Trong khi những quan điểm này rõ ràng thừa nhận sự phân tầng về chính trị xã hội nảy sinh ở Đông Nam Á, tôi có thể đưa những khẳng định này tiến thêm một bước nữa, lập luận rằng chứng cứ
Trang 1LAO ĐỘNG, ĐÔ THỊ HÓA, HÌNH THÁI NHÀ NƯỚC SỚM
Ở BẮC VIỆT NAM VÀ XA HƠN
NAM C KIM∗∗∗∗
Giới thiệu
Nghiên cứu khảo cổ học Đông Nam Á được tiến hành hơn nửa thế kỷ qua khi hòa bình trải rộng
khắp vùng này (Higham 2011: 652) Tuy nhiên, những tư liệu mới của Đông Nam Á vẫn ít ảnh hưởng phương Tây hơn nghiên cứu được
tiến hành ở Cận Đông, Trung Mỹ và
Đông Á Không giống với các nền văn
minh được biết đến trong lịch sử như
Angkor, Champa và Dvaravati, các xã
hội tiền sử Đông Nam Á rất thiếu
vắng trong các tranh luận so sánh Mặc
dù tình thế dần được cải thiện, nhưng
nhiều các giải pháp mang tính tổng hợp,
so sánh giữa các nền văn hóa về sự
hình thành nhà nước vẫn còn bỏ qua
vùng này (Cowgill 2004; Glover 1992:
7; Miksic 2000; Stark 2006a: 408),
cho dù có một số trường hợp ngoại lệ
đáng lưu ý (Bayard 1992; Higham
2002; Higham and Thosarat 2000;
Manguin 2004; Miksic 1991; Mudar
1999; O’Reilly 2000, 2003; Wheatley
1983; White 1995; Wisseman Christie
1995) Trường hợp sơ xuất rõ ràng này
là chưa may, khi có những ẩn ý quan
trọng trong dữ liệu của khu vực
GS TS Đại học Wisconsin, Madison, Mỹ
Ghi chú: Khu vực phân bố của hơn 100 di tích Đông Sơn
Khu vực tập trung các di tích Đông Sơn đậm đặc hơn
Hình 1 Bản đồ vùng Bắc Bộ và lưu vực sông Hồng của Việt
Nam Cổ Loa có vị trí phía Bắc Hà Nội ngày nay qua sông Hồng, và nó là di tích cư trú lớn nhất thời Đông Sơn
(Nguồn tư liệu: Higham 2002: 171; Bảo tàng Lịch sử Tp Hồ Chí Minh
Nguồn bản đồ: Tegan McGillivray)
Trang 2hóa chính trị ở bất kỳ nơi đâu ở Đông Nam Á không vượt quá nơi được coi thủ lĩnh quốc (chiefdom) Mới gần đây, các nhà nghiên cứu tiếp tục cho rằng các nhà nước sớm nhất ra đời trong thiên niên kỷ I AD, với sự phát triển mà đã thiết lập thời kỳ cho các nền văn minh được biết đến nhiều hơn và muộn hơn của vùng này như là Angkor và Pagan (Stark 2006a: 407; Higham 2002: 170; Higham 2009; Moore 2007) Trong khi những quan điểm này rõ ràng thừa nhận sự phân tầng về chính trị xã hội nảy sinh ở
Đông Nam Á, tôi có thể đưa những khẳng định này tiến thêm một bước nữa, lập luận rằng chứng cứ mới từ
Việt Nam cho thấy, những hình thái thậm chí sớm hơn của cả vấn đề đô thị hóa và thể chế nhà nước
Trong những thế kỷ cuối
cùng trước Công nguyên, vùng
đồng bằng sông Hồng (cũng được
gọi là Bắc Bộ) cho thấy thời kỳ
hưng thịnh của một xã hội cấp nhà
nước được đô thị hóa, như thể hiện
ở di tích Cổ Loa (Hình 1-2) Cổ Loa
là trung tâm của một xã hội tập
trung về mặt chính trị trong thế kỷ
III BC, được thiết lập trước một số
trong số các xã hội trong vùng được
biết đến về mặt lịch sử (Kim 2010)
Bao phủ 600ha, Cổ Loa là một trong
những khu cư trú tiền sử lớn nhất ở
Đông Nam Á; hầu hết hệ thống di
tích công sự tường thành bằng đất
vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay
Cổ Loa mang tính biểu tượng của
hình thức đô thị hóa của Đông Nam
Á lục địa, được ghi dấu bởi các
công trình kiến trúc bằng đất và hệ
thống dẫn nước Với gốc rễ tiền lệ
khác nhau về văn hóa có niên đại
vào đầu thời kỳ đồ Sắt sớm (khoảng 500BC), loại di chỉ cư trú lớn hơn này có thể được mô tả như là một truyền thống di chỉ cư trú có hào lũy, với những sự tương đồng trong quản lý nguồn nước ở các nơi
cư trú hạt nhân ở Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam Với những hiểu biết của chúng ta về
đô thị hóa của Đông Nam Á vẫn còn khiếm khuyết hiện nay (Junker 2006: 229-230), đô thị hóa Cổ Loa
và truyền thống được thừa hưởng của các công trình đắp đất cho thấy một dịp may để nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề đô thị hóa ở Đông Nam Á và sự phức tạp về mặt chính trị xã hội
Trong bài viết này, tôi bàn luận về di tích Cổ Loa trong bối cảnh Đông Nam Á với sự hình thành đô thị hóa và nhà nước Tôi đề cập đến các nhân tố kích thích những thay đổi về chính trị xã hội ở Bắc Bộ trong thời đại Kim khí, những biến tố đóng góp vào sự ra đời của chính thể Cổ Loa Thêm vào đó, tôi đề cập đến tính hoành tráng và chi phí lao động có liên quan của hệ thống vòng thành Cổ Loa, đặt
Cổ Loa vào những tranh luận lớn hơn về các xã hội được đô thị hóa, cấp nhà nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Kích cỡ và quy mô của công trình xây dựng hệ thống tường thành chắc có lẽ là cần những chi phí lao động khổng lồ và các hình thức tổ chức phức tạp, và bằng chứng hiện nay cho thấy nỗ lực xây dựng được duy trì và tập trung cao trong một thời gian tương đối ngắn Cả quá trình xây dựng
và tính chất lâu bền đặc biệt của di tích phản ánh độ đàn hồi về thể chế của chính thể Cổ Loa Cuối cùng
Hình 2 Ảnh Cổ Loa qua vệ tinh
(Nguồn: Digital Globe and ArchaeoTerra)
Trang 3thì các nhà lãnh đạo ở Cổ Loa đã vận dụng sức mạnh tổng hợp chưa từng có tiền lệ ở trong khu vực, và kích cỡ, quy mô của Cổ Loa cần thiết có một chủ quản có khả năng để tập trung các nguồn tài nguyên to lớn và sự chung sức trong một nỗ lực tổng hợp được duy trì thường xuyên cho xây dựng và bảo dưỡng
Sự phức tạp của Đông Nam Á
Đông Nam Á lục địa thường được xác định là một khu vực địa lý có sự đa dạng cao và nhìn
chung gồm phần lớn Campuchia, Lào, Malaysia, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam ngày nay (Hình 3)
(O’Reilly 2007:2-3) Trước giữa
những năm 60 của thế kỷ trước,
nhiều nhà nghiên cứu giải thích sự
phát triển của các xã hội phân tầng ở
Đông Nam Á bằng cách cho thấy
ảnh hưởng của cả hai nền văn minh
“tân tiến” hơn, văn minh Ấn Độ và
Trung Hoa cổ, và chuyển giao kỹ
thuật tiên tiến và các mô hình chính
trị bằng sự truyền bá, di cư, hoặc sự
áp đặt về quân sự và văn hóa đơn
giản (Bayard 1992: 13) Có lẽ bị ảnh
hưởng bởi lịch sử của chủ nghĩa
thực dân gần đây hơn, những quan
điểm về truyền thống từ đầu thế kỷ
XX cho thấy các xã hội Đông Nam Á
như là những phát sinh của xã hội
Trung Hoa và Ấn Độ đương thời
Tuy nhiên, nghiên cứu khảo cổ học
trong các thập kỷ gần đây cho thấy
một mô hình đơn giản về sự ảnh
hưởng đơn tuyến và sự tương tác có
rất ít giá trị Chắc chắn là, các cộng
đồng khắp Đông Nam Á đã có giao
tiếp trực tiếp và gián tiếp với nhau
cũng như với các cộng đồng gần gũi
trong thế giới văn minh Ấn - Hoa
Thế nhưng các quốc gia Ấn Độ và
Trung Quốc như ngày nay không tồn
tại cách đây 2.000 năm Vùng này là
kính vạn hoa của các xã hội, và các
mô hình của sự tương tác và những
thay đổi xã hội như hệ quả là phức tạp,
đa chiều và đa phương Các xã hội tham gia vào các hình thức giao tiếp quan trọng, trong đó có buôn
bán từ xa xôi rộng lớn, sự di chuyển của các tộc người và ý tưởng, và chu kỳ chiến tranh Do vậy,
sự phức tạp trong vùng có thể qui cho sự phát triển của văn hóa, địa phương, phối hợp với ảnh hưởng quốc tế và tương tác giữa các vùng Để thực hiểu tiến trình của những nền văn hóa mà đã sản sinh những nền văn minh lịch sử nổi tiếng của khu vực, các nhà nghiên cứu cần đánh giá các khuynh hướng
và sự phát triển diễn ra trước thời đại Đồ đá mới và thời đại Kim khí Các nhà nước cổ và các nền văn
Hình 3 Bản đồ về Đông Nam Á lục địa, với một số di tích
lựa chọn được đề cập trong bài viết
(Nguồn bản đồ: Tegan McGillivray, University
of Wisconsin, Madison)
Trang 4minh đô thị hóa của khu vực như nền văn minh Angkor, Champa, Dvaravati và Pyu (hay Tircul), có niên đại vào thiên niên kỷ thứ nhất và thứ hai đầu Công nguyên và được biết đến qua sự kết hợp các chứng cứ khảo cổ học, các văn khắc và các tư liệu thu thập nguyên bản
Khi khu vực này được dẫn chứng với bằng chứng về đô thị hóa và các chính thể chính trị phân tầng, các trường hợp thường là từ khối lịch sử chung này (Mudar 1999: 1) Ví dụ, Kealhofer và Grave (2008: 200) vẫn khẳng định rằng, chứng cứ tốt nhất về các thành phố sớm này được tìm thấy ở Thái Lan, nơi được gọi là trung tâm Dvaravati của cuối thiên niên kỷ I đầu Công nguyên Dẫu vậy, tôi muốn cho rằng nền móng sớm hơn của các xã hội đô thị và phân tầng có niên đại vào những thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên Những hình thức đô thị hóa như vậy là rất rõ ràng ở Cổ Loa và Khao Sam Kaeo (Bán đảo Thái -
Malaysia; Hình 3) Có hai lý do chính tại sao tính phân tầng và đô thị hóa thời tiền sử không được thừa nhận một cách đầy đủ Thứ nhất là, khu vực này thiếu các thông tin về nơi cư trú toàn diện, một kẽ hở
đã làm cho nghiên cứu so sánh về sự phát triển đô thị hóa mang tính thách thức Thứ hai là, sự nhấn
mạnh hơn là ở kiến trúc đồ sộ của các di tích lịch sử hiện còn Các thành phố như Angkor, Bagan, Beikthano, Halin, My Son, Nakhon Pathom, Óc Eo, Sri Ksetra và Trà Kiệu, trong số các thành phố khác, đã thu hút sự chú ý của cả các nhà khảo cổ học chuyên nghiệp và nghiệp dư, đặc biệt là sự hiện diện của các văn khắc tại nhiều di tích Vì vậy, đô thị hóa và tính phân tầng, dễ phát hiện và xác định với các trường hợp này hơn là các trường hợp trước
Tình thế này có vai trò trong việc làm xuất hiện trường phái tư duy chủ đạo có liên quan đến các
xã hội tiền sử Cụ thể là nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng “nhà nước” không tồn tại ở Đông Nam Á trước kỷ nguyên lịch sử (Bacus 2004; Higham 1996, 2002; Junker 1999; Murowchick 2001; O’Reilly 2007; Tessitore 1989; Wheatley 1983) Ví dụ, Wheatley (1983: 93) công nhận sự tồn tại của chế độ tộc trưởng
có trung tâm Cổ Loa, một cảm nhận lập lại bởi Higham (2002: 170) trong việc đề cập đến chế độ tộc trưởng ở đồng bằng sông Hồng Những viễn cảnh này xuất hiện có thể hiểu được là do sự thiếu tư liệu
đáng tin cậy nói chung từ những nơi như Cổ Loa, cho đến tận gần đây Với tư liệu sẵn có ngày càng
nhiều, tôi tin rằng bây giờ cần thiết phải suy nghĩ lại quan điểm này đối với các xã hội có niên đại như Stark (2006b: 147) đề cập là thời kỳ lịch sử sớm (khoảng 500BC - AD500)
Các thể chế phân tầng, lớn hơn, và nổi tiếng hơn, được ghi dấu bởi quyền lực, các thể chế, chế
độ quan liêu có bản chất lâu dài hơn, được đề cập đến như là nhà nước cổ xưa, nhà nước - thành phố,
nhà nước địa phương, và các đế chế (Haas 2001; Stanish 2010; Trigger 2003; Wright and Johnson 1975; Yoffee 2005) Ngoài tính chất cấp bậc, trung tâm hóa và chuyên môn hóa, chính quyền của chính thể nhà nước cần cho thấy quyền lực lâu dài và sự bền lâu của các thể chế Nói chung, các xã hội loại trung, phi nhà nước hoạt động trên nguyên tắc cấp bậc và đặc quyền, nhưng những thể chế chính trị thường không duy trì được sau khoảng một thế hệ, và những xã hội này thiếu các loại cấu trúc quan liêu, lâu dài
mà thường liên quan đến nhà nước Đối với Đông Nam Á, tôi cho rằng Cổ Loa cho thấy tính lâu bền của các thể chế chính trị trong các thế kỷ cuối trước Công nguyên
Chắc chắn là, sự tập trung về chính trị, đô thị hóa và số dân cao không phải điều kiện tiên quyết cho tính phân tầng Tính phức tạp đối với những phần khác của Đông Nam Á có thể có đặc trưng bởi cấu hình không phân cấp, đặc biệt là những nơi có mật độ dân số thấp hơn (O’Reilly 2003; White 1995), hay có cấu trúc chính trị tập trung hóa yếu hơn (Junker 2004: 226) Tuy nhiên, tính phức tạp ở đồng bằng sông Hồng theo một đường tiến triển khác, vì nó là nơi cư trú cho mật độ cư dân cao hơn đáng kể Mãi đến những thế kỷ gần đây, hầu hết Đông Nam Á, với ngoại trừ có thể là Bali, Java, và những phần
ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, có mật độ dân số quá thấp liên quan đến đất đai và nguồn tài nguyên
(Junker 2004: 229-230; Reid 1988, 1992) Tóm lại, Cổ Loa có thể cung cấp tư liệu cho những biến số hiểu biết quan trọng trong phát triển tính phức tạp về mặt xã hội ở các nước Đông Nam Á và xa hơn
Trang 5Những nơi cư trú có hào bao quanh của Đông Nam Á
Một đặc tính quan trọng chung của nhiều thành phố thời kỳ cổ xưa và lịch sử sớm của
Đông Nam Á lục địa là việc quản lý nước Các di tích như Angkor, Beikthano và Nakhom Pathom nhìn
chung cho thấy có liên quan đến việc quản lý nước, cùng với sự hiểu biết rất tinh tế về những yêu cầu
kỹ thuật Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì kiểu mưa, tính chất gió mùa, đặc biệt ở những vùng
đồng bằng ngập lụt và vũng trũng, gây ra những đợt có lượng mưa cao thấp khác nhau Trong suốt lịch
sử của mình, vùng Đông Nam Á đã chứng kiến nhiều kiểu loại kiến trúc cấp thoát nước, từ những hệ thống quy mô nhỏ với các đập nước đơn giản, đến hệ thống các kênh quy mô lớn (Wolters 2007: 209)
Ví dụ, một loạt các thành phố có hào bao quanh ở đồng bằng miền Trung Thái Lan trong thời kỳ Dvaravati (khoảng thế kỷ VI - XII AD) (Indrawooth 2004: 132; Mudar 1999) Nhiều trong số các loại hình
cư trú này là gần nguồn nước để có thể cung cấp nước cho các thành lũy (Indrawooth 2004: 125-126) Ở Miến điện vào thiên niên kỷ 1 đầu Công nguyên, hệ thống thủy lợi tinh vi ghi dấu các nhà nước - thành phố của Pyu hay Tircul là Beikthano, Halin, Kyaikkatha và Sri Ksetra (Moore và Win 2007; O’Reilly 2007: 7-31)
Ở Campuchia, quyền lực của đế chế Khmer (khoảng thế kỷ VIII - XVI) đã dựa trên sự tinh thông về
quản lý nước (Moore 1992: 26), cùng với các nơi cư trú như Angkor được phân loại là thành phố
“thủy lợi” (Groslier 1960)
Những hệ thống quản lý nước phức tạp này không bỗng nhiên xuất hiện sau một đêm, nguồn gốc của chúng có thể được tìm thấy trong các hình thức cư trú trước đó rải rác khắp vùng Các nơi cư trú như Angkor tiêu biểu cho đỉnh cao của việc phát triển đô thị diễn ra hơn một thiên niên kỷ Đối với các di tích cư trú tiền Angkor, kiểu có hào bao là rõ ràng ở các di tích thuộc giai đoạn của chính thể
được gọi là Phù Nam ở những khu vực dẫn nước sông Mêkông của Đông Nam Campuchia và Nam Việt
Nam ngày nay (O’Reilly 2007: 99-108; Stark 2006c) Những di tích này có thể bao gồm những nơi quan trọng như trung tâm Angkor Borei của khu vực và thương cảng Óc Eo, những ví dụ của đô thị hóa thời lịch sử sớm (Stark 2006b)
Những tài liệu vật chất của thiên niên kỷ I BC đã cho thấy kiểu loại chung của những thứ tương tự, những thiết kế và thử nghiệm thậm chí còn sớm hơn Các loại hình cấu tạo hạt nhân khác nhau diễn ra trong những khu vực, nơi quản lý nước là rất quan trọng cho cách sống và “truyền thống” cư trú có hào bao này, có thể đã xuất hiện trong thời đại Sắt sớm (khoảng 500BC), nếu không phải là sớm hơn Hầu hết các di tích hình tròn thời tiền sử ở Đông Nam Á lục địa, có niên đại từ 500BC đến thế kỷ IX AD, cho thấy một cách điển hình về một loại hình có thể so sánh của các thành lũy, vùng trũng và khu cư trú bên trong (Dega 2002: 14) Hàng trăm các ví dụ chứng thực cho bản chất then chốt của việc bảo tồn và điều khiển nguồn nước (Moore 1992: 26) Nhiều di tích cư trú lớn có thành lũy và hào bao quanh của thiên niên kỷ I BC
được tìm thấy nhiều nơi ở Campuchia, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam ngày nay, mặc dù chức năng và
niên đại chính xác của một số nơi là chưa rõ ràng (Albrecht và nnk 2000; Dega 1999; Fletcher và nnk 2008; Higham 2002; McGrath and Boyd 2001; Moore 1988, 1989, 1992, 2007) Những nơi cư trú này, cho thấy mức độ của tính biến đổi quan trọng, như là một phần của một loại rất phổ biến mà trong đó các cộng
đồng địa phương tận dụng rộng rãi các công trình đắp đất và các thành phần hào bao Các di tích này có
thể có chức năng như những nơi cư trú kiểu đô thị sơ khai, gồm nơi ở, sản xuất và tổ chức nghi lễ
Về cơ bản, truyền thống nơi cư trú có hào bao là rõ rệt vào nửa sau thiên niên kỷ I BC Tôi sử dụng thuật ngữ “truyền thống” ở đây một cách nôm na, đề cập đến sự thích nghi để giải quyết các vấn
đề chung về quản lý nước Các kỹ thuật thay đổi cảnh quan tiêu biểu cho một hình thức đáp ứng về mặt
cơ khí tối ưu cho việc quản lý nguồn nước, với hoàn cảnh môi trường, nguồn tài nguyên và công nghệ sẵn có Tất nhiên, không phải tất cả các cộng đồng nằm trong phạm vi truyền thống này đều trực tiếp giao tiếp với nhau Chắc chắn là, các hình thức và việc sử dụng các nơi cư trú này là rất khác nhau qua thời gian và không gian, vì các bối cảnh văn hóa và tính địa phương của chúng cũng rất khác nhau
Trang 6Tuy nhiên, rõ ràng là, khi xem xét vô số các địa điểm cư trú được qui hoạch và xây dựng một cách có ý thức, sử dụng nhiều thay đổi để giải quyết những việc liên quan đến việc sử dụng
và tín ngưỡng về nước
Trong phạm vi vùng thượng Miến Điện, nhân tố sinh thái chủ đạo nhất là sự khô cằn giữ một vai trò trong ứng lực kỹ thuật về nước ở các di chỉ có tường bao như Beikthano (Moore and Win 2007: 202) Trái lại, các di chỉ ở vùng hạ Miến Điện, chẳng hạn như Thaton và Kyaikkatha, có lượng mưa cao cùng với ngập lụt nước mặn (Moore and Win 2007: 204) Sự đa dạng này về môi trường đã dẫn đến đa chức năng của các công trình có hào bao Sự thay đổi cảnh quan trọng đại bắt đầu với sự xuất hiện các di tích
có tường bao tiền thân (khoảng 200BC - AD900) có liên quan đến nhóm Pyu Tạng - Miến và nhóm tộc người Môn Nam Á (Moore 2007: 10) Moore và Win (2007: 207) tin rằng, những tường thành đầu tiên của vùng là những vòng thành tự nhiên được hình thành trong môi trường cảnh quan nhất định Nếu như vậy, hình thức sớm hơn của truyền thống nơi cư trú có hào bao có thể được cảm hứng từ những thành tạo diễn ra một cách tự nhiên, với các đặc tính kiểm soát nước hiển nhiên đã sẵn có
Các biến tố của truyền thống nơi cư trú có hào cũng có thể được thấy ở phía tây của Nam Á, cho thấy mức độ nào đó của sự giao tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau Các di tích thời đại đồ Sắt (khoảng 700 - 350BC) ở
Ấn Độ như Kausambi, Varanasi, và Pataliputra, cũng có những đường đê đắp đất và hào bao (Indrawooth 2004)
Các chức năng giả định của những công trình này có thể đầu tiên là để kiểm soát lũ lụt, với những sửa
đổi để làm công sự sau đó (Indrawooth 2004: 133) Các di tích có tường bao khác ở Ấn Độ cũng có niên đại từ thiên niên kỷ I BC, chẳng hạn như Sisupalgarh, Rajgir, và Satanikota, cho thấy một công trình có
các vòng thành bao quanh trước khi chính thể của khu vực này phát triển (M L Smith 2003: 278) Trong nhiều trường hợp, các giai đoạn xây dựng tường thành đầu tiên bằng bùn lấy từ hào kế cạnh, với gạch xây vững chắc được thêm vào ở các thời kỳ sau
Gần với Việt Nam hơn, một số di tích có hào bao được phân bố ở cao nguyên Khorat ở Đông
Bắc Thái Lan (Hình 3) Các di tích này có những nơi cư trú trong phạm vi thung lũng sông Mun, chẳng
hạn như Non Dua, Noen U-Loke và Non Muang Kao, cũng như trong thung lũng Chi, chẳng hạn như Non Chai và Ban Chiang Hian (Higham 1996: 214-215; 2002: 193-204; Moore 1988, 1992; Welch and McNeil 1991) Nhiều trong số các di tích này có đồi gò lớn bao phủ 50ha, được bao quanh bởi cái mà
được diễn giải là hào bao (Higham and Thosarat 2000: 28) Nhiều trong số các công trình có hào bao có
niên đại trong giai đoạn ngắn từ giai đoạn giữa đến cuối thời kỳ đồ Sắt (khoảng AD 1 - 600) (McGrath
và Boyd 2001)
Với nghiên cứu phạm vi rộng về các di tích có nước bao quanh ở cao nguyên Khorat, Moore (1988, 1992: 28) chỉ rõ các loại di tích được bao kín nói chung kéo dài từ thời đại Đá mới qua thời đại
đồ Sắt gồm có: loại đồi - hào không định chuẩn, loại không định chuẩn về mặt bình đồ và loại hình
chữ nhật Loại đầu tiên với đặc điểm có mặt cắt hình đồi - hào lũy và hào bao có hình dạng theo chu
vi của đồi gò cư trú Loại thứ nhất tiêu biểu bao gồm gần 100 di tích, đó là vùng đất được bao quanh bởi công trình đất đắp bên ngoài có diện tích trung bình là 25ha Các ví dụ về loại 2 có xu hướng rộng hơn về kích cỡ, lên tới 89ha Loại thứ 3, có bình đồ đồng đều hơn, gồm có một loạt kích cỡ từ 1 - 100ha (Moore 1992: 28) Đó là các di tích khép kín có hình chữ nhật, các di tích này có thể nhìn thấy được trong không ảnh như đường nét chính hoặc là dạng hình khối đặc; rõ ràng rằng nhiều trong số khu đất
có rào vây này là di tích cư trú lâu đời trước khi xây dựng các công trình hình chữ nhật ở đó (Moore 1992: 30-31) Nhìn chung, Moore (1992: 43) đã nhận thấy trong cái thế liên hoàn chắc chắn này có một điểm nối chung trong việc sử dụng nước, cũng như các mô hình chuyển đổi có liên quan đến đô thị hóa, nghệ thuật và tôn giáo
Trang 7Ở những nơi khác, số lượng lớn các di tích đắp “đất đỏ” hình tròn ở Đông Nam Campuchia và Nam
Việt Nam, chẳng hạn như Krek 52/62, cũng có những đường đê và hào bao quanh có lẽ có niên đại vào thiên niên kỷ I BC (Albrecht et al 2000: 43; Dega 1999, 2002) Hơn 30 công trình đắp đất tròn trong khu vực này theo ghi chép là vùng thượng nguồn từ châu thổ sông Mêkông, chạy suốt 55km dọc theo cao nguyên đá basalt, hơi lệch hướng nam - bắc (Dega 1999: 184) Các nơi cư trú, được xem là các làng bản trồng lúa, có
đường đê đắp đất hình tròn đồng tâm bao quanh hào, hay vùng trũng bên trong và các di tích có đường kính
từ 200m đến hơn 250m (Albrecht et al 2000) Ví dụ Krek 52/62 có đường kính bên ngoài là khoảng 255m (Albrecht et al 2000: 28) Dựa trên những phát hiện từ Krek 52/62 và nơi khác, các di chỉ này có lẽ có niên
đại vào thiên niên kỷ I BC; chúng có thể là di tồn của một thực thể kinh tế, xã hội, văn hóa và thậm chí là cả
chính trị nữa (Albrecht et al 2000: 41, 43) Nhìn chung, các di tích đắp đất đỏ hình tròn của Campuchia và Việt Nam tương phản với các di tích ở Đông Bắc Thái Lan (Albrecht et al 2000: 30; Dega 1999: 188) Các
di tích đắp đất hình tròn ở Campuchia và Việt Nam mang dấu ấn bởi các bố trí đặc trưng và đồng nhất; còn các dạng di tích tương tự ở Thái Lan có thể bắt nguồn từ các bản sao đặc điểm phong cảnh tự nhiên và cho thấy khả năng biến đổi cao về hình thể và kích cỡ Các di tích của Thái Lan cũng lớn hơn đáng kể (diện tích trung bình là 30ha), trái lại di tích đất đỏ lớn nhất là dưới 5ha
Trên bán đảo Thái Lan - Malaysia, một ví dụ khác về truyền thống này là Khao Sam Kaeo (khoảng thế kỷ IV - II BC) Di tích này có hệ thống đường đê và đường cống rãnh phức tạp, cho thấy ranh giới của đô thị (Bellina-Pryce and Silapanth 2006) Có một số nét giống với hệ thống công sự ở Cổ Loa,
hệ thống công trình đất đắp phức tạp của Khao Sam Kaeo bao kín những khu vực sản xuất thủ công chuyên môn hóa, và là bằng
chứng cho sự trao đổi
(Bellina-Pryce and Silapanth
2006: 286) Nói chung, di chỉ
này là một chính thể sớm quan
trọng có các dấu hiệu của đô
thị hóa và trao đổi qua vùng
châu Á với những dấu ấn Ấn
Độ hóa (Bellina-Pryce and
Silapanth 2006: 285) Tuy có
sự khác biệt mang tính tiểu
vùng, địa phương, tranh luận
ngắn này cho thấy một mô
hình cư trú chung bao quanh
bởi nước, với hàng trăm các ví
dụ theo tư liệu (Kim and
Carter, tư liệu chưa công bố)
Nhìn chung, Moore (1992: 26)
đã nhận ra một quá trình phát
triển của nơi cư trú có nước bao quanh, những khu đất khép kín với đồi gò - hào không đồng đều, từ có thể
là khu bao quanh gò - hào tự nhiên không định hình đến các di tích dạng vùng miền và sau đó là hình chữ nhật, lớn hơn, quy mô hơn Hình như có một số loại hình tiểu vùng và địa phương của truyền thống lớn hơn này (ví dụ, đông bắc Thái Lan, Nam Campuchia/Việt Nam, Miến Điện và các khu vực khác ở Đông Nam Á) Công tác điền dã trong tương lai ở các khu vực khác nên tìm thêm các trường hợp nữa thuộc loại di tích này, ví dụ như ở Lào
Hình 4 Ban Chiang Hian qua vệ tinh (Nguồn: Internet)
Trang 8Di tích Cổ Loa là một bản mẫu quan trọng có lẽ được sinh ra từ truyền thống chung này, có thể
có điểm tương tự lớn hơn - mặc dù trên một quy mô lớn hơn nhiều - với các khu bao quanh có hình
dạng không đồng đều của Đông Bắc Thái Lan, như Ban Chiang Hian (Hình 4) Hệ thống các hào rãnh
đầy nước theo mùa ở Cổ Loa có lẽ sẽ tạo thuận tiện cho giao thông và di chuyển khắp địa điểm này
Nếu tin vào truyền thuyết, có lẽ các lực lượng hải quân cũng như các nhà buôn, nông dân và các thành viên khác của cộng đồng đã sử dụng hệ thống này (Lại Văn Tới, thông tin cá nhân 2009; Larew 2003: 15) Căn cứ vào môi trường, một trong những chức năng của hệ thống có thể là để điều chế nước lũ theo mùa và cung cấp nước cho nông nghiệp Trong môi trường phát triển đô thị Đông Nam Á, với các di tích như Angkor thuộc thời kỳ gần hiện đại hơn, trong khi đó nhánh đô thị Cổ Loa ở điểm giữa chuyển tiếp dọc theo diễn tiến lịch sử từ những di tích có hào bao nhỏ hơn của thời đại Sắt sớm đến các đô thị
có nước lớn của kỷ nguyên lịch sử (Stark 2006a: 417-418) Với diện tích 600ha, Cổ Loa ngang tầm quan trọng với các di tích hơi muộn hơn, thuộc sơ sử hay lịch sử sớm như Angkor Borei và Óc Eo, với các khu vực được bao kín là 300ha (Angkor Borei ) và 450ha (Óc Eo) Đối với thời đại Sắt sớm, Cổ Loa
là di tích lớn nhất trong hệ thống cư trú tương đương trong phạm vi truyền thống được ghi dấu bởi việc quản lý nước và các công trình đất đắp và khu vực được bao quanh quy mô lớn, cho thấy xu hướng tiến tới hình thức đô thị hóa mạnh hơn và phân tầng hóa chính trị có thể là sau đó trong thời kỳ lịch sử sớm Như đã nói, quy mô của loại hình quản lý nước của Cổ Loa là lớn hơn nhiều so với các các di tích cư trú thời lịch sử cùng thời khác Nhân tố nào đã góp phần vào hiện tượng Cổ Loa, và làm thế nào để nó có thể thông tin những điều đáng lưu tâm hơn về đô thị hóa phôi thai và sự hình thành nhà nước? tôi ngờ rằng sự gần gũi với các sự kiện chính trị xã hội quan trọng ở miền Bắc có thể là một trong những biến
số quan trọng; những điều này sẽ được khám phá ở mục sau
Cổ Loa: bối cảnh lịch sử và những phát hiện gần đây
Các nền văn hóa sơ khai của Việt Nam đã làm thành một phần không thể thiếu các đường chuyển và phát triển của lịch sử và văn hóa địa phương ở vùng đồng bằng sông Hồng Tiền - Sơ sử của khu vực, đặc biệt trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn thời đại Sắt (khoảng 600BC - AD200), khẳng định sự tồn tại của một xã hội phân tầng sớm, bằng chứng cho điều này đã được trình bày trong các công trình khác (Higham 1996: 134, 2002; Kim 2010; Miksic 2000; Murowchick 2001; Phạm 1996, 2004; Tessitore 1989; Wheatley 1983: 278-279) Công tác khảo cổ học đang được triển khai ngày càng làm sáng tỏ cho
sự phát triển xã hội thời Đông Sơn, nơi mà các chính thể phân tầng đã thống trị dân số lớn đáng kể sống trong những khu sản xuất nông nghiệp năng xuất cao trong vùng cao và vùng đồng bằng thấp hơn của đồng bằng sông Hồng (Miksic 2000; Stark 2006a; Tessitore 1989; Wheatley 1983) Sự phân tầng xã hội phát triển và tính phức tạp đạt đỉnh điểm trong củng cố quyền lực chính trị ở những thế kỷ cuối trước Công nguyên tại di tích Cổ Loa, một trung tâm của xã hội mang chính tên nó (Kim 2010; Kim et al 2010)
Cổ Loa cách Hà Nội ngày nay 17km về phía bắc, với hầu hết các tường thành của nó vẫn tồn tại trong tình trạng hư nát khác nhau, ở một số nơi chiều rộng lên tới 30m ở phần chân và 10m chiều cao Hệ thống tường thành bao gồm 3 vòng thành bằng đất, với vòng ngoài cùng có chu vi xấp xỉ 8km, bao quanh gần 600ha Thành Trung và Thành Nội có chu vi lần lượt là gần 6,5km và 1,65km (Nguyễn and Vũ 2007) Khu vực này liên tục có người ở kể từ cuối thời đại Đá mới (Lại Văn Tới 2004)
Trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã tranh luận những điều kiện xây dựng đầu tiên của
di tích và các vòng thành, cơ bản dựa vào tư liệu của Trung Quốc và các truyền thuyết của Việt Nam (O’Harrow 1979) Điểm tranh cãi chính là nhận dạng văn hóa của xã hội chịu trách nhiệm cho việc thành lập Cổ Loa và xây dựng các vòng thành của nó và việc xây dựng này là do dân bản địa hay những
kẻ xâm chiếm nước ngoài thực hiện Cụ thể là, các nhà nghiên cứu từ lâu đã băn khoăn liệu công trình hoành tráng của di tích Cổ Loa được xây dựng sau việc củng cố sự thống trị của người Hán phong kiến
ở trong vùng hay không (khoảng thiên niên kỷ I AD), hay có lẽ chúng được xây dựng bởi các xã hội bản
Trang 9địa trước khi bị người Hán thôn tính Không ngạc nhiên khi các tư liệu của Trung Quốc cho thấy rằng,
nhà Hán đã đụng độ với người thổ dân man rợ ở đồng bằng sông Hồng và cần phải “văn minh hóa” cư dân địa phương, những người thiếu sự tinh tế về nông nghiệp, luyện kim và chính trị (Cherry 2009: 130; Higham 1989, 2004; O’Harrow 1979; Taylor 1983; Tessitore 1989) Trái lại, truyền thuyết của Việt Nam có liên quan đến sự ra đời của những vương quốc bản địa hùng mạnh trước khi người Hán tới, xác nhận rằng
Cổ Loa có chức năng như là một thủ đô của một chính thể phân tầng của người Việt trong thế kỷ III BC (Miksic 2000; Taylor 1983: 20-23; Tessitore 1989; Wheatley 1983: 91-93) Tư liệu của người Hán và truyền thuyết của Việt Nam là vấn đề cho các nguyên nhân có liên quan đến định kiến phong kiến, tự hào dân tộc và độ tin cậy vào thông tin chịu sự thay đổi khi chúng được truyền lại qua một thiên niên kỷ
Do vậy, tư liệu vật chất vẫn là thiết yếu để làm sáng tỏ
Tôi đã tiến hành điều tra điền dã ở Cổ Loa năm 2007 và 2008 Dự án Thành Trung và Hào lũy
Cổ Loa, cuộc khai quật có hệ thống và quy mô lớn đầu tiên về các địa điểm công sự của nó, đã xem xét tường thành bằng đất và hào/rãnh bao bên ngoài để thu thập bằng chứng văn hóa và niên đại Tôi đã trình bày các phát hiện chính chi tiết ở công trình khác (Kim 2010; Kim et al 2010) và chỉ tóm tắt thông tin thích hợp dưới đây
Trong khu vực khai quật, dạng tồn tại cuối cùng của vòng thành là cao xấp xỉ 4,3m và rộng 26m ở chân thành Đại đa số đất sử dụng để xây dựng vòng thành được lấy trực tiếp từ hào ở mặt tiền bên ngoài của nó, điều đó đã được khẳng định bằng phân tích địa tầng và kiểm tra lõi khoan (Kim 2010)
Có thể nhìn thấy rõ trong phạm vi địa tầng một vài chuỗi lớp xây dựng với các kỹ thuật xây dựng khác nhau, bao gồm đất đắp đơn giản cùng với các hình thức đất đắp lên Nói chung, các lớp đất xây dựng có thể nhóm lại thành 3 giai đoạn chính (sớm, giữa và muộn) dựa trên các giai đoạn xây dựng chính với một số giai đoạn Những sự kiện xây dựng chính này được xác định qua phân tích địa tầng, các hiện vật tại chỗ, và chuỗi xác định niên đại radiocarbon và nhiệt huỳnh quang, với Phân khúc 1 rơi vào thời kỳ sớm, Phân khúc 2-4 tương ứng với thời kỳ giữa và Phân khúc 5 vào thời kỳ cuối (Kim et al 2010) Thích hợp với tranh luận trong bài này là Phân khúc 2-4 của việc xây dựng thành Trung, thời kỳ xây dựng với khối lượng lớn
Tài liệu địa tầng và phép đo phóng xạ đã cho thấy một cách rõ ràng rằng, phần lớn tường thành này (giai đoạn giữa: Phân khúc 2-4) được xây dựng mà không có sự gián đoạn nào Mười mẫu than củi
từ Phân khúc 2-4 đã được phân tích để xác đinh niên đại C14 cho thấy, chuỗi niên đại xấp xỉ 300 - 100 cal BC (Kim và nnk 2010: 1021) Các niên đại sớm hơn có vị trí ở các địa tầng thấp hơn và niên đại muộn hơn
có vị trí ở Phân khúc 4, gần với bề mặt hơn Có sự thiếu vắng của các lớp có thể nhận thức rõ là địa tầng
tự nhiên hay sự phơi trần trên bề mặt lâu dài mà có thể hy vọng là những khoảng trống về thời gian giữa các thời kỳ Trên Phân khúc 4, phương pháp xây dựng và hiện vật cho thấy các lớp trên của thành Trung tương ứng với giai đoạn muộn (Phân khúc 5) và có lẽ được tiến hành bởi một xã hội hay một thực thể chính trị khác như là một phần trong các chỗi sự kiện của thời kỳ tân trang lại thành
Việc xây dựng tường thành bắt đầu với nền móng bằng đất đào lấy từ khu vực hào rãnh, nơi các tảng đất được đào lên, trung chuyển và đắp lên tạo mặt nền phẳng Các lớp đắp đầu tiên bao gồm những
gì cho thấy là lớp đất mặt của các ruộng lúa (Kim và nnk 2010) Quan trọng là điều này ám chỉ việc trồng trọt lúa gia tăng trong phạm vi khu vực Cổ Loa trước khi xây dựng tường thành Việc xây dựng tường thành (Phân khúc 2) có lẽ bắt đầu khoảng cuối thế kỷ IV - đầu thế kỷ III BC Hầu hết các hiện vật của giai đoạn giữa, bao gồm ngói mái và đá, thu được từ Phân khúc 4 ở khoảng 1m dưới bề mặt thành hiện tồn (Kim 2010) Những viên ngói này là một phần của di tồn vật chất của hoàng gia hay tầng lớp quan lại của văn hóa Cổ Loa, tương tự với vật liệu tìm được trong các cuộc khai quật năm 2004 - 2005 ở khu Thành Nội (Kim 2010; Kim và nnk 2010; Lại Văn Tới 2005) Vật liệu liên quan đến văn hóa Cổ Loa chỉ được tìm thấy trong dải đất của di tích Cổ Loa, trong khi đó các hiện vật của thời kỳ văn hóa Đông Sơn
Trang 10khoảng cùng thời được tìm thấy trong khắp khu vực Bắc Bộ trong các bối cảnh khác nhau Vì sự khác biệt then chốt này, tôi đề cập đến thời kỳ giữa (khoảng 300BC - 100BC) là thời kỳ Cổ Loa Các cuộc
điều tra chỉ ra rằng, ngói mái nằm ở toàn bộ chiều dài của Thành Ngoài và Thành Trung, trong cùng
là Vương quốc Âu Lạc, chịu tránh nhiệm về sự hình thành Cổ Loa và việc xây xựng thành lũy của nó (Bellwood 1992: 125; Tessitore 1989: 36) Như đã nói, tôi giả định tính chất cùng thời tương đối cho
hệ thống tường thành như điểm khởi đầu cho việc đánh giá và định lượng của những yêu cầu về xây dựng hệ thống
Các nhà khảo cổ học đã nhận biết từ lâu tính hữu dụng của năng lượng học của kiến trúc trong việc đưa ra những đầu mối về quyền lực chính trị và sự phân tầng về mặt chính trị xã hội trong việc lượng hóa chi phí lao động cho việc xây dựng các công trình, các dinh thự, và các đặc điểm đặc trưng (Abrams 1994; Abrams and Bolland 1999; Arco and Abrams 2006; Craig et al 1998; Erasmus 1965; Joyce 2004; Kaplan 1963; Kirch 1990; Sherwood and Kidder 2011; Trigger 1990) Tất cả các loại xã hội ở các cấp độ phức tạp khác nhau đã tham gia vào việc xây dựng công trình Tất nhiên, có các trường hợp khảo cổ học
và nhân chủng học có quy mô nhỏ hơn, các xã hội phi nhà nước tham gia vào kiến trúc công trình, nơi mà các công trình công cộng được xây dựng có tính cộng đồng và trải qua quá trình hoàn thiện dần trong các thời kỳ dài lâu với các thành phần công việc có tầm cỡ và không cần sự quản lí hay thúc ép cấp nhà nước (Craig et al 1998; Erasmus 1965: 278; Kaplan 1963; Milner 2004: 302; Parkinson 2002) Nói chung, tính hoành tráng phi nhà nước,
thậm chí cả khi trên quy
mô lớn, có xu hướng lớn
dần một cách tự nhiên,
diễn ra qua những khoảng
thời gian dài và với các
đặc điểm kiến trúc đôi khi
kỷ, chứ không phải là vài thế kỷ hay thiên niên kỷ
Hầu hết hệ thống tập trung của Cổ Loa cho thấy có liên quan trong thiết kế nói chung, dựa trên bằng chứng hiện có và các manh mối từ truyền thuyết gợi cho thấy sự sáng tạo có suy nghĩ trước và có
kế hoạch trung tâm hơn Thiết kế nói chung của Cổ Loa và tính táo bạo của công trình cho thấy ý định rằng hệ thống tường thành, một khi được đặt đúng chỗ, sẽ tiếp tục tồn tại qua thời gian, phục vụ nhiều
Hình 5 Các số đo chung của Thành Trung ở Cổ Loa
Trang 11chức năng khác nhau Ngoài hệ thống ngăn chặn và phòng thủ, các vòng tường có thể tiếp tục cho thấy tính lâu bền của quyền lực chịu trách nhiệm cho phận sự và công việc nó đảm nhiệm Sự bền bỉ như thế chắc chắn cần phải có sự đầu tư nguồn lực và lao động liên tục để duy trì, kéo dài các chi phí xây dựng
vô hạn định Đây là điểm nổi bật, đặc biệt là khi chúng ta xem xét bản chất của nguyên vật liệu được sử dụng - đất trồng và đất sét so với các dạng lâu bền hơn như đá và gạch Tính khẩn trương tương đối của
dự án xây dựng và những đòi hỏi cần thiết cho việc bảo quản vô hạn định kết hợp cho thấy: (1) Tầm nhìn tập trung hóa và việc thực hiện kế hoạch lớn hơn; (2) Việc quản lý được duy trì và định hướng các
nỗ lực xây dựng và các nguồn lực cần thiết; (3) Sự sẵn có của lao động và nhân sự ngoài việc xây dựng để duy trì vô thời hạn và (4) Việc sẵn có của lực lượng quân sự quy mô lớn cho các vị trí người phòng thủ Những đặc điểm này cho thấy mức độ quản lý tập trung, có thể qua tự nguyện, nô lệ, hoặc lao động khổ sai Những dấu hiệu của việc đưa ra quyết định, quản lý, hay cai trị tập trung hóa cho thấy bộ máy chính trị
được củng cố, thể chế hóa mạnh mẽ và tập trung trong tay của một số rất ít người
Loại nguồn lực và các đòi hỏi lao động gì mà vòng thành cần có? Higham (1996: 122) ước tính khoảng 2.000.000m3 vật liệu được vận chuyển trong xây dựng hệ thống phòng thủ Cổ Loa Tôi sử dụng những đo đạc vòng thành đã được biết để đưa ra những tính toán độc lập, bao gồm các kích cỡ quan sát
ở vị trí khai quật Thành Trung gần đây (Hình 5) Các kích cỡ nói chung cho cả 3 vòng thành dựa trên
các cuộc điều tra thực địa gần đây và các báo cáo được công bố (Kim 2010; Nguyễn 1970; Nguyễn and Vũ 2007) Tuy nhiên những ước tính không bao gồm bất kỳ một đòi hỏi nào về vật liệu hay lao động nào để xây thêm các tòa nhà và các công trình đặc trưng của chúng mà có thể ghi dấu cảnh quan của khu trung tâm đô thị này Do vậy, những sự ước tính được đưa ra ở đây là sự đánh giá tối thiểu, và khiêm tốn về những nhu cầu xây dựng cuối cùng của di tích (Kim 2010)
Tổng cộng lại, sự ước tính khiêm tốn cho lượng đất được vận chuyển để xây dựng vòng thành có thể xấp xỉ 1.057.100m3 cho cả 3 vòng thành Những ước tính này không thể tính đến các thế
kỷ của sự phân hủy và tình trạng bỏ hoang có thể làm giảm các kích cỡ nói chung, hoặc chưa tính đến các thành phần kiến trúc nói chung chẳng hạn như là đài quan sát, trạm gác, ụ hỏa hồi, lối đi, mái che (có thể có), cổng, mặt tiền bằng gạch hay đá, khóa nước , tất cả có thể làm tăng chi phí xây dựng nói chung Tính đến những kiến trúc xây thêm, quan trọng là hơn 1.000.000m3 nguyên liệu có thể đã được vận chuyển để xây dựng hệ thống đầu tiên Như đã đề cập, hơn 1.000.000m3 là điểm khởi đầu thích hợp
để tranh luận
Để quyết định một tỷ lệ xây dựng thích hợp, quá trình và hoạt động xây dựng cần phải xem xét,
bao gồm cả sự khai thác và thu mua, chuyên chở và tập kết nguyên liệu, và các kỹ thuật xây dựng thực tế
Có một tài liệu quan trọng về các trường hợp lịch sử và khảo cổ từ việc xác định niên đại và địa lý thể hiện sự ước tính chi phí lao động cho các công trình xây dựng khác nhau qua việc phân loại các kỹ thuật xây dựng và đào đất (Abrams và Bolland 1999; Arco và Abrams 2006; Bachrach 2000; Billman 2002; Burke 2008; Chantaratiyakarn 1984; Coningham 1995; Erasmus 1965; Erdosy 1988; Moore 1988) Ở một nghiên cứu khác (Kim 2010), tôi đã xem xét tư liệu về các trường hợp so sánh này như là điểm khởi
đầu để quyết định việc thiết lập tỷ lệ công việc hợp lý trong vùng nhiệt đới Tôi cho rằng ngày làm việc
5 giờ đồng hồ có thể là hợp lý cho các lao động có cường độ cao với việc xây dựng - khai thác triền miên vì những rủi ro của việc quá sức và suy kiệt vì nóng Hơn nữa, tôi tranh luận một cách dè dặt rằng, một người có thể khai quật 1m3 đất mỗi ngày, và cần 2 người nữa để chuyển đất lên bờ và đến nơi tập kết
Điều này đặc biệt thành vấn đề với hố đào sâu Thêm vào đó, cần phải tính đến ít nhất là 2 người để xây
dựng các lớp của thành, đặc biệt các công đoạn đầm đất, việc mà có thể bao gồm cả việc xây dựng các trụ gỗ để đổ đất đầy vào Với những đòi hỏi này, tôi cho rằng sự ước tính khiêm tốn, an toàn là 5 người/m3 đất một ngày cho toàn bộ quá trình khai thác và xây dựng Dựa trên sự ước tính 1.057.100m3
Trang 12cho toàn bộ khối lượng tường thành, điều này có thể lên tới tổng cộng 5.285.500 người/ngày để xây dựng hệ thống thành
Giả sử rằng công việc có thể được tiến hành quanh năm mà không hề ngừng nghỉ, một tỷ lệ khiêm tốn là 5 người/m3 cho dự án xây dựng bao gồm 1.000.000m3 đất có thể đòi hỏi xấp xỉ 150 năm,
15 năm và 1,5 năm cho lực lượng lao động tương ứng là 100 người, 1.000 người, và 10.000 người Tuy nhiên, những hạn chế tiềm tàng có nguồn gốc từ các nhân tố kinh tế và xã hội, cùng với điều kiện thời tiết, cần phải được tính đến Các nhân tố xã hội như vậy có thế có liên quan đến tín ngưỡng về các khoảng thời gian lao động thích hợp, lao động có liên quan đến nông nghiệp, sự dao động trong số lượng lao động,
và nhiều các biến tố và hoàn cảnh có thể khác Làm việc quanh năm là không thể Một kịch bản có thể hơn là những năm lao động cục bộ, có thể có ảnh hưởng quan trọng đến thời gian hoàn thành dự án Ví dụ,
sự ước tính 175 ngày trên một năm làm việc có thể đáp ứng được những đòi hỏi xấp xỉ 300 năm, 30 năm,
và 3 năm cho lực lượng lao động tương ứng từ 100 người, 1.000 người, và 10.000 người (Bảng 1)
Bảng 1 Yêu cầu về lao động để xây dựng vòng thành trong các năm*
(*) Chi phí lao động xây dựng vòng thành, giả định cần 5 người 1 m3 đất một ngày bao gồm đào đất, chuyển đất, tập
kết và xây dựng Tổng số lượng đất nguyên liệu giả định là 1.057.000m3 trên 5.285.500 người/ngày.
Nói chung, có lý khi cho rằng lực lượng lao động từ 1.000 đến 10.000 người có thế có khả năng hoàn thành nhiều việc xây dựng tường thành ở bất cứ đâu từ 3 đến 50 năm, và điều này giả định một tỷ
lệ dè dặt là 5 người/m3 Tôi thừa nhận rằng khung thời gian tổng thể là 2 đến 3 thế hệ mới có thể đủ để hoàn thiện đại đa số hệ thống tường thành
Tổ chức xã hội thể hiện bằng xây dựng
Những di tồn của các thành phố cổ và kiến trúc vĩ đại của chúng là trong số những biểu hiện vật chất đáng kể nhất của các nhà nước và các nền văn minh tiền công nghiệp (Nichols 2006: 334)
Đại đa số các trường hợp nơi mà năng lượng học về kiến trúc được áp dụng có thể là một phần, nhưng
là theo kinh nghiệm, mô tả sự phức tạp của xã hội qua phép đo quyền lực, chính quyền và những liên quan về mặt lãnh thổ như được phản ánh bởi chi phí xây dựng đồng thời và quy mô (Abrams and Bolland 1999: 271) Kiến trúc vĩ đại có thể cho thấy lao động dư thừa có thể được các hoạt động khác cuốn hút, cùng với một tổ chức chính trị xã hội với khả năng để bố trí đủ cho xây dựng (Carneiro 2010)
Sự phức tạp chính trị xã hội lớn của các chính thể kinh điển của Đông Nam Á trong kỷ nguyên lịch sử
được chứng thực rõ ràng bởi quy mô kiến trúc hoành tráng được thể hiện ở những nơi cư trú như
Angkor, Nakhon Pathom, và các thành phố, các di chỉ khác được ghi dấu bởi hệ thống dẫn nước tinh vi
và các công trình tôn giáo hoành tráng Đối với nhiều di tích cư trú có hào lũy thời đại Sắt sớm có niên
đại từ một đến hai thiên niên kỷ sớm hơn, quy mô xây dựng và khu cư trú là hoàn toàn khác nhau Đối
với phần lớn Đông Nam Á lục địa, những di tích cư trú tiền hay sơ đô thị xếp loại theo không gian khép kín từ vài héc ta đến vài chục héc ta Có khả năng là các xã hội nhỏ hơn này có thể xây dựng các hệ thống đê và hào lũy khác nhau trong phạm vi các di tích nhỏ hơn này, hầu hết các nhà nghiên cứu đều
Trang 13miễn cưỡng nhìn nhận những di tích cư trú thời Sắt sớm này của thiên niên kỷ I BC như là đã được đô thị hóa hoặc có liên quan đến sự phân tầng xã hội quan trọng
Tuy nhiên, ở đồng bằng sông Hồng, tôi khuyến nghị rằng hệ thống các vòng thành và hào lũy của
Cổ Loa đòi hỏi một hình thức về qui hoạch hóa trung tâm và định hướng tinh vi hơn nhiều Các vòng thành Cổ Loa không bao gồm kết tập đất đơn giản, để đóng khuôn và định hình về sau Mỗi chuỗi xây dựng là rất phức tạp và cho thấy sự lo xa và sự hiểu biết cần thiết về kết cấu đất và những yêu cầu về kỹ thuật
Sự phức tạp về địa tầng trong việc xây dựng các công trình bằng đất có thể tiết lộ sự phức tạp trong qui hoạch hóa với các yếu tố được cân nhắc như sự chuẩn bị địa điểm, sự khai thác các nguyên vật liệu khác nhau và sự phân bố lao động… (Sherwood and Kidder 2011) Thậm chí, sự lựa chọn và chuyên chở đất và bùn cát cho thấy các quyết định có liên quan đến tổ chức lao động, nhịp độ xây dựng và sự hiện diện của các đường nét kiến trúc (Sherwood and Kidder 2011: 69) Những dự án như vậy đòi hỏi những kiến thức,
kỹ năng, qui hoạch, điều phối đáng kể và có lẽ cả sự chú ý vào ý nghĩa biểu tượng và nghi lễ Mỗi một bước của quá trình xây dựng cần cả loạt quyết định có liên quan đến chuẩn bị đất đai, sự chuẩn bị vật liệu xây dựng, phân bố lao động và các kỹ thuật xây dựng thực tế Những bước xây dựng này và những lựa chọn về văn hóa có liên quan mã hóa thông tin về một xã hội cũng như nền kinh tế, chính trị của nó, và vốn văn hóa của những nhà xây dựng (Sherwood and Kidder 2011: 69) Vì vậy, điều quan trọng là các nhà nghiên cứu nhìn nhận vật liệu xây dựng và các quá trình xây dựng như là “di vật”, điều mà Sherwood và Kidder (2011) đã đưa ra
Khi các lớp xây dựng ở vòng thành Cổ Loa được nhìn nhận như là một di vật, cấp độ quản lí
và qui hoạch định hướng có thể là cực kỳ quan trọng; điều đặc biệt như vậy là, với chuỗi radiocarbon trong phạm vi phần chính của vòng thành, cho thấy việc xây dựng nhanh chóng, chứ không phải là xây đựng dần dần thêm vào Cấp độ cao của sự điều phối có thể là cần thiết cho các giai đoạn chuẩn bị, xây dựng và bảo dưỡng khác nhau Rất có thể là vòng thành này được ủy thác và xây dựng theo kiểu liên tục, với phạm vi và quy mô ám chỉ đến qui hoạch trung tâm và sự tinh thông về sự tập trung lao
động khổng lồ Lực lượng lao động cộng đồng của một xã hội phi nhà nước, quy mô nhỏ có số lượng
100 người có thể đòi hỏi hơn 300 năm (một phần) với tỉ lệ 5 người/m3 một ngày, và điều này giả định một công việc liên tục không ngừng nghỉ quanh năm trong 3 thế kỷ Khung thời gian này không nhất quán với bằng chứng niên đại C14 và địa tầng Tôi thấy điều không thể rằng hệ thống công sự là kết quả của đồ quyên tặng của cộng đồng và các gia đình Sự khởi đầu, định hướng và hoàn thiện có thể cần một thể chế hùng mạnh hơn
Lao động đã được tổ chức như thế nào để xây được những vòng thành này? Mặc dù có những trường hợp mà việc tham gia vào xây dựng công trình đồ sộ có thể là bắt buộc thay vì “hành động được ghi nhận về mặt xã hội” (Sherwood and Kidder 2011: 84), với bản chất của việc xây dựng như công sự và tính chất khẩn trương, đại đa số những người lao động của Cổ Loa có lẽ là bị bắt buộc, có thể ở các cấp độ khác nhau Tuy nhiên, điều này không loại trừ một khả năng rằng, một số người có thể tham gia tự nguyện như là một phần ý thức trách nhiệm hơn với sự đồng nhất của một đô thị chung Cơ chế mang lại sự ưng thuận tham gia, một cơ chế có tính ép buộc theo bản chất và cơ chế khác có tính hợp tác hơn và được thuyết phục bởi sự hấp dẫn quan điểm trách nhiệm chia sẻ, là không một chút nào loại trừ nhau Đối với khu vực di tích Poverty Point ở Bắc Mỹ, Gibson (2004: 267) cho rằng, khả năng của “nghĩa vụ làm từ thiện”,
ở những nơi mà các cộng đồng được lợi về mặt tinh thần từ quyền lực với sự hiện diện của những di tích đồi gò đất đắp có thể có ước muốn trả lại món nợ này thông qua hiến tặng lao động Cảm nhận về trách
nhiệm này có thể áp dụng cho các biểu tượng vũ trụ học như các công trình đắp đất, tuy nhiên vì có rất ít
Trang 14bằng chứng rằng các vòng thành Cổ Loa vốn được nhận thức như là một phần cảnh quan có ý nghĩa về nghi lễ hay vũ trụ học - mặc dù điều này không ngăn ngừa được ý nghĩa vũ trụ học ngày càng tăng cho các vòng thành đang được hoàn thiện Tuy nhiên, sự thúc đẩy cơ bản cho việc xây dựng chúng có lẽ bắt nguồn
từ động cơ chính trị hay quân sự, như được tranh luận dưới đây
Ví dụ, về việc xây dựng tường thành ở thành phố Trịnh Châu, Thorp (2006: 85) xác định sự ổn
định kinh tế và xã hội quan trọng, song song với qui hoạch lâu dài, đòi hỏi phải giữ một dự án quy mô
như vậy liên tục nhiều năm và một yếu tố bắt buộc có thể cần thiết thế nào để thực hiện việc hoàn thiện một nhiệm vụ đầy thử thách to lớn như vậy Một thành phần quản lý tập trung cao độ có lẽ là cần thiết, củng cố thêm ý tưởng rằng mầm mống cấp nhà nước là thích hợp từ khi bắt đầu cho đến hoàn thiện Một sự diễn giải như vậy là thích hợp cho Cổ Loa, vì một mức độ xây dựng được duy trì và kiên định
để bảo đảm việc hoàn thiện nhanh chóng, cùng với việc cung cấp các dụng cụ và phương tiện sinh sống
cần thiết cho hàng ngàn công nhân, có thể cần phải có một tổ chức rất quyền lực và tập trung hóa, một
tổ chức mà sở hữu những phương tiện để ép buộc và thúc ép Cơ bản mà nói, việc xây dựng thời kỳ Cổ Loa,
có nhiều những đòi hỏi to lớn về lao động, tương ứng với một xã hội cấp nhà nước, tập trung chính trị
và rất phân tầng Một xã hội như vậy có thể sở hữu quyền lực và quản lý cần thiết để khởi hành, thực hiện và hoàn thành việc xây dựng với quy mô khổng lồ và chưa từng có tiền lệ trong một thời gian
được giao như vậy
Ước tính số dân thời đại Sắt cho khu vực châu thổ sông Hồng
Vì sự khan hiếm tư liệu về định cư, các nhà khảo cổ quan tâm đến Đông Nam Á tiền sử không
có cơ sở vững chắc để lập biểu đồ về sự thay đổi dân số theo thời gian Trường hợp của châu thổ sông Hồng cũng không khác gì Tuy nhiên, Cổ Loa có thể minh họa sự kết hợp nguồn lực và các phương pháp tiếp cận có thể cung cấp điểm khởi đầu cho việc xem xét các cấp độ dân số tiền sử như thế nào Ngày nay,
đồng bằng sông Hồng lấy làm kiêu hãnh về một trong những số dân đông nhất Đông Nam Á hiện đại
(Nishimura 2005: 99) Trường hợp trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên là gì? Những nghiên cứu về nơi cư trú được tiến hành ở nơi cư trú, các hộ gia đình và các cấp độ vùng miền có thể cho sự
ước tính sáng suốt về kích cỡ, sự phát triển và suy thoái của các mức số dân của các xã hội cổ đại, đặc
biệt khi sử dụng điều tra có hệ thống trên quy mô lớn (Fang et al 2004: 79) Không may, không có cuộc
điều tra của vùng miền một cách toàn diện nào được thực hiện ở khu vực Cổ Loa, và chúng ta hiện tại đang thiếu tư liệu về cư trú và di tồn cấu trúc nơi cư trú ở di chỉ và vùng xung quanh Đây là vấn đề của Đông Nam Á nói chung Vì vậy, để nhằm trả lời các câu hỏi có liên quan đến dân số, tôi dựa vào 2
nguồn thông tin chính, đó là ghi chép văn bản và so sánh về giao lưu văn hóa Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh rằng những khẳng định có liên quan đến ước tính số dân của Cổ Loa và vùng lân cận được thừa nhận là
cơ bản và có tính suy đoán cao Thêm vào đó, tôi không cố gắng để cho thấy những thay đổi số dân cụ thể theo thời gian, vì ý định của tôi đơn giản là cung cấp một góc nhìn mang tính minh họa
Bằng chứng văn bản
Suy diễn về kích cỡ dân số thời đại đồ Sắt của vùng Bắc Bộ được hỗ trợ bằng tư liệu điều tra dân số của thời Hán thu thập trong thế kỷ II cho mục đích thu thuế và cống nộp, mặc dù những số liệu này có thể có định kiến hoặc không chính xác Tuy nhiên, những tư liệu như vậy cung cấp điểm bắt
đầu có giá trị, và theo như ước tính của nhà Hán, vùng Bắc Bộ là vùng có dân số đông nhất ở thời nhà
Hán phía Nam sông Dương Tử, với tổng số dân ước tính cho lãnh thổ thời sơ sử của Việt Nam là 981.735 người trong 143.643 hộ gia đình (O’Harrow 1979: 156) Quận Giao Chỉ (Chiao-chi) trải dọc theo biển Đông 1.000 dặm (1.600km) từ Hương Cảng ngày nay đến Huế ở miền Trung Việt Nam, là trung tâm nhân khẩu học của vùng biển Đông, có lẽ giúp giải thích tại sao người Hán lại khó nhọc để
Trang 15thôn tính Bắc Bộ trong thế kỷ I AD, vì họ không thể kiểm soát được nền kinh tế của vùng biển Đông, và bảo đảm sự tiếp cận không giới hạn đến các tuyến đường buôn bán phía Nam, trừ khi họ thống trị được khu vực chiến lược này và cư dân sơ sử Việt Nam những người làm chủ về mặt nhân khẩu học ở vùng này (Taylor 1983: 54) Vào thế kỷ II, vùng này đã là một trung tâm buôn bán sầm uất với các hộ gia
đình buôn bán hàng ngoại nhập và kiểm soát các tuyến đường buôn bán với miền Nam xa xôi
(Holmgren 1980: 71)
Nếu việc tính toán dân số thậm chí chính xác một chút thôi, thì hợp lý là hàng chục nghìn người nếu không phải là hàng trăm nghìn người, sống ở châu thổ sông Hồng 3 thế kỷ sau khi Cổ Loa
được thành lập Một phần mức độ dân số gia tăng là do người Hán nhập cư Tuy nhiên, sự di cư chắc
chắn không thể tính đến cho số lượng lớn con người ở vùng này Có bằng chứng cho thấy rằng mức
số dân ở Bắc Bộ không bị ảnh hưởng đột biến bởi dòng người từ phương Bắc tràn vào cho đến tận thế
kỷ II (Holmgren 1980: 66) Thật hợp lý là trung tâm đô thị của Cổ Loa và vùng xung quanh nó có thể
hỗ trợ một cách dễ dàng cho số dân tối thiểu hàng ngàn người Dựa trên tư liệu hiện vật, các xã hội
Đông Sơn của giữa đầu thiên niên kỷ I BC tham gia vào sản xuất nông nghiệp thâm canh Một nền
sản xuất như thế, với sự xuất hiện của lưỡi cày kim loại, bò kéo chắc chắn sẽ mang lại dư thừa và có thể bảo đảm cho mật độ dân số đáng kể cho khu vực Bằng chứng của thời kỳ Cổ Loa cho thấy nền sản xuất tập trung hóa bằng lưỡi cày đồng, cho thấy hơn nữa việc thâm canh nông nghiệp (Nguyễn và Nguyễn 1983) Việc cày bừa như thế đại diện cho sự thay đổi cấp tiến, tạo khả năng dư thừa lương thực nhiều hơn nhu cầu sinh tồn (Higham 2002: 177) Ở đầu thời kỳ Cổ Loa (khoảng 300BC), khu vực này có thể có số dân lớn sinh sống
Ước tính số dân bằng cách sử dụng phép so sánh tiền sử
Khi bàn đến việc ước tính dân số mang tính định lượng trong giao lưu văn hóa cho các nhà nước cổ xưa, sự thiếu vắng các số liệu nhân khẩu học có thể so sánh được, thiếu sự nhất trí trong các vấn đề như vậy, và hàng loạt ước tính kích cỡ khổng lồ (Feinman 1998: 97-98) Thiếu sự đồng thuận có thể qui cho những thách thức trong việc thu thập số liệu đáng tin cậy qua các phương pháp và các nguồn nhất quán Trái lại, những nhận thức văn hóa cụ thể về không gian và nơi cư trú có thể rất khác nhau giữa các trường hợp, cùng với tiềm năng và năng suất nông nghiệp Mặc dù các thách thức đó, việc sử dụng yếu tố giao lưu văn hóa có thể cho những ranh giới rất chung cho việc so sánh và có thể là phương thức độc lập để thẩm định những bằng chứng khác chẳng hạn như sự đồng thuận cổ xưa Vì vậy, tôi sử dụng các dữ liệu so sánh để ước tính các mức và mật độ dân số của Cổ Loa và vùng lân cận, so sánh riêng biệt kích cỡ và quy mô địa lý của Cổ Loa với các trung tâm đô thị khác
Theo sự trình bày của Yoffee (2005: 43) về sự ước tính kích cỡ và dân số cho số lượng lớn các
thành phố sớm nhất trên thế giới, tôi đã lập một bảng về các địa điểm đô thị (Bảng 2) Bảng này cung
cấp thông tin cơ bản có liên quan đến kích cỡ các địa điểm và tư liệu nhân khẩu học cho các địa điểm đô thị được chọn lọc, được xem xét như là một phần của các thể chế phân tầng hay tập trung hóa trong các vùng khác nhau của thế giới Không may, những loại ước tính nhân khẩu học tương tự không được tiến hành đối với các nơi sinh sống của Đông Nam Á thế kỷ I BC
Do đó, cách thực hiện này liên quan đến Cổ Loa là điểm khởi đầu để đưa các trường hợp của
Đông Nam Á, và tiềm năng là loại hình nơi cư trú có thành lũy của Cổ Loa vào tranh luận Điểm phác
thảo cơ bản này ít tham vọng hơn tài liệu biên soạn của Yoffee, chỉ phục vụ như thiết bị khám phá để có cái nhìn hiểu thấu được mức độ dân số của Cổ Loa Những ước tính về dân số này cũng chỉ như những bức ảnh chụp đúng lúc thôi Những mức dân số đỉnh cao đáng ngờ được liệt kê cùng với mật độ dân số
được tính toán dựa vào khu vực và ước tính đỉnh cao cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau
Trang 17Nghiên cứu của Yoffee (2005: 62) cho thấy rằng, vùng cốt lõi của các thành phố sớm, thường khoảng 150ha hoặc hơn, tương ứng với trung tâm nghi lễ và các quận huyện cư trú trung tâm của tầng lớp giàu có Sự ước tính số dân cho những trường hợp này là từ 10.000 đến hơn 100.000 Như đã chỉ ra
trong Bảng 2, số đông các trường hợp khảo cổ học về nơi cư trú đô thị nổi trội đối với các xã hội tập
trung hóa được ghi dấu bởi quy mô khu vực mở rộng và sự ước tính số dân cao Qua các phương pháp
mà bởi chúng các ước tính số dân tương ứng phát sinh của các trường hợp là khác nhau, chúng thường
được dựa trên điều tra về nơi cư trú và mật độ ước tính trên một dặm vuông (hay km2) Những nơi cư trú lớn nhất, An Dương và Teotihuacan, bao quanh 2.000 - 3.000ha, hay 20 - 30km2, và dân số đỉnh cao theo ươc tính là hơn 100.000, với mật độ dân số từ 3.000 đến 5.000 người/km2 Đối với các trường hợp còn lại, các quy mô khu vực từ hàng trăm hécta đến trên 1.000ha (10km2) đối với trường hợp của Cahokia; số dân đỉnh cao theo ước tính từ 5.000 đến 50.000 Dãy số ước tính cho từng di tích có thể khác xa nhau, với các phương pháp tính toán khác nhau Ví dụ, trong khi các nhà nghiên cứu thấy cỡ số dân của Cahokia đạt tới 10.000 - 16.000 (Pauketat 2004), thì những người khác thấy số dân ít hơn 10.000 (Milner 1998: 123) Về mặt mật độ dân số, chúng ta có thể ước tính từ dưới 1.000 người/km2
đến hơn 10.000 người/km2 cho Mohenjo-daro và Uruk Những loại giá trị cao hơn này ngang tầm với một số trung tâm đông dân hơn của kỷ nguyên hiện đại như Cairo, Jakarta, Mumbai, Seoul và Tokyo
Những dãy số và ước tính này kể gì cho chúng ta về Cổ Loa và môi trường của nó? Ở đây, có thể là hữu ích khi cân nhắc các đặc tính của Tiwanaku Đối với Tiwanaku, Janusek và Blom (2006: 240)
đề nghị chấp nhận các dãy số thấp hơn trong các tài liệu của Trung Mỹ về mật độ số dân được biết đến
để tính đến thực tế rằng các tỷ lệ quan trọng của địa điểm này bao gồm các nơi và các hoạt động phi cư dân
Các nhà nghiên cứu vì vậy tính đến một tỷ lệ 25% theo ước tính của di tích là dành cho những công trình phi cư dân như đền, nghĩa địa, khu đổ rác và các lưu vực chứa nước và 20% khác của những nơi
cư trú mà từng không có người ở vào lúc nào đấy Đây có thể là thời điểm khởi đầu của Cổ Loa, bởi vì các khu vực của quy mô rộng 600ha của Cổ Loa là để dành cho các cánh đồng lúa, khu biệt thự, các cấu trúc hành chính, doanh trại quân sự và các xưởng thủ công Điều này không phải là không có lý, vì một vài trường hợp trên khắp thế giới cổ của các thành phố có những không gian hở và các vùng hoạt động nông nghiệp trong phạm vi thành phố (Storey 2006: 22) Hơn nữa, là hữu ích khi xem xét các phần của
Đông Nam Á và Nam Á, nơi cư trú được tìm thấy phía ngoài không gian có tường bao ở các di tích tiền
sử và lịch sử sớm như Óc Eo ở Nam Việt Nam (O’Reilly 2007: 105), U-Thong và Nakhon Pathom ở Thái Lan (Bellina-Pryce and Silapanth 2006: 276) và Sisupalgarh ở Ấn Độ (Lal 1949)
Vì hiện nay không thể phỏng đoán tỷ lệ số dân nào đã thực sự sống trong phạm vi các vòng thành của di tích so với các khu vực xung quanh, hay không rõ tỷ lệ lãnh thổ nào trong phạm vi không gian có thành bao của Cổ Loa là được dành cho các khu vực và hoạt động xã hội khác nhau, tôi ủng hộ việc sử dụng dãy số mật độ dân số Cổ Loa thấp hơn Trigger (2003: 121) lưu ý rằng, chủ yếu các tầng lớp trên và các nhà chuyên sản xuất phi lương thực, các nhân sự hành chính và các quan chức chính trị sinh sống ở nhiều thành phố của các nền văn minh sớm Ví dụ, Great Zimbabwe, bao gồm 720ha, có thể là nơi cư trú của các cư dân tầng lớp trên trong phạm vi vòng tường thành bằng đá bên ngoài, và số dân thường và chư hầu sống vùng xung quanh tạo thành tổng dân số là 11.000 - 18.000 (Kusimba 2008: 243) Đối với Cổ Loa,
sử dụng vòng thành ngoài cùng của nó như là vùng giới hạn bao gồm 600ha hay 6km2, trung tâm đô thị này có thể có mật độ số dân từ 167 người/km2 (giả định dân số 1.000), đến 833 người/km2 (giả định dân số 5.000), tới 1.667 người/km2 (giả định dân số 10.000) Thật thú vị, dân số của vùng đô thị Hà Nội ngày nay là 6.500.000, mật độ dân số xấp xỉ chỉ dưới 2.000 người/km2 Tất nhiên, đây chỉ là những ước tính mang tính phỏng đoán, và các con số không tính đến mật độ của vùng xa ngoài vòng thành Các giá trị bằng số như vậy sẽ phải chờ kết quả của nghiên cứu quan trọng trong tương lai Trong thời điểm hiện tại, tôi cho rằng mật độ dân số cho di tích này có thể dưới 1.000 người/km2 Storey (2006: 22-23) cho rằng, đối với các
Trang 18trung tâm đô thị thực sự, mật độ dân số không cần thiết phải cao đến 1.000 người/km2 Một thành phố thực
sự với các loại hoạt động và không gian đô thị có thể có mật độ dân số thấp khoảng hàng trăm người trên km2, nếu toàn bộ di tích rộng hàng chục km2, với dãy số tiềm năng trong khoảg 5.000 - 10.000 người hoặc hơn
Tóm lại, những ước tính cho các mức độ và mật độ dân số đỉnh cao của Cổ Loa được tự nhận là mang tính phỏng đoán và các cuộc điều tra trong tương lai chắc chắn có thể cải thiện được sự hiểu biết của chúng ta về nhân khẩu học thời đại đồ Sắt trong khu vực Ví dụ, chúng ta có thể yêu cầu tư liệu về cấu trúc khu ở và các khu vực cho hoạt động trong phạm vi Cổ Loa, cũng như bản chất của mối quan hệ giữa trung tâm Cổ Loa và các khu vực nông thôn quanh nó Tuy nhiên, cho đến khi những di tồn cấu trúc như thế
được tìm thấy, những ước tính này sẽ đầy đủ hơn Như điều kiện tư liệu hiện tại, cho thấy dân số thời đại
đồ Sắt đáng kể có mặt ở vùng này, có lẽ với tỷ lệ hàng ngàn người ở thành phố và hàng chục ngàn người ở
khu vực lân cận Trong thời điểm hiện tại, tôi ước tính là khoảng 5.000 cư dân sống ở vùng đô thị Những
ước tính này có vẻ có lý dựa trên tư liệu dân số của thời Hán Các con số này có thể đủ dành riêng cho lao động xây dựng hệ thống thành lũy trong phạm vi vài thế hệ như khung niên đại đã cho thấy Webster và
Kirker (1995: 383) lưu ý rằng, các quy mô ấn tượng của các công trình đồ sộ không tự động ám chỉ dân số lớn Tôi đồng ý, nhưng với nhịp độ xây dựng tương đối nhanh, tôi thừa nhận rằng Cổ Loa có đủ dân số Nói chung, bằng chứng cung cấp sự minh chứng cho ý niệm rằng lao động là vừa dồi dào và vừa đủ cho quyền lực tập trung cao để chỉ đạo trong một dự án xây dựng ồ ạt và tương đối gấp gáp Khi được kết hợp với các yêu cầu về bảo dưỡng hệ thống, chính quyền được thể chế hóa của xã hội đó cho thấy là bền vững
và đa thế hệ về bản chất
Cổ Loa là một trung tâm đô thị và nhà nước cổ
Nghiên cứu về đô thị hóa của Đông Nam Á ở mức nào đó đang phôi thai Vì vấn đề bảo tồn kém
và thiếu các di tích kiến trúc có thể thấy được, điều kiện thực địa khó khăn và sự khan hiếm tư liệu nơi cư trú nói chung, chúng tôi hiện biết rất ít về đô thị hóa đã xảy ra khi nào và như thế nào ở các khu vực của
Đông Nam Á (Junker 2006: 229-230) Chúng tôi có được những tư liệu khá tốt về di tích mộ táng và sinh kế
của thời đại Đá mới và thời đại Kim khí, nhưng hầu như không có thông tin gì về qui hoạch nhà cửa trong các nơi cư trú (Bellwood và Glover 2004: 11) Sự thiếu vắng của các nguồn tư liệu gây nên khó khăn trong việc tiếp cận vấn đề đô thị hóa theo chiều lịch đại Mặc dù hầu hết những dấu vết về sự tập trung đô thị có thể thấy được về mặt khảo cổ học với mật độ cao các mảnh gạch ngói vỡ vụn đổ nát của nơi cư trú, nhưng nhiều trong số công nghệ của Đông Nam Á nhiệt đới là thuộc các chất liệu không bền lâu và thường không để lại dấu vết gì, chẳng hạn như tre, gỗ, mây tre, thừng chão… (Junker 2006: 219) Những vấn đề
về bảo tồn như vậy, kết hợp với việc thiếu tư liệu từ các cuộc điều tra trong vùng có hệ thống, làm cho công việc khảo cổ học tập trung và xác định và khai quật khu cốt lõi của các trung tâm đô thị sớm được biết đến về mặt lịch sử “không hiệu quả về việc thu hút sự chú ý” (Junker 2006: 222) Về mặt này, sự hiện diện của Thành Ngoại có thể là một điểm khởi đầu hữu hiệu trong nghiên cứu về đô thị hóa Đông Nam Á,
và nghiên cứu từ miền Bắc Việt Nam có thể có cái nhìn thấu đáo
Một vài thập kỷ trước đây, Winzeler (1976: 623) đã bình luận rằng “bằng chứng đầu tiên của đô thị hóa và sự hình thành nhà nước ở Đông Nam Á không xuất hiện trước các thế kỷ đầu Công nguyên, và rằng cái diễn ra đầu tiên thường được gán cho, hoặc đúng hoặc sai, ảnh hưởng từ bên ngoài” Mật độ dân
số nhỏ hơn và thưa hơn được viện dẫn như một nguyên nhân có thể cho sự thiếu vắng sự phát triển chính trị quan trọng tiến tới nhà nước; thay vào đó lại có những thực thể chính trị siêu địa phương ngắn ngủi, nhỏ lẻ (Winzeler 1976: 626) Cũng tương tự, Wheatley (1983: 367) tranh luận rằng, thậm chí nếu có giá trị thì các truyền thuyết của Việt Nam có liên quan đến các xã hội lưu vực sông Hồng trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên là chế độ tù trưởng quốc chứ không phải là các nhà nước đích thực Wheatley (Wheatley 1979: 292, 1983: 420-421) thực sự xác nhận rằng, thậm chí trong các thời nhà Hán, đô thị hóa
Trang 19diễn ra trong đồng bằng Sông Hồng có thể bị ảnh hưởng đáng kể bởi người Trung Quốc, và rằng hệ thống
đô thị của Việt Nam có nguồn gốc riêng của nó và các đặc điểm khác biệt với sự áp đặt của các kiểu loại
quyền lực của Trung quốc Nói chung, các viễn cảnh này cho thấy sự thiếu vắng của các diễn biến của đô thị ở bản địa hay địa phương và các thể chế chính trị như nhà nước đối với Đông Nam Á nói chung và miền Bắc Việt Nam nói riêng, trước thiên niên kỷ I đầu Công nguyên Quan điểm chung này có thể có lý trong vài thập kỷ trước đây, với sự thiếu hụt về các tư liệu khảo cổ học đáng tin cậy để tranh luận, nhưng
đây không còn là trường hợp ngày nay Như đã đề cập ở trên, loại hình nơi cư trú của Cổ Loa là có gốc rễ,
ít nhất là một phần, trong truyền thống nơi ở có hào lũy tìm được ở nhiều nơi của Đông Nam Á mà bắt đầu
ở các thế kỷ sớm hơn Bằng chứng về khảo cổ học đã làm rõ rằng, sự áp đặt của nước ngoài không phải là
lý do đô thị hóa xảy ra ở Cổ Loa Bác bỏ ý niệm về sự áp đặt, Davidson (1979: 306-307) lưu ý rằng, các kiểu đô thị của Trung Quốc diễn ra trong kỷ nguyên lịch sử, xếp gộp vào các loại hình bản địa phát sinh đô thị là hiển nhiên với các di tích như Cổ Loa
Một số nhà nghiên cứu như Miksic (2000: 109), xem Cổ Loa như một loại hình đô thị sớm của
Đông Nam Á, mặc dù vẫn cần có thêm tư liệu để làm rõ hơn loại đô thị này Mặc dù sự kết nối với các
di tích có hào lũy sớm hơn ở Đông Nam Á, chúng tôi không thể hoàn toàn bác bỏ mối liên kết với các
xã hội phía Bắc Tôi có thể tranh luận rằng loại hình đô thị của Cổ Loa ra đời không chỉ từ truyền thống của Đông Nam Á mà còn cho thấy sự giống nhau về cấu trúc với các xã hội trong những phần của văn minh Trung Hoa nổi trội Các loại hình đô thị hóa sớm của Trung Quốc cũng tương tự được ghi dấu bởi các vòng thành làm bằng đất, thường có liên quan đến hào lũy bên ngoài Điều này là rõ ràng trong các
di tích như Chengziyai ở tỉnh Sơn Đông có niên đại 2.500BC (Steinhardt 2000: 419) Trong thời Long Sơn của Trung Quốc (khoảng 3.000 - 2.000BC), các địa điểm đô thị phôi thai đều có tường bao Thực tế,
trong tiếng Trung, ký tự này thường được dịch là “tường” (cheng) thì hầu hết lại được dịch là “thành phố” (Steinhardt 2000: 421) Theo von Falkenhausen (2008: 209), nghĩa của từ Cheng là “thành phố” gần
như chắc chắn là phát sinh từ nghĩa của nó là “tường thành”, một nghĩa thứ 3 có liên quan đến nghĩa
“pháo đài” Tương tự, trong tiếng Việt, từ “thành phố” khi được tách ra và dịch thì mang nghĩa tương tự
với một khu đô thị hay trung tâm được bao quanh bởi một tường thành bảo vệ Khi mở rộng tầm nhìn của chúng ta về đô thị cổ ngoài Đông Nam Á, hiển nhiên là từ các các ghi chép khảo cổ học và lịch sử
mà có mối tương quan giữa các bức tường và một số ví dụ về không gian đô thị sớm nhất Một số nơi cư trú sớm nhất của thế giới mà các nhà khảo cổ học thường xem như là thành phố cũng là các thành phố sớm nhất được biết đến là có tường bao, bao gồm Jericho, Catal Hoyuk, Sumer và Harappa (Tracy 2000: 1)
Có nhiều loại hình nơi cư trú mà có thể cấu thành “thành phố” cổ Không cần có bất kỳ một định nghĩa hay nguyên mẫu nào, và nghiên cứu chỉ ra rằng các loại nơi cư trú hạt nhân với kích cỡ, bố cục, chức năng và mật độ dân số qua thời gian và không gian khác nhau Mặc dù sự khác biệt đó, có một số các
đặc tính hình thể và chức năng chung nổi bật Soja (2000: 4) tranh luận rằng, một số trong các trường hợp
về đô thị hóa sớm nhất theo lối sống là các nơi như Jericho và Catal Hoyuk Sử dụng thêm khái niệm hóa
về đô thị, Soja nhìn nhận môi trường sinh sống đông đúc như là một đặc tính cơ bản của đô thị hóa sớm, ở nơi mà các thành phố sớm nuôi dưỡng sự phát triển của nông nghiệp quy mô đầy đủ và chăn nuôi gia súc
có tổ chức Không kể đến việc thuần hóa động vật có trước hay sau cấu tạo hạt nhân về dân số, có thể cho thấy rằng loại hình cấu tạo hạt nhân về dân số quy mô lớn nằm ở cốt lõi của đô thị hóa sớm Yoffee (2005: 42) thấy rằng, các trung tâm đô thị sớm trên thế giới có thể phát triển như các vũ đài trung tâm, trong đó các quá trình phân hóa, hội nhập và xung đột tranh xã hội xảy ra trong quá trình hình thành xã hội cấp nhà nước cổ Smith (2010: 138) nhìn nhận nơi cư trú đô thị là nơi có chức năng như là sự sắp đặt cho các thể
Trang 20chế và thực thi có ảnh hưởng đến các vùng lân cận rộng lớn hơn Định nghĩa này cho phép bao gồm cả các nơi cư trú có mật độ thấp với các kiến trúc hoành tráng quy mô lớn, như là Classic Maya hay các kinh đô chính trị của Khmer (Smith 2010: 138) Trong tranh luận về Cahokia, Pauketat (2007: 138) đưa ra một mô
tả súc tích: “thành phố là sự tập trung người tương đối đông được bố trí theo cách như để thể hiện các nguyên tắc tổ chức trung tâm hơn là quan hệ thân thuộc” Từ quan điểm này, Cahokia định tính thành phố như là trong phạm vi khoảng 100 năm dựa trên các đặc điểm nổi bật nhất định, chẳng hạn như quy mô lớn của nó và sự gần kề của cư dân, cùng với các mức dân số cao theo ước tính của nó Ở Tây Âu, các công trình đất đắp có liên quan đến Oppidum (thành phố văn hóa Xentơ được củng cố vững chắc) tại Camulodunum (khoảng thế kỷ I) với diện tích hơn 16km2 được ghi dấu bởi hệ thống đê điều dày đặc và các tuyến phòng thủ bởi sông, suối, và các đặc điểm phong cảnh khác bao quanh khu định cư (Hill và Wileman 2002: 67) Các nơi như Camulodunum, như thị trấn Colchester ngày nay ở Essex, nước Anh, có
lẽ có chức năng như sự khởi đầu của cuộc sống đô thị ở Anh Quốc
Đối với một số thành phố sớm nhất của thế giới ở Nam Mesopotamia (khoảng thiên niên kỷ IV BC),
hình thức đầu tiên của các địa điểm đô thị rõ nét có thể xác định được chủ yếu bởi kích cỡ của chúng (hơn 50ha), các công trình đồ sộ, sự giàu có tương đối và sự đa dạng về di tồn vật chất của chúng (Adams 2004: 45) Theo Cowgill (2004: 527), các thành phố là các trung tâm tôn giáo, chính trị, kinh tế điển hình đối với lãnh thổ bao quanh và là những nơi cho các loại hình sản xuất và dịch vụ chuyên môn hóa rộng hơn nơi khác trong vùng Đối với nhiều trường hợp của các trung tâm dân số của khu vực và địa phương, có dấu hiệu kiểm soát nông nghiệp tập trung cao và việc sử dụng đất đai mang đến sự dư thừa Đối với Cowgill (2004: 526),
“thành phố”, “địa điểm đô thị”, “xã hội đô thị” và “đô thị hóa” là thường được lý thuyết hóa không đầy đủ
và rất khó đồng ý với định nghĩa về thành phố có thể áp dụng được theo cách giao thoa văn hóa Tuy nhiên, ông ta tranh luận rằng, chúng ta không thể làm được nếu thiếu hoàn toàn các định nghĩa, và không có một tiêu chí duy nhất, chẳng hạn như chỉ là kích cỡ hay sử dụng văn bản là đủ Cowgill (2004: 526) “mơ hồ” xác định một thành phố như là nơi cư trú lâu dài trong phạm vi lãnh thổ lớn hơn của một xã hội được coi
là nhà bởi số lớn đáng kể các cư dân có các hoạt động, vai trò, thực hành, kinh nghiệm, định dạng và thái
độ khác một cách đáng kể với các thành viên khác của xã hội, những người đồng cảm gần gũi với đất đai
“nông thôn” bên ngoài những nơi cư trú đó Stark (2006a: 417) chỉ ra một cách ngắn gọn rằng, sự đồng thuận
về “sự lâu dài của nơi cư trú, sự khác biệt rõ ràng giữa đô thị - nông thôn, và đặc điểm chung của đô thị.”
Dựa vào các tiêu chí trên, đặc biệt là những tiêu chí Cowgill và Stark đưa ra, tôi mô tả một “trung tâm đô thị” như là nơi cư trú với cấu tạo hạt nhân về dân số đáng kể, và sự phân tầng xã hội rõ ràng, và sự phân biệt giữa các vùng cảnh quan đô thị và nông thôn Cổ Loa rất thích hợp với loại đô thị hóa nói chung, với các công trình xây dựng đồ sộ, dân số tầm cỡ, các bằng chứng về nông nghiệp tăng thâm canh và các khu vực được bao quanh rất rõ ràng của nó Các thành phố là những nhân tố tham gia tích cực vào việc xây dựng cảnh quan chính trị (Campbell 2009: 822) Như là trung tâm đô thị, Cổ Loa bao gồm việc xây dựng tích cực
và sự vận dụng cảnh quan vật thể và chính trị, và sự vận dụng đó đã thay đổi một cách nhanh chóng bởi sự tăng cường và khai thác nguồn lực Kealhofer và Grave (2008) viết rằng, việc sử dụng đất và các chiến lược phát triển nông nghiệp có thể là những bằng chứng mạnh mẽ cho những nỗ lực tập trung và có định hướng
có tính chất gợi ý về những xã hội phân tầng Phạm vi không gian của các công trình của Cổ Loa là tiêu biểu cho sự sửa đổi cảnh quan có ý nghĩa, với các đường sông được làm chệch hướng một cách có mục đích qua
hệ thống kênh rạch phức tạp chảy vào hồ chứa bên trong của di tích và hệ thống hào lũy nằm bên sườn lớp vòng thành (Kim 2010)
Von Falkenhausen (thông tin cá nhân, 2011) đưa ra khả năng rằng, Cổ Loa có thể là thành phố nghi thức hay nghi lễ hơn Nếu vậy, có thể là hợp lý hơn khi được nhìn nhận như là cái mà Miksic (2000) mô tả như là một thành phố trực sinh, nơi mà dân số nhỏ hay cộng đồng của các nhà chuyên môn
Trang 21hay tầng lớp ưu tú sinh sống trong phạm vi các vòng thành và đại đa số dân số sống ở khu vực lân cận
Sự diễn giải như vậy xem Cổ Loa như là một ví dụ của đô thị hóa có mật độ thấp (Fletcher 1995: 93, 121), một khả năng được Fletcher gợi ra (thông tin cá nhân, 2011) Những trường hợp có nhiều các địa điểm
đô thị mật độ thấp như thế ở các khu vực của châu Mỹ và châu Phi (Fletcher 1995, 2009; Kusimba et al 2006),
những ví dụ mà nhìn chung là tương phản với các trung tâm đô thị có dân cư đông đúc của vùng Cận Đông
cổ xưa Cũng có thể Cổ Loa là một ví dụ của nơi cư trú đô thị có trồng trọt, nói chung được xem như là thuộc loại các thị trấn đông đúc nhỏ từ 20 - 30ha lên tới khu vực rộng lớn, phát tán khoảng 100km2 hoặc hơn (Fletcher 1995: 188) Đô thị hóa mật độ thấp có đất trồng trọt là chủ đạo của các khu vùng đất trũng
ở Trung Mỹ, Sri Lanka, và Đông Nam Á lục địa giữa thiên niên kỷ I BC và giữa thiên niên kỷ II AD, có
thể đại diện cho một con đường khu biệt tới cuộc sống đô thị ở các môi trường rừng nhiệt đới (Fletcher 2009) Nói chung, các thành phố mật độ thấp có đất trồng trọt trong phạm vi không gian đô thị, trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường địa phương, và họ thường ở những vùng rừng nhiệt đới với sự khác biệt đáng kể lượng mưa theo mùa (Fletcher 2009: 15) Mặc dù cần có thêm bằng chứng cho sự khẳng định này, có một khả năng rõ ràng rằng Cổ loa có thể chỉ hoạt động trong khả năng như vậy, đặc biệt khi chúng ta xem xét rằng các hào lũy và kênh rạch có thể phục vụ chức năng bổ sung cho việc phòng thủ, giao thông, điều tiết lũ lụt và thủy nông
Những nền văn minh cổ có xu hướng trùng khớp ngẫu nhiên với các trung tâm dân cư lớn với các lợi thế về nhân lực lớn (Adams 2001: 353) Như Smith (2006: 27) lưu ý, “việc vận dụng và chuyển
đổi không gian nằm ở cốt lõi của việc nhà nước hoạt động như thế nào” Vì vậy, Cổ Loa cũng có thể
thông tin cho việc suy xét sự phức tạp vì nó có thể là trung tâm và khu vực của quyền lực cho một nhà nước
Cổ Loa như là một trung tâm đô thị không nhất thiết phải có nghĩa là xã hội Cổ Loa được tổ chức như là một xã hội cấp nhà nước Xã hội đô thị và các nhà nước không phải luôn luôn là một và giống nhau (Cowgill 2004: 526), thậm chí nếu chúng thường được kết nối một cách chặt chẽ Đối với Stein (2004: 61),
đô thị hóa như là một hệ thống kinh tế và nhà nước như là các hệ thống chính trị thường quyện chặt
nhau Đây là điểm quan trọng, tôi không tranh luận thực thể Cổ Loa là nột nhà nước dựa trên các đặc
điểm đô thị của nó mà thay vào đó, tôi bàn luận rằng cả hai việc đô thị hóa và củng cố chính trị là cùng đồng thời và rõ ràng ở di tích đó
Nơi cư trú đô thị, được xem như là hạt nhân của các nhà nước mới ra đời, thúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế quy mô lớn cho phép sự tập trung dân số chưa từng có tiền lệ, gồm cả lực lượng quân
sự và lực lượng lao động khổ sai để xây dựng các công trình thủy nông, phòng thủ và dân sự (Adams 2004: 45) Mudar (1999) bàn luận về sự phân tầng các kích cỡ nơi cư trú cho các nơi ở có hào lũy của trung tâm Thái Lan trong thời Dvaravati mà cũng chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước Trong phạm vi kiểu này, Nakhon Pathom được coi là trung tâm đầu tiên duy nhất, với diện tích 602ha và là di chỉ lớn nhất trong các mẫu kiểu này (Mudar 1999: 7) Chúng tôi hiện đang thiếu tư liệu để tiến hành nghiên cứu vùng toàn diện tương tự ở miền Bắc Việt Nam Tuy nhiên, với kích cỡ của Cổ Loa và những điều chúng ta biết
về các di tích Đông Sơn, Cổ Loa có lẽ là một trung tâm đầu tiên lớn chưa từng có Tôi hy vọng rằng, những cuộc điều tra di chỉ cư trú trong tương lai sẽ khẳng định vị trí cao nhất của Cổ Loa trong phạm vi hệ thống thành lũy nhiều lớp của khu vực Cụm di tích hiện tại của hơn 100 các di tích thời Đông Sơn đương thời rải rác khắp lưu vực sông Hồng đã gợi ý sự phân tầng nơi cư trú, với sự phân bố các di tích Đông Sơn trên khắp các bối cảnh khác nhau gợi ra một khả năng của một cấu trúc chính trị bao quát toàn bộ Tư liệu
về mộ táng Đông Sơn từ các vùng lân cận cho thấy cấp độ cao của sự phân biệt địa vị xã hội (Chu 1973; Murowchick 2001; Phạm 2004), gợi thêm một sự phân tầng có thể của nơi cư trú
Có vô số các định nghĩa nhân chủng học và khảo cổ học về sự phân tầng chính trị xã hội, về các nền văn minh và các xã hội phân tầng, có liên quan đến các chính thể theo truyền thống gọi là “chế độ tù trưởng quốc” và “nhà nước” (Blanton 1998; Carneiro 1970, 1981, 1998, 2003; Cowgill 2004; Fried 1967;
Trang 22Haas 2001; Johnson and Earle 2000; Parkinson and Galaty 2007; Pauketat 2007: 143; Sassaman 2004; Service 1975; A Smith 2003; Smith 2006; Stanish 2004; Trigger 2003; Wright and Johnson 1975; Yoffee 2005) Đặc biệt, “nhà nước” đã được viện dẫn trong quá nhiều trường hợp Với thể loại đa dạng này, việc sử dụng thuật ngữ này của các nhà khảo cổ không thể không có vấn đề của nó (Campbell 2009) Tuy nhiên, khái niệm không thể không hữu dụng, vì ở mức độ tối thiểu nó cung cấp các phương tiện mà thông qua đó các nhà khảo cổ có thể đề cập đến các hình thức nhất định của các thể chế phân tầng quy
mô lớn, vì thế đưa chúng vào so sánh mang tính giao thoa văn hóa Tôi sử dụng thuật ngữ này để mô tả
sự cấu thành về mặt chính trị xã hội có liên quan với chính thể Cổ Loa
Điểm mấu chốt của nó là sự đồng thuận nào đó về các nhà nước cổ đặt trọng tâm vào việc sự bất bình đẳng và hành vi chi phối xã hội có liên quan đến nông nghiệp sớm và dân số gia tăng như thế nào Ở đây, sự
xuất hiện của các quy mô nhóm lớn và mật độ các tương tác giữa con người lớn hơn quan hệ mật thiết với việc sắp đặt xã hội mới và phức tạp (Price và Feinman 2010: 3) Sự hình thành một xã hội phân tầng phức tạp đòi hỏi một số lượng người đủ, và đối với Claessen (2004: 77) số lượng nhà quản lý, người phục vụ, các cận thần, các nhà tu, người lính, nông nghiệp, các nhà buôn… có thể được tìm thấy chỉ trong dân số tính đến hàng ngàn Những thỏa thuận khác bao gồm khả năng của nhà nước để mã hóa và làm cho luật pháp có hiệu lực, hợp pháp hóa việc sử dụng vũ lực cả ở tương tác trong phạm vi xã hội (giữa trật tự) và ngoài xã hội (chiến tranh), và khả năng của nó để thu đồ cống hay thuế dưới hình thức thặng dư nông nghiệp, đồ biểu tượng quyền thế (prestige), hay các dịch vụ như sản xuất thủ công hay lao động khổ sai (Billman 2002; Carneiro 1981) Mối quan hệ thân tộc điển hình giữ vai trò ít hơn trong tương tác chính trị hơn là sự phân biệt dân số thành các tầng lớp xã hội Trong việc khái niệm hóa nhà nước cổ, cũng có sự đồng thuận rộng lớn về các các mức độ quan trọng của các hình thức lãnh đạo được thể chế hóa, tương đối lâu dài và không cai trị phù du bởi các nhà lãnh đạo uy quyền (Billman 2002: 372)
Cơ bản được gói gọn trong tiêu chí cuối cùng là cảm nhận về tính lâu bền, ở đó quyền lực hợp pháp và
được thể chế hóa tồn tại qua các nguồn lực và việc sử dụng vũ lực tuyệt đối Stark (2006b: 146,
Feinman 1998) định nghĩa nhà nước theo nghĩa rộng là “một chính thể có đặc điểm ít nhất là 2 tầng lớp
xã hội, trong đó chính phủ là tập trung và chuyên hóa”
Sử dụng định nghĩa của Stark như điểm khởi đầu, tôi muốn thêm vào một nhân tố của tính lâu bền
được thể chế hóa, được ghi dấu bởi sự trường tồn và dài lâu Một nhà nước là được ghi dấu ở mức cơ bản
nhất bởi sự phân tầng xã hội và quyền lực được thể chế hóa Quyền lực được thể chế hóa là quyền lực chính trị lâu bền mà được rộng rãi công nhận và chấp nhận ở cả trung tâm chính trị và khu vực ngoại vi của nó Trong cách nhìn này, quyền lực là lâu dài và không có “tính tình thế” (Stanish 2010: 97), thoảng qua hay phù du
Sự lãnh đạo lâu bền và đa thế hệ để giữ cho một chính thể trải qua các thời kỳ không ổn định của chu kỳ giữa hội nhập và phân quyền (Tejada 2008: 88) hay giữa sự củng cố và phân rã (Marcus 1998) Như Marcus (1998: 94) lưu ý, nhiều trường hợp các cấu trúc chính trị quy mô lớn, không đối xứng là dễ sụp đổ và không ổn định Với kế hoạch hóa tập trung, việc xây dựng được duy trì trên quy mô đồ sộ, và việc bảo dưỡng lâu dài liên quan đến riêng hệ thống tường thành, tôi bàn luận chính thể Cổ Loa nắm giữ quyền lực chưa từng có tiền lệ đối với khu vực, mặc dù cũng như tất cả các ví dụ về các chính thể và các nền văn hóa phức hợp, cấu trúc chính trị xã hội của nó là sản phẩm của tiến trình lịch sử và các sự kiện của địa phương Cả hệ thống tường thành và các thể chế cần thiết để định hướng và tổ chức việc xây dựng của nó là triệu chứng của sự hiện diện nhà nước cổ
Sự kiên trì của các dự án xây dựng ở Cổ Loa có thể đòi hỏi sự tồn tại của hình thức quyền lực chính trị mền dẻo, một quyền lực mà hy vọng không chỉ thấy các dự án cho đến khi hoàn thành mà còn
để duy trì các cấu trúc kiến trúc vô hạn định, sắp đặt các nguồn lực khổng lồ và điều phối số lượng nhân sự
Ngoài việc bảo dường vô hạn định, nhân sự quân sự cũng có thể cần thiết đối với việc sắp đặt người bảo
Trang 23vệ khi cần thiết Không nghi ngờ gì, loại hình về quyền lực lâu dài này có thể không những nắm quyền
điều hành tập hợp người và nguồn lực khổng lồ, mà còn có thể thúc đẩy một cảm nhận mạnh mẽ về
cộng đồng tập trung quanh cảnh quan đô thị được xây dựng Chính thể Cổ Loa hoạt động như là một trung tâm của khu vực, một hạt nhân kinh tế và chính trị xã hội trong khu vực lân cận rộng lớn hơn, nơi
mà các chức năng chuyên môn hóa được chú trọng và thực thi Những chức năng này có thể có từ sự quản lý hành chính về chính trị đến cả việc giữ trật tự xã hội và bảo vệ quân sự ngoài xã hội Cổ Loa cũng có thể là trung tâm của các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội do nhà nước bảo trợ
Khả năng rằng Cổ Loa đại diện cho một nhà nước cổ xưa trong thời văn hóa Đông Sơn, như là một trung tâm chính trị, tư tưởng, kinh tế học, chuyên môn hóa thủ công và các mối quan hệ xã hội,
được gợi ý trước (Nguyễn 1984; Phạm 1996: 330-331; Tessitore 1989) Người Việt được nhìn nhận
trong thời đại Kim khí, từ thiên niên kỷ II BC, sự hình thành nền văn minh bản địa và sự sáng tạo ra một nhà nước hay các nhà nước chính trị thuộc lãnh thổ, với kỹ năng nghệ thuật và kỹ thuật cao (Glover 2006: 26) Các phát hiện khảo cổ học từ các di tích Đông Sơn trên khắp khu vực cho thấy sự quản lý chuyên nghiệp của những người thuộc tầng lớp cao, ở nơi mà các loại đồ đồng tinh xảo như trống đồng và các loại đồ đựng lớn, các nông cụ và vũ khí đúc (Higham 2004: 58) Theo Phạm Minh Huyền (thông tin cá nhân, 2005), các chuyên gia thủ công tại các nơi cư trú Đông Sơn và ở Cổ Loa có thể dưới quyền kiểm soát của một chính thể duy nhất Ý tưởng này được ủng hộ bởi những phát hiện từ nhiều cuộc khai quật
được tiến hành ở Cổ Loa đã cho thấy một nền sản xuất thủ công chuyên môn hóa đối với việc chế tạo vũ
khí bằng đồng, ngói mái bằng gốm, và các dụng cụ nông nghiệp (Kim và nnk 2010: 1015; Lại 2004; Nguyễn và Nguyễn 1983; Phạm 2005) Về cơ bản, tầng lớp các nhà chuyên môn thủ công ở Cổ Loa đã tận tâm với nền sản xuất dụng cụ bằng đồng và các sản phẩm cho nghi lễ, mà rất nhiều trong số đó là gắn với những người ở tầng lớp cao Chế tạo đồ đồng có thể đòi hỏi một lực lượng lao động chuyên nghiệp mà không phải vướng bận bất kỳ một loại sản xuất để sinh sống nào, những người mà trông nom tất cả các hoạt động chuyên môn từ việc khai thác và thu mua đến việc chuẩn bị hợp kim và khuôn đúc tinh xảo đề đúc và gia công sản phẩm (Nguyễn 1984: 185)
Các nhân tố cho sự phân tầng ra đời và sự hình thành nhà nước
Higham và Thosarat (2000: 28) thảo luận rằng, sự quá độ lên nhà nước ở Đông Nam Á lục địa bắt đầu từ các thế kỷ đầu Công nguyên Dựa trên các bằng chứng hiện nay từ miền Bắc Việt Nam, tôi cho rằng sự quá độ lên cả đô thị hóa và sự phân tầng cấp nhà nước bắt đầu sớm hơn một chút, trong thiên niên kỷ I BC Sự phát hiện mới đây của các đặc điểm trong Phân khúc 1 ở Cổ Loa cũng gợi ý một khả năng rằng, hệ thống hoành tráng các công trình đất đắp nằm trên các công trình xây dựng của một
xã hội lớp trung, có quy mô nhỏ mà có thể là một phần của truyền thống nơi ở có hào lũy, một truyền thống mà đã chuyển thành loại hình phức tạp hơn trong thế kỷ III BC Nếu Cổ Loa là kết quả dẫn tới kiểu cấu tạo hạt nhân về mặt dân số được xác lập trong phạm vi nơi ở có hào lũy rộng khắp khu vực, khi
đó một vấn đề quan trọng để xác định tại sao một nơi cư trú có quy mô lớn như vậy phát triển ở châu
thổ sông Hồng trong các thế kỷ cuối trước Công nguyên, mà không có một di chỉ nào khác ở Đông Nam Á
đạt được với cấp độ so sánh của sự phân tầng xã hội và sự tinh xảo về mặt kỹ thuật cho đến tận các thế
kỷ sau này Số lượng lớn các biến số giải thích nguyên nhân của sự phân tầng xã hội phôi thai và sự hình thành nhà nước ở lưu vực sông Hồng Tôi đã trình bày những bàn luận chi tiết ở những công trình nghiên cứu khác (Kim 2010; Kim và nnk 2010) nhưng nhấn mạnh chúng ở đây
Như đã đề cập ở phần đầu bài viết, các mô hình truyền thống giải thích sự ra đời của chế độ thủ lĩnh quốc, vương quốc, nhà nước nhỏ và các dạng khác của xã hội phân tầng của Đông Nam Á nhấn mạnh các ảnh hưởng bên ngoài từ nền văn minh Trung Quốc và Ấn Độ Về cơ bản, sự phân tầng xã hội của Đông Nam Á được xem như là sản phẩm phụ hay là phát sinh của ảnh hưởng nước ngoài Mặc dù các thập kỷ gần đây, các nghiên cứu khảo cổ học đã làm suy yếu quan điểm này, nhưng những mô hình