ước mơ, không ngừng vươn lên
để sáng tạo, cũng còn không ít người sợ hãi, né tránh gian
khổ, khó khăn Bên cạnh những ước mơ chính đáng, phù hợp
với mục tiêu cao đẹp của cộng đồng cũng còn có ước mơ
vụn vặt, tầm thường, vị kỉ
- Biểu dương những người có ước mơ, có nghị lực vươn lên
Phê phán những người sống không có ước mơ, thụ động,
ngại khó ngại khổ, không có ý chí, nghị lực
(dẫn chứng minh họa)
0,75đ
5 Liên hệ rút ra bài học về nhận thức và hành động 0,25 đ
* Ghi chú: Nếu học sinh có ý kiến ngoài hướng dẫn nhưng có những kiến giải
hợp lý, thuyết phục thì giám khảo vẫn đánh giá, cho điểm (không vượt quá điểm tối
Trang 251 Giới thiệu được vấn đề nghị luận và truyện ngắn “Chí Phèo” của
Nam Cao, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
0,5đ
- Giải thích từ ngữ
+ “Cuộc thám hiểm thực sự”: Quá trình lao động nghệ thuật
nghiêm túc, gian khổ và đầy bản lĩnh của nhà văn để sáng tạo nên tác
→ Hàm ý câu nói: Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, điều cốt yếu
là nhà văn phải có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo, giàu tính phát
hiện về con người và đời sống
- Bàn luận
+ Để tạo nên tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhà văn phải có tài
năng, tâm huyết, có bản lĩnh và phải biết lao động nghệ thuật
nghiêm túc, gian khổ giống như“cuộc thám hiểm thực sự” Nếu dấn
thân vào“vùng đất mới” mà nhà văn không có cách nhìn, cách cảm
thụ đời sống mới mẻ thì cũng không thể tạo nên tác phẩm nghệ
thuật có giá trị đích thực
+ Dù viết về đề tài đã cũ nhưng bằng cái nhìn độc đáo, giàu tính
khám phá, phát hiện, nhà văn vẫn thấu suốt bản chất đời sống, mang
lại cho tác phẩm giá trị tư tưởng sâu sắc
+ Nếu nhà văn có“đôi mắt mới”, biết nhìn nhận con người và đời
sống giàu tính khám phá, phát hiện lại tiếp cận với một“vùng đất
mới”, thì sức sáng tạo của nhà văn và giá trị của tác phẩm càng độc
đáo, càng cao Vì thế, coi trọng vai trò quyết định của“đôi mắt mới”
nhưng cũng không nên phủ nhận ý nghĩa của“vùng đất mới” trong
thực tiễn sáng tác
+ Để có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo nhà văn phải bám sát
vào hiện thực đời sống; trau dồi tài năng, bản lĩnh (sự tinh tế, sắc
sảo ); bồi dưỡng tâm hồn (tấm lòng, tình cảm đẹp với con người và
cuộc đời ); xác lập một tư tưởng, quan điểm đúng đắn, tiến bộ
(Trong quá trình bàn luận có thể lấy dẫn chứng minh họa)
- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
+ Đề tài: Cuộc sống của người nông dân nghèo Việt Nam thời
kì trước Cách mạng tháng Tám Đây là đề tài quen thuộc, được
nhiều nhà văn khai thác và đã xây dựng được những hình tượng
điển hình như trong: Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng
(Nguyễn Công Hoan),
+ Cũng viết về cuộc sống của người nông dân thời kì trước
Cách mạng tháng Tám, Nam Cao không chỉ đề cập đến nỗi khổ đau
về vật chất của người nông dân mà còn xoáy sâu vào bi kịch tinh
2,0đ
Trang 26thần đau đớn: Bi kịch bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền sống làm người
lương thiện
+ Nhà văn trân trọng phát hiện phẩm chất tốt đẹp của con
người Khẳng định bản chất lương thiện của con người không bao
giờ mất đi cho dù họ có bị hủy hoại và tàn phá cả nhân hình lẫn
nhân tính
- Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
Khác với các thi sĩ cùng thời, khi viết về đề tài người lính (anh
bộ đội Cụ Hồ) thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Quang
Dũng thể hiện một cách nhìn mới, một“đôi mắt mới”:
+ Nhà thơ không né tránh hiện thực mà nhìn thẳng vào cuộc
chiến khốc liệt để làm nổi bật những hi sinh, mất mát
+ Con đường Tây Tiến hiện ra vừa dữ dội, hùng vĩ vừa thơ
mộng, mĩ lệ một thời
+ Bức tượng đài người lính Tây Tiến (xuất thân từ tầng lớp trí
thức Hà Nội) hào hoa, lãng mạn, đậm tinh thần bi tráng
- Đánh giá khái quát
Nếu có“đôi mắt mới”, cách nhìn mới thì cho dù có viết về“vùng
đất cũ” nhà văn vẫn tạo ra được những áng thơ, thiên truyện độc
đáo, có giá trị, có phẩm chất và cốt cách văn học, có sức lay động
lòng người, có khả năng sống mãi với thời gian
ĐỀ CHÍNH
THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2014 - 2015
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể giao
đề)
Đề thi gồm: 01 trang
Câu 1 (3,0 điểm)
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ Hạt mầm thứ nhất nói: Tôi muốn lớn lên thật nhanh Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá
Và rồi hạt mầm mọc lên
Hạt mầm thứ hai bảo:
Trang 27- Tôi sợ lắm Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì ở nơi tối tăm đó Và giả như những chồi non của tôi có mọc
ra, đám côn trùng sẽ kéo đến và nuốt ngay lấy chúng Một ngày nào đó, nếu những bông hoa của tôi có thể nở ra được thì bọn trẻ con cũng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch thôi Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã
Và rồi hạt mầm nằm im và chờ đợi
Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt mầm nằm lạc lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức
(THẢO NGUYÊN, Nguồn: Hạt giống tâm hồn - Từ
những điều bình dị - First News và NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp ấn hành)
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong câu chuyện trên?
Câu 2 (7,0 điểm)
Bàn về lao động nghệ thuật của nhà văn, Mác-xen Pruxt cho rằng:
“Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần
một đôi mắt mới”
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết về truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, hãy làm rõ quan niệm nghệ thuật của Mác-xen Pruxt
Hết
Họ và tên thí sinh: Số báo danh:
Chữ ký giám thị 1: Chữ ký giám thị 2:
Trang 28SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO HẢI DƯƠNG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2014 - 2015
MÔN THI: NGỮ VĂN
Hướng dẫn chấm gồm: 03 trang
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
A YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh
đếm ý cho điểm Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức độ điểm
một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm
- Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn
B YÊU CẦU CỤ THỂ Câu 1 (3,0 điểm)
1 Giới thiệu câu chuyện và quan niệm sống tích cực mà truyện
gợi ra: Sống phải có ước mơ cao đẹp, dám đương đầu với
những khó khăn thử thách để thực hiện ước mơ
0,25 đ
- Tóm tắt thật ngắn gọn truyện: Hạt mầm thứ nhất muốn lớn
lên, bén rễ, đâm chồi nảy lộc, nở hoa dịu dàng nên đã mọc
lên Hạt mầm thứ hai sợ đất sâu tối tăm, sợ chồi non bị côn
trùng nuốt, sợ trẻ con vặt hoa nên nằm im, chờ đợi, kết cục
bị gà mổ tức khắc
- Mượn câu chuyện hai hạt mầm, tác giả đã nêu lên và khẳng
định một quan niệm nhân sinh đúng đắn, tích cực: Con
người sống phải có ước mơ (mong muốn những điều tốt đẹp
trong tương lai), dám đối đầu với khó khăn để biến ước mơ
thành hiện thực và tỏa sáng Sống không có ước mơ, hèn
nhát, sợ hãi, thụ động chỉ nhận được sự thất bại, thậm chí
bị hủy diệt
- Cuộc sống rất đa dạng và phong phú: có cơ hội cho con
Trang 29người lựa chọn nhưng cũng lắm thử thách gian nan Hành
trình sống của con người là không ngừng vươn lên để sáng
tạo, in dấu ấn trong cuộc đời Khó khăn không hoàn toàn là
trở lực mà chính là động lực thôi thúc hành động, đạt tới
thành công
- Ước mơ tạo nên bản lĩnh, là nguồn sức mạnh tinh thần to
lớn giúp con người vượt qua khó khăn “xuyên qua đá cứng”
để sống và tận hưởng hương vị, vẻ đẹp của cuộc đời; là động
lực thôi thúc con người tìm tòi, khám phá, đóng góp sức
mình làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn
- Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người có ước mơ,
khát vọng và nỗ lực vượt khó, chinh phục mọi thử thách để
sinh tồn và phát triển
- Sợ hãi trước cuộc sống, không dám làm bất cứ điều gì, chỉ
biết thu mình trong vỏ bọc hèn nhát, thụ động chờ đợi con
người sẽ trở nên yếu hèn
- Cuộc sống không ước mơ, không dám đương đầu với thực
tế là cuộc sống vô vị, nhàm chán, sống thừa, sống vô ích,
con người sẽ chỉ nhận được thất bại, thậm chí có thể tan biến
trong cuộc đời
(Trong quá trình lí giải cần chọn dẫn chứng minh họa)
4 Bàn luận
- Bên cạnh những người có ước mơ, không ngừng vươn lên
để sáng tạo, cũng còn không ít người sợ hãi, né tránh gian
khổ, khó khăn Bên cạnh những ước mơ chính đáng, phù hợp
với mục tiêu cao đẹp của cộng đồng cũng còn có ước mơ
vụn vặt, tầm thường, vị kỉ
- Biểu dương những người có ước mơ, có nghị lực vươn lên
Phê phán những người sống không có ước mơ, thụ động,
ngại khó ngại khổ, không có ý chí, nghị lực
(dẫn chứng minh họa)
0,75đ
5 Liên hệ rút ra bài học về nhận thức và hành động 0,25 đ
* Ghi chú: Nếu học sinh có ý kiến ngoài hướng dẫn nhưng có những kiến giải
hợp lý, thuyết phục thì giám khảo vẫn đánh giá, cho điểm (không vượt quá điểm tối
Trang 301 Giới thiệu được vấn đề nghị luận và truyện ngắn “Chí Phèo” của
Nam Cao, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
0,5đ
- Giải thích từ ngữ
+ “Cuộc thám hiểm thực sự”: Quá trình lao động nghệ thuật
nghiêm túc, gian khổ và đầy bản lĩnh của nhà văn để sáng tạo nên tác
→ Hàm ý câu nói: Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, điều cốt yếu
là nhà văn phải có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo, giàu tính phát
hiện về con người và đời sống
- Bàn luận
+ Để tạo nên tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhà văn phải có tài
năng, tâm huyết, có bản lĩnh và phải biết lao động nghệ thuật
nghiêm túc, gian khổ giống như“cuộc thám hiểm thực sự” Nếu dấn
thân vào“vùng đất mới” mà nhà văn không có cách nhìn, cách cảm
thụ đời sống mới mẻ thì cũng không thể tạo nên tác phẩm nghệ
thuật có giá trị đích thực
+ Dù viết về đề tài đã cũ nhưng bằng cái nhìn độc đáo, giàu tính
khám phá, phát hiện, nhà văn vẫn thấu suốt bản chất đời sống, mang
lại cho tác phẩm giá trị tư tưởng sâu sắc
+ Nếu nhà văn có“đôi mắt mới”, biết nhìn nhận con người và đời
sống giàu tính khám phá, phát hiện lại tiếp cận với một“vùng đất
mới”, thì sức sáng tạo của nhà văn và giá trị của tác phẩm càng độc
đáo, càng cao Vì thế, coi trọng vai trò quyết định của“đôi mắt mới”
nhưng cũng không nên phủ nhận ý nghĩa của“vùng đất mới” trong
thực tiễn sáng tác
+ Để có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo nhà văn phải bám sát
vào hiện thực đời sống; trau dồi tài năng, bản lĩnh (sự tinh tế, sắc
sảo ); bồi dưỡng tâm hồn (tấm lòng, tình cảm đẹp với con người và
cuộc đời ); xác lập một tư tưởng, quan điểm đúng đắn, tiến bộ
(Trong quá trình bàn luận có thể lấy dẫn chứng minh họa)
- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
+ Đề tài: Cuộc sống của người nông dân nghèo Việt Nam thời
kì trước Cách mạng tháng Tám Đây là đề tài quen thuộc, được
nhiều nhà văn khai thác và đã xây dựng được những hình tượng
điển hình như trong: Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng
(Nguyễn Công Hoan),
+ Cũng viết về cuộc sống của người nông dân thời kì trước
Cách mạng tháng Tám, Nam Cao không chỉ đề cập đến nỗi khổ đau
về vật chất của người nông dân mà còn xoáy sâu vào bi kịch tinh
2,0đ
Trang 31thần đau đớn: Bi kịch bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền sống làm người
lương thiện
+ Nhà văn trân trọng phát hiện phẩm chất tốt đẹp của con
người Khẳng định bản chất lương thiện của con người không bao
giờ mất đi cho dù họ có bị hủy hoại và tàn phá cả nhân hình lẫn
nhân tính
- Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
Khác với các thi sĩ cùng thời, khi viết về đề tài người lính (anh
bộ đội Cụ Hồ) thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Quang
Dũng thể hiện một cách nhìn mới, một“đôi mắt mới”:
+ Nhà thơ không né tránh hiện thực mà nhìn thẳng vào cuộc
chiến khốc liệt để làm nổi bật những hi sinh, mất mát
+ Con đường Tây Tiến hiện ra vừa dữ dội, hùng vĩ vừa thơ
mộng, mĩ lệ một thời
+ Bức tượng đài người lính Tây Tiến (xuất thân từ tầng lớp trí
thức Hà Nội) hào hoa, lãng mạn, đậm tinh thần bi tráng
- Đánh giá khái quát
Nếu có“đôi mắt mới”, cách nhìn mới thì cho dù có viết về“vùng
đất cũ” nhà văn vẫn tạo ra được những áng thơ, thiên truyện độc
đáo, có giá trị, có phẩm chất và cốt cách văn học, có sức lay động
lòng người, có khả năng sống mãi với thời gian
Môn thi: NGỮ VĂN - THPT BẢNG A
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (6,0 điểm)
Anh, chị hãy viết một bài văn nghị luận ngắn gọn bàn về ý kiến cho rằng:
Cuộc đời là biển cả, ai không bơi sẽ chìm
Câu 2 (7,0 điểm)
“Chữ” trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một yếu tố
nghệ thuật góp phần khắc họa vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao
Ý kiến của anh, chị?
Câu 3 (7,0 điểm)
Đề thi chính thức
Trang 32Khi đánh giá về thơ trữ tình, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần(1)
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị(2)
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng(3)
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn(4) lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm
hàn
Chú giải: (1), (2), (3): Các địa danh ở Thanh Hoá, vùng quê của tác giả
(4)Hát văn (còn gọi Hát chầu văn), hát có đàn hoà theo, để ca tụng thần
thánh khi cúng bái hay lên đồng
(Theo Ngữ văn 12, tập một – Nhà xuất bản Giáo dục - 2008,
HƯỚNG DẪN VÀ BIỂU ĐIỂM CHẤM ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN - THPT BẢNG A
(Hướng dẫn và biểu điểm gồm 04 trang)
I Hướng dẫn chung
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi
9 - 1983
Trang 331 Là kỳ thi chọn học sinh giỏi môn Ngữ văn nên giám khảo(GK) cần nắm bắt được
nội dung trình bày trong từng câu của bài làm để đánh giá một cách tổng quát năng lực của thí sinh Chủ động vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm thi, cân nhắc từng trường hợp cụ thể, không đếm ý để cho điểm
2 Nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản, giám
khảo vẫn cho đủ điểm như hướng dẫn qui định Khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo và thật sự có “chất văn”
3 Điểm toàn bài 20, hướng dẫn chấm thi chỉ quy định một số mức cơ bản, các mức
điểm khác GK căn cứ thực tế vào bài làm của thí sinh để chấm và làm tròn điểm
số đến 0,5
II Đáp án và thang điểm
Câu 1 (6,0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội, có sự vận dụng kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp Ưu tiên những bài viết thể hiện dẫn chứng từ trải nghiệm của bản thân…
b) Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể nêu những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần hợp lí, chặt chẽ, thuyết phục Trên cơ sở xác định đúng vấn đề cần nghị luận là viết về một quan niệm nhân sinh mang tính hai mặt, thí sinh phải có vốn kiến thức, hiểu biết đời sống xã hội sâu rộng, nhằm thuyết phục thấu đáo những ý kiến của mình nêu ra Sau đây là những gợi ý:
có “phao”…
- Nhưng nhìn chung, những thành công trong cuộc sống chủ yếu đều là kết quả của những nỗ lực lớn lao…
3 Bài học bản thân
Trang 34- Quan niệm trên có tác dụng động viên, cổ vũ con người luôn nỗ lực, cố gắng vươn lên trong cuộc sống…
- Phương hướng, hành động nỗ lực của bản thân…
c) Cách cho điểm:
- Điểm 6: Đáp ứng các yêu cầu trên, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt
- Điểm 3: Trình bày được một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt
- Điểm 1: Nội dung sơ sài, diễn đạt kém
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề
Câu 2 (7, 0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận văn học, vận dụng khả năng đọc - hiểu để phân tích những nét đặc sắc của tác phẩm Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b) Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của“Chữ người tử tù”, về
phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân…thí sinh hiểu được trong tác phẩm đó, yếu
tố “chữ” đã góp phần quan trọng trong việc khắc hoạ vẻ đẹp hình tượng nhân vật
Huấn Cao và thể hiện quan niệm thẩm mỹ của tác giả Thí sinh có thể triển khai bài viết theo nhiều cách, sử dụng nhiều phương thức nghị luận khác nhau song cần hợp
lý, chặt chẽ, thuyết phục Sau đây là một số gợi ý:
1 Nêu vài nét về vai trò của các chi tiết, các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm văn học, về tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm “Chữ người tử tù” và nhấn mạnh trong tác phẩm “Chữ người tử tù”, để góp phần làm nổi bật vẻ đẹp Huấn Cao và bộc lộ tư
tưởng chủ đề tác phẩm, có nhiều yếu tố (thời gian - không gian nghệ thuật, hoàn
cảnh, tình huống…) trong đó “chữ” là một yếu tố quan trọng…
2 Vai trò của yếu tố “chữ” trong việc khắc hoạ vẻ đẹp hình tượng Huấn Cao :
- “Chữ” ở đây là “chữ” thánh hiền, là nghệ thuật thư pháp, là cái Đẹp “vang bóng một thời” “Chữ” trong tác phẩm là chữ của người tử tù, một người có tài hoa
tuyệt đỉnh, khí phách phi thường, thiên lương đẹp đẽ nhưng bị khép vào tội chết
- “Nét chữ là nết người” – “chữ” trong tác phẩm là nơi hội tụ vẻ đẹp của hình tượng
nhân vật Huấn Cao
+ “Chữ” là sản phẩm của cái Tài ( “cái người mà cả vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen
có tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”…)
+ “Chữ” là nơi gửi gắm, chứa đựng cái Tâm ( “Chữ thì quý thật”, “ Đời ta cũng
mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”…→ Yêu
chữ là yêu nghệ thuật thư pháp, yêu
cái Đẹp, chữ nối kết những tấm lòng đẹp…)
+ “Chữ” là nơi lộ diện cái Dũng ( “những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên
những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”…)