HỘI THẢO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN: “TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM” THÁNG 7/2020 Thị trường chuyển giao công nghệ Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0
Trang 1HỘI THẢO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN:
“TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM”
THÁNG 7/2020
Thị trường chuyển giao công nghệ Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 Vietnam's technology transfer market in the context of industrial revolution 4.0
Nguyễn Hoàng Tiến Đinh Bá Hùng Anh
Văn Hiến University
Tóm tắt: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (còn được gọi là cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0) được nhắc nhiều đến trong vài năm qua đã và đang mang lại cả cơ hội và thách thức, tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới Khoa học - công nghệ
sẽ biến những điều tưởng chừng không thể trở thành có thể Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm, dịch vụ tăng; chi phí thương mại giảm sẽ làm tăng doanh thu toàn cầu, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, nâng cao tính tiện ích cho cuộc sống cá nhân Cần phát huy, tận dụng thành tựu và hạn chế những mặt trái của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này như thế nào là vấn đề mà tất cả các quốc gia đều
phải giải quyết đặc biệt là trong khuôn khổ chuyển giao công nghệ quốc tế
Từ khóa: Chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp FDI, cuộc cách mạng công nghiệp
4.0
Abstract: The fourth industrial revolution that has been mentioned in the past few
years has brought both opportunities and challenges, affecting all countries in the world Science and technology will turn the seemingly impossible into possible Productivity, quality and efficiency of products and services increase Reduced commercial costs will increase global sales, promote the speed and quality of economic growth, and improve the utility of personal life How to promote, utilize the achievements and limit the negative sides of this industrial revolution 4.0 is a problem that all countries have to deal with, especially in the framework of international technology transfer
Key words: Technology transfer, FDI enterprises, industrial revolution 4.0
I.Dẫn nhập
Công nghiệp 4.0 có thể mang lại cho kinh tế Việt Nam một cơ hội hiếm để bứt phá và Việt Nam đang có sự chuẩn bị tích cực cho cơ hội này Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 được dự đoán sẽ tạo ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm, tạo cơ hội đầu
tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số, Internet Đồng thời cũng là
cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến Đối với Việt Nam, làm chủ công nghệ trong công nghiệp 4.0 dường như lại dễ dàng hơn so
Trang 2với trước đây Tuy nhiên để tận dụng được công nghiệp 4.0, các chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt Nam cần phải có một cách tiếp cận tốt hơn so với những gì đã làm với những cuộc cách mạng công nghiệp trước đây Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng Và để tìm hiểu sâu hơn về nền công nghiệp 4.0 chúng ta cần tìm hiểu về thị trường chuyển giao công nghệ 4.0 ở Việt Nam để giúp phần nào phát triển được nền kinh tế nước nhà
Để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức trong cuộc cách mạng công nghệ (CMCN) 4.0, Việt Nam đã, đang và sẽ kiên trì thực hiện quan điểm của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để cùng với nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự trở thành một trong ba đột phá chiến lược Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư bắt đầu từ thế kỷ XVIII có thể được mô tả như là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học,
và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp [3]
Xuất khẩu là một hoạt động quan trọng, đóng góp lớn vào phát triển kinh tế nói chung và sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.hiện nay, Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với những công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, người máy, internet của vạn vật, công nghệ nano, công nghệ sinh học phân tử, di truyền…đã và đang tạo ra các nhà máy thông minh, nhà máy số … mở ra khả năng giúp xuất khẩu đáp ứng về nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm xuất khẩu và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, bên cạnh đó cũng sẽ tạo ra không ít những thách thức cho doanh nghiệp trong nước Vậy đâu là hướng đi cho doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc cách mạng Công nghiệp này? [2]
Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư đang làm thay đổi cách thức sản xuất và chế tạo trong các “nhà máy thông minh” Tại đây, các máy móc được kết nối Internet
và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định sẽ thay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây [1] Nhờ khả năng kết nối của hàng tỷ người trên trên thế giới thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận được với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, Internet kết nối vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3 chiều, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử [4]
Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị nhằm nâng cao năng lực tiếp cận cuộc CMCN lần thứ 4 Sau hơn một năm triển khai, kết quả thu được đã có đóng góp tích cực và quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Thực tế cho thấy, việc khai thác đúng đắn và kịp thời những thách thức và cơ hội của cuộc CMCN 4.0 là những là cách thức chung của các quốc gia Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, thách thức đó ngày càng lớn.CMCN 4.0 mở cho chúng
ta nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ, năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra sự thay đổi lớn về mô hình kinh doanh bền vững và là cơ hội cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Cuộc cách mạng lần thứ 4 này còn mang
Trang 3lại niềm vui cho các nước đang phát triển, có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá bằng cách đi tắt đón đầu, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao hơn [5]
Tuy nhiên, nếu không có cách tiếp cận đúng đắn và bắt kịp trình độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về công nghệ, tình trạng dư thừa về lao động và sự bất bình đẳng trong xã hội.Bên cạnh
đó, sự liên kết và gắn kết trong thời đại CMCN 4.0 dẫn tới vấn đề biên giới mềm, quyền lực mềm, an ninh không gian mạng và vấn đề tội phạm công nghệ cao xuyên quốc gia Điều này đòi hỏi cần có sự ứng phó chủ động và kiểm soát tốt nhất để bảo đảm chủ quyền và an ninh cho người dân và đất nước.Xuất phát từ những phân tích trên, Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam nhận thấy cần phải có chủ trương, chính sách mang tính chất tổng thể, đột phá, mạnh mẽ và tạo đột phá hơn nữa để Việt Nam
có thể nắm được cơ hội, vượt qua thách thức, chủ động tham gia có hiệu quả vào CMCN lần thứ 4.Diễn đàn này là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa để các vị lãnh đạo Việt Nam lắng nghe ý kiến của các chuyên gia trong nước và quốc tế, giúp cho việc hoạch định chủ trương, chính sách Quốc gia trong thời gian tới nhằm hướng đến mục tiêu tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về CMCN lần thứ 4 [5]
II.Cơ sở lý luận
Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển giao các kỹ năng, kiến thức, các công
nghệ, các phương pháp sản xuất, các mẫu sản phẩm và các cơ sở giữa các chính phủ hay viện đại học và các học viện giáo dục khác để đảm bảo các sự phát triển và công nghệ có thể truy cập từ đa số người dùng, những người có thể phát triển và khai thác nhiều hơn công nghệ để chuyển thành các dịch vụ, vật liệu, ứng dụng, quá trình và sản phẩm mới Chuyển giao công nghệ có liên hệ gần gũi với (có thể tranh cãi xem như là tập con của) chuyển giao kiến thức Chuyển giao theo chiều ngang là sự vận động của các công nghệ từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác Chuyển giao theo chiều dọc khi các công nghệ được chuyển giao từ các trung tâm nghiên cứu ứng dụng đến các văn phòng phát triển và nghiên cứu [17]
Các nhà môi giới công nghệ là những người tìm kiếm cầu nối giữa các thế giới mới nổi và ứng dụng các quá trình hay các khái niệm đến các tình huống hay bối cảnh mới [18] Cách mạng công nghiệp là những diễn biến trong lĩnh vực sản xuất và là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật Cách mạng công nghiệp khiến lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo ra lượng của cải vật chất khổng lồ cho xã hội Năng suất lao động tăng nhanh, khoa học - công nghệ trở thành lực lượng lao động trực tiếp, phát triển kinh tế tri thức trở thành những đặc điểm chính của giai đoạn hiện nay Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng, cho đến nay lịch sử loài người đã và đang trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp, với những nội dung chủ yếu sau:
- Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra từ thế kỷ XVIII đến XIX ở châu Âu và Mỹ Đó là thời kỳ mà hầu hết nông nghiệp, xã hội nông thôn đã trở thành công nghiệp và đô thị Ngành công nghiệp sắt và dệt, cùng với sự
Trang 4phát triển của động cơ hơi nước, đóng vai trò trung tâm trong Cách mạng Công nghiệp
- Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ năm 1870 đến năm 1914, ngay trước Thế chiến I Đó là giai đoạn tăng trưởng của các ngành công nghiệp đã có từ trước và mở rộng các ngành mới, như thép, dầu, điện, và sử dụng điện để sản xuất hàng loạt Các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm điện thoại, bóng đèn, đĩa hát và động cơ đốt trong, [6]
- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, tạm được xem là cuộc cách mạng
kỹ thuật số, đề cập đến sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị cơ điện tử tương tự sang công nghệ số ngày nay Kỷ nguyên bắt đầu vào những năm
1980 và vẫn đang diễn ra Những tiến bộ trong Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm máy tính cá nhân, internet và công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).Tiến bộ trong Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm các máy tính cá nhân, internet, công nghệ thông tin và mạng xã hội
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được xây dựng dựa trên những Kỹ thuật
số, cuộc cách Mạng, đại diện cho những cách mới công nghệ trở nên nhúng trong xã hội và ngay cả cơ thể con người [7] Cách Mạng Công nghiệp lần thứ 4 được đánh dấu bởi công nghệ mới đột phá trong một số trường, bao gồm cả robotics, trí thông minh nhân tạo, công nghệ nano, công nghệ sinh học, Internet vạn vật, in 3D, và xe tự lái
Trong cuốn sách của mình mang tên "Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" Giáo sư Klaus Schwab, Người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã mô tả cuộc cách mạng lần thứ tư này khác biệt cơ bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ Các công nghệ này có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người trên web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh và tổ chức, giúp tái tạo môi trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn [6] Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể được mô tả như là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học, và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp [9] Trung tâm đến cuộc cách mạng này đang nổi lên những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D, và công nghệ nano [10] Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn liền với thuật ngữ
“Công nghiệp 4.0”, lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ Công nghệ ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2011 [11] Khái niệm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (FIR) lần đầu tiên được đề cập đến trong bản “Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao” được Chính phủ Đức thông qua vào năm 2012 Đây là một chương trình hỗ trợ của Chính phủ Liên bang Đức hợp tác với giới nghiên cứu và các hiệp hội công nghiệp hàng đầu của Đức nhằm cải thiện quy trình quản lý và sản xuất trong các ngành chế tạo thông qua “điện toán hóa” Từ đó đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để mô tả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời trong hoàn cảnh kinh tế thế giới đang phải trải qua những giai đoạn khó khăn, chủ nghĩa tư bản hiện đại tiếp tục phải
Trang 5điều chỉnh những bước đi mới sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt đầu vào năm 2008 Thế giới nhận thức được rằng, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi căn bản
mô hình phát triển theo hướng cân bằng hơn, hiệu quả và bền vững hơn Sau thời kỳ dài phát triển, với những thành tựu vượt bậc, loài người đã phải đối mặt với nhiều thách thức mang tính toàn cầu Đó là những nguy cơ về an ninh phi truyền thống đòi hỏi đẩy mạnh đầu tư, nghiên cứu đổi mới, sáng tạo, tìm ra các giải pháp công nghệ, tối
ưu hóa quá trình sản xuất theo hướng bền vững hơn [12] Hơn nữa, những thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó đã khiến các nước tư bản - trung tâm của cách mạng công nghiệp trở thành những “con sếu đầu đàn” của toàn bộ nền kinh tế thế giới Nhưng với sự lan tỏa và liên kết hiện nay, cùng với công cuộc chuyển giao công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ khiến Mỹ và các nước Tây Âu phải cạnh tranh với nhiều nền kinh tế mới nổi Do đó, các nước công nghiệp cần phải có những phát triển mang tính bước ngoặt hơn nữa, trước sức ép phải chuyển đổi mô thức kinh tế để tiếp tục duy trì vị thế dẫn dắt nền kinh tế thế giới, nhất là trong các ngành công nghệ cao Những ngành công nghệ cao kết tinh nhiều chất xám, trí tuệ con người đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra nhiều giá trị cho xã hội Nó chắc chắn sẽ trở thành xu hướng phát triển của thế giới trong những năm tới Ví dụ, Mỹ hiện đứng đầu về các nước đầu tư ngân sách cho các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D), chiếm 27% tổng chi phí R&D của thế giới (x), tiếp đó là Trung Quốc với 20% Hai nền kinh tế đứng đầu thế giới đã chiếm gần 50% chi phí nghiên cứu hiện nay của toàn cầu là minh chứng rõ ràng nhất cho tầm quan trọng của khoa học - công nghệ [13]
Đặc trưng cơ bản của CMCN 4.0 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa các quy trình và phương thức sản xuất, kinh doanh Trong đó, các công nghệ đang và sẽ tác động mạnh vào đời sống của con người là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây… Với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, trong tương lai không xa (dự kiến đến năm 2030) trên thế giới sẽ có 90% dân số sử dụng điện thoại thông minh, 30% công việc kiểm toán trong các công ty, doanh nghiệp được thực hiện bằng trí tuệ nhân tạo, khoảng 80% hình ảnh người dân hiện diện số trên internet, 10% ô-tô chạy trên đường ở Mỹ không cần người lái; lúc đó cũng xuất hiện dược sĩ robot đầu tiên và triển khai ghép tạng trên người bằng công nghệ in 3D…[14] Rõ ràng CMCN 4.0 sẽ mở ra kỷ nguyên mới của
sự lựa chọn các phương án sản xuất, kinh doanh, tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực; thúc đẩy năng suất lao động và hiệu quả; tạo bước đột phá về tốc độ phát triển cũng như làm biến đổi cơ bản hệ thống sản xuất và hoạt động quản trị xã hội cả bề rộng lẫn chiều sâu Bên cạnh những tác động tích cực to lớn, CMCN 4.0 đặt ra không
ít thách thức, nhất là sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu nguồn nhân lực và thị trường lao động Các hệ thống máy móc tự động hóa sẽ thay thế dần lao động thủ công trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, dĩ nhiên tỷ lệ lao động chất lượng cao ngày càng gia tăng khiến người lao động trình độ thấp hoặc không được đào tạo sẽ bị đào thải
III.Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Trước khi tìm hiểu về một vấn đề gì đó, ta nên nhìn xem cần sử dụng phương pháp nào để nghiên cứu về vấn đề mà ta đang quan tâm đến Phương pháp nghiên cứu
là một trong những vấn đề đầu tiên cần xác định, tùy từng đề tài, tùy mục đích nghiên cứu mà sử dụng khác nhau.Và về vấn đề công nghệ thông tin đang ngày càng tiên tiến như hiện nay, vì vậy ta nên chú trọng quan tâm đặc biệt đến.phương pháp sử dụng trong trong nghiên cứu khoa học là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả và chất lượng của nghiên cứu đó là phương pháp mà người nghiên cứu sử dụng Trên thực tế, đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, không có phương pháp nào được coi là hiệu quả tuyệt đối hay áp dụng được cho tất cả các đề tài Việc sử dụng phương pháp phù hợp phương nghiên cứu phụ thuộc vào sự hiểu biết của người nghiên cứu và đặc điểm của đề tài Phương pháp phân tích được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu về một vấn đề nào đó Tìm hiểu từng thông tin chi tiết, thu thập những nội dùng liên quan đánh giá và phân tích về vấn đề đó một cách cụ thể.và ta có thể nói đến thêm là phương nghiên cứu tài liệu là được sử dụng đầu tiên khi nghiên cứu về bất cứ vấn đề nào Mục đích của phương pháp này là để thu thập các thông tin liên quan đến
cơ sở lý thuyết vấn đề cần tìm hiểu, chủ trương chính sách liên quan đến đề tài các số liệu thống kê Nhiệm vụ của phân tích các vấn đề ở doanh nghiệp hay ở một tổ chức nào là căn cứ trên những nguyên tắc về những số liệu của doanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực trạng và triển vọng của hoạt động, chỉ ra được những mặt tích cực và hạn chế của vấn đề, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [15]
IV.Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tuy nhiên, việc chuyển giao công nghệ trong khu vực này còn hạn chế, cần có những cơ chế chính sách cũng như nỗ lực từ các doanh nghiệp trong nước để vốn FDI có hiệu quả lan toả lớn hơn Để có thể trả lời có câu hỏi, Việt Nam có thể bắt nhịp được không và nếu có, sẽ bắt nhịp như thế nào trong cuộc chơi công nghiệp 4.0 này, trước tiên phải nhìn vào hiện trạng Việt Nam Theo đánh giá của dự thảo về thực trạng Việt Nam và cách mạng công nghiệp 4.0 đó chính là thể chế Cụ thể, các chỉ số về chất lượng thể chế mặc dù đã có sự cải thiện nhưng vẫn còn thấp Ví dụ như chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 Việt Nam và ASEAN , Việt Nam đang đạt 51,2 điểm trên thang điểm 100, và xếp vị trí số 70 trên 120 quốc gia Bên cạnh đó, vảo vệ sở hữu trí tuệ được chỉ ra là kém và thể chế cho hệ sinh thái startup và thương mại điện tử chưa đầy đủ Ngoài
ra, bên cạnh khối doanh nghiệp FDI không có "nhu cầu" chuyển giao công nghệ, thì trình độ công nghệ thấp của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đang được xem là những hạn chế, khiến Việt Nam khó có thể tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư công đang dàn trải, không có tính nền tảng cũng là những yếu kém đã được chỉ ra
Xuất phát từ thực trạng, và cơ hội của Việt Nam trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một trong những giải pháp được đưa ra tại đề cương đó là sự chuyển đổi của bộ máy nhà nước sang kinh tế số cả về tư duy quản lý và công cụ quản lý Đây là
Trang 7điều kiện tiên quyết cho thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam Theo đó, các chuyên gia nhấn mạnh, môi trường thể chế quyết định việc doanh nghiệp có đầu tư đổi mới công nghệ và sáng tạo công nghệ hay không? Vì vậy, theo các chuyên gia, để đưa ra được một chiến lược phát triển công nghiệp 4.0 phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam, mặc dù đã có đánh giá thực trạng, tuy nhiên đề cương chiến lược khi đưa ra nên có sự tham khảo và kế thừa kinh nghiệm của khu vực và thế giới Bên cạnh
đó đề cương phải đưa ra được lộ trình thực hiện, có hạn đích năm của giai đoạn phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tính đến nay, Việt Nam đã thu hút được 25.949 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 326,3 tỷ USD, trong đó, 84% số dự án là đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài Vốn thực hiện luỹ kế ước đạt 180,7 tỷ USD bằng 56% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực Riêng trong 6 tháng năm 2018, chúng ta đã thu hút được 1.362 dự án cấp mới và 507 dự án điều chỉnh vốn và 2.749 dự án góp vốn mua
cổ phần với tổng vốn đăng ký là hơn 20 tỷ USD [19]
Đầu tư nước ngoài hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP Năm 2017, khu vực FDI đóng góp gần 8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng thu ngân sách Hiện nay, 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông… Vốn FDI giúp tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
và thay đổi cơ cấu lao động Tính đến nay, khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và 5-6 triệu lao động gián tiếp Đầu tư nước ngoài còn góp phần nâng cao trình độ công nghệ, tạo sức ép cạnh tranh Cùng với bổ sung vốn cho nền kinh tế, doanh nghiệp FDI sẽ góp phần chuyển giao kỹ năng quản lý cho người Việt, tạo sức ép cạnh tranh, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước Thông qua các dự án FDI, trình độ công nghệ sản xuất trong nước phần nào được nâng cao so với thời kỳ trước Do sự cạnh tranh ngày càng cao với các sản phẩm của doanh nghiệp FDI, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng cố gắng đổi mới công nghệ bằng việc nhập thiết bị và công nghệ mới để sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh, không thua kém hàng nhập khẩu, đây là chuyển giao công nghệ một cách gián tiếp Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương thẳng thắn cho rằng, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hoá thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp Việt để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển, hoạt động chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý chưa đạt kỳ vọng Đóng góp ngân sách nhà nước chưa tương xứng, một số doanh nghiệp có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế và vi phạm các quy định về xử lý môi trường Ông Trần Toàn Thắng, Trung tâm Thông tin và dự báo Kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, đổi mới công nghệ ở Việt Nam chưa bền vững
so với các nước xung quanh, tập trung vào giảm giá thành hơn là đưa ra sản phẩm mới
để chiếm lĩnh thị trường Các doanh nghiệp Việt Nam có sự thay đổi nhanh về năng suất, tuy nhiên, đóng góp của cải thiện công nghệ chưa nhiều Điều này đúng cho cả doanh nghiệp trong nước và FDI Đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thứ trưởng Nguyễn Thế Phương nhấn mạnh, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang
Trang 8diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng và nguyên vật liệu… “Mục tiêu về chuyển giao công nghệ trong thời gian qua chưa đạt được như mong đợi Sự lan toả công nghệ
từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn tới", lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói [20]
Việc chuyển giao công nghệ có những ưu điểm như giảm chi phí giao dịch - quản lý Tăng khả năng tiếp cận thị trường và cơ hội kinh doanh mới; cơ hội tiếp cận
và ứng dụng công nghệ hiện đại và từ đó tạo ra sự đột phá Phát huy tri thức của người Việt, tiếp thu tri thức của nhân loại thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có cơ hội tiếp cận hoặc thay đổi vượt bậc về công nghệ khai thác, sản xuất và chế biến sản phẩm.Cuộc cách mạng này không chỉ tăng năng suất và giảm lao động mà các bộ phận sản xuất chi tiết cũng sẽ được kết nối với bộ phận lắp ráp, bộ phận vận chuyển, cửa hàng phân phối và tiêu thụ để thành một thể thống nhất Chi phí vận chuyển và truyền thông sẽ giảm, hậu cần và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn và chi phí thương mại sẽ giảm, các thị trường mới được mở ra và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong khi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại những nước phát triển đã biết cách ứng dụng công nghệ với những khái niệm, như: Connected Consumer, Big Data
& Analytics, Automation để tìm hiểu về thị hiếu khách hàng, từ đó xây dựng phương
án kinh doanh thì đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam vẫn chưa tiếp cận được với các ứng dụng công nghệ trong Sales và Marketing
Bộ phận chuyên trách về công nghệ thông tin trong mỗi doanh nghiệp xuất nhập khẩu lại không phải là kinh doanh chuyên nghiệp, vì vậy, việc tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp xuất nhập khẩu cách ứng dụng công nghệ tối ưu nhất vào hoạt động thương mại còn nhiều hạn chế Vấn đề mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang lúng túng đó là người đứng đầu doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa biết phải xây dựng chiến lược như thế nào trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI
Cuộc cách mạng này thúc đẩy các DN xuất nhập khẩu phải tăng năng lực cạnh tranh của mình thông qua tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và giảm chi phí; Các
DN đầu tư cho khoa học công nghệ và sản phẩm mới, từ đó thúc đẩy thương mại điện
tử và hình thành các mô hình kinh doanh mới, cải thiện hiệu quả và tạo ra các loại hình doanh thu mới… Hiện tại, nhiều DN xuất nhập khẩu Việt Nam còn rất bị động với các
xu thế mới, họ chưa hiểu rõ bản chất của cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI, do vậy chưa tận dụng được xu thế công nghệ đến ngành, lĩnh vực của mình, bị động trong việc tiếp cận công nghệ, hệ thống hạ tầng
Trong một cuộc khảo sát về quan điểm đối với cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI được Hiệp hội DN nhỏ và vừa (DNNVV) Hà Nội thực hiện mới đây với 2.000 hội viên cho thấy, có 55%
DN đánh giá cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam; 23%
Trang 9đánh giá tác động bình thường; 11% đánh giá không tác động lắm và 10% đánh giá không tác động; 6% không biết Đối với vấn đề chiến lược kinh doanh, 79% DN trong
số này trả lời rằng họ chưa làm gì để “đón sóng" cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI; 55% DN cũng cho biết đang tìm hiểu, nghiên cứu, 19% DN đã xây dựng kế hoạch và chỉ có 12% DN đang triển khai Đối với các DN không quan tâm đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI, 67% DN không thấy liên quan và ảnh hưởng nhiều đến DN; 56% cho rằng lĩnh vực hoạt động của DN không bị tác động nhiều; 76% DN cho rằng chưa hiểu rõ bản chất cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI, trong khi đó, có đến 54% chưa có nhu cầu quan tâm
Hiện nay, trước làn sóng robot hóa thì việc đầu tư và ứng dụng công nghệ sẽ là yếu tố tiên quyết quyết định thành công trong cuộc cách mạng 4.0 Vì vậy, DN xuất nhập khẩu cần nhận thức thế mạnh riêng của mình để đưa ra chiến lược đúng đắn, đó
là cần có thêm thời gian thử nghiệm để tìm thấy ứng dụng tốt nhất trong toàn bộ dây chuyền sản xuất Theo đó, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu FDI tại Việt Nam như sau:
- Về mặt chính sách, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các
dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI sẽ tạo cơ hội cho kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Vấn đề này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến; có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Các quy định của pháp luật và các cơ chế chính sách cũng cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đảm bảo tạo môi trường pháp
lý, kinh doanh, thuận lợi, bình đẳng cho ứng dụng cho công nghệ, đẩy mạnh phát triển hạ tầng…
- Cần tăng cường nhận thức cho toàn xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu về xu hướng tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI Gần đây, Chính phủ đã yêu cầu các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan báo chí, các tập đoàn, tổng công ty phải làm tốt công tác truyền thông, tăng cường nhận thức
để toàn xã hội và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu về thời cơ, thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI
- Về đào tạo nguồn nhân lực, Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thông qua việc thay đổi cách tiếp cận giáo dục, đó là sự liên kết hợp tác thuận lợi giữa các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp
và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để cung cấp một môi trường thực hành cao, giúp người học tiếp cận các xu thế phát triển cũng như đáp ứng yêu cầu công việc sau tốt nghiệp
- Đối với công tác nghiên cứu và phát triển, Việt Nam cần tạo điều kiện để các DN xuất nhập khẩu tiếp cận nhanh hơn nữa với xu hướng khoa học công
Trang 10nghệ trong các lĩnh vực như vật liệu mới, năng lượng mới, kỹ thuật số, công nghệ thông tin, tự động hóa và trí tuệ nhận tạo, công nghệ sinh học… Cần sớm có chiến lược, giải pháp cụ thể để phát triển các ngành tự động hóa tích hợp với các công nghệ cao như công nghệ thông tin, chuỗi cung ứng thông minh, sử dụng hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ mới, tối ưu hóa mô hình kinh doanh với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Việc đầu tư kết cấu hạ tầng đòi hỏi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần nghiên cứu các công nghệ tiên tiến của cách mạng công nghiệp 4.0 trong khuôn khổ các dự án FDI và ngoài khuôn khổ các dự án FDI và ứng dụng chúng nhằm cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị Việc đổi mới về công nghệ cải thiện năng suất và hiệu suất về lâu dài Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải linh động điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu người tiêu dùng, tích hợp các công nghệ tiên tiến (rô bốt bán tự động, điện toán đám mây…) để ứng dụng quy trình sản xuất, giảm thời gian giao hàng, rút ngắn vòng đời sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo khả năng quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh…
Thứ nhất, để đáp ứng được nhu cầu nhân lực có chất lượng cao và đa dạng
ngành nghề trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và lĩnh vực của nền kinh tế 4.0, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu FDI tại Việt Nam phải đào tạo người lao động để tạo ra những
“sản phẩm”- người lao động có năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh
Thứ hai, đội ngũ quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu FDI tại Việt Nam phải
được chuyên nghiệp hóa và có khả năng sáng tạo cao, có phương pháp quản lý hiện đại với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT Ưu tiên nguồn lực để triển khai phát triển nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo
kỹ năng sử dụng công nghệ, góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận sử dụng công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong công tác xuất nhập khẩu
Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng CNTT trong toàn bộ doanh nghiệp từ quản lý và
điều hành đến xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu; trung tâm quản lý, điều hành tổng thể xuất nhập khẩu; đầu tư các thiết bị, hệ thống thông tin quản lý; ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động xuất nhập khẩu Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý, khai thác, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng của doanh nghiệp xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng Coi thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong công tác xuất nhâp khẩu
Thứ tư, tăng cường các hoạt dộng hợp tác đa phương, song phương trong các
lĩnh vực của xuất nhập khẩu Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý và xã hội phù hợp cho hoạt động xuất nhập khẩu
Thứ năm, xây dựng các chính sách cơ chế và các giải pháp có tính đột phá để
khai thác và huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng; trong
đó, đề xuất chính sách, cơ chế tài chính đặc thù để huy động vốn cho đầu tư phát triển
hệ thống hạ tầng, bảo đảm tính khả thi