1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo 183 BC-UBND năm 2016 sơ kết 5 năm thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 thành phố Hải Phòng

17 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 121,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, nhân lực qua đào tạo nghề bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung và

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO

SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC GIAI ĐOẠN

2011-2020 THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I Đánh giá 5 năm (2011- 2015) việc thực hiện Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011

về việc phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của Thủ tướng Chính phủ

1 Những kết quả đạt được

- Thực hiện Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Ủy ban nhân dân thành phố

đã ban hành Quyết định số 2098/QĐ-UBND ngày 06/12/2010 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2020 và Quyết định 1640/QĐ-UBND ngày 02/10/2012 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2020

- Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2011-2020 đã định hướng và làm cơ sở để các Sở, ban, ngành, các địa phương triển khai chỉ đạo, điều hành, hoạch định các cơ chế, chính sách của địa phương Thành phố đã lựa chọn được các ngành kinh tế mũi nhọn để ưu tiên đào tạo, phát triển nhân lực thành phố phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng chuyển dịch lao động ngành nông nghiệp sang lao động ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Nhân lực thành phố đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe, thể lực, phẩm chất đạo đức, tỷ lệ đào tạo đạt 76%, trong đó lao động qua đào tạo đạt 54% Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, nhân lực qua đào tạo nghề bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động phục vụ

sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chiến lược phát triển kinh tế biển nói riêng của thành phố và đất nước

- Phát triển nhân lực thành phố đã tính đến nhu cầu của xã hội, phối hợp chặt chẽ giữa việc đào tạo với sử dụng nhân lực qua đào tạo, tỷ lệ có việc làm hoặc tự tạo việc làm luôn ở mức cao, lao động sau đào tạo cơ bản được thị trường chấp nhận, giai đoạn 2012-2015 đã giải quyết việc làm cho 52.000 lượt lao động, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm còn 4% Bước đầu hình thành thị trường lao động sẵn sàng hội nhập vào thị trường lao động khu vực Nhiệm vụ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã được lồng ghép trong kế hoạch hàng năm của thành phố; thành phố đã thực hiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, triển khai Đề

Trang 2

án đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài, trong đó chú trọng đối tượng là cán bộ khoa học và công nghệ trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

- Thành phố đã chỉ đạo bằng nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng nhân lực, tăng cường bố trí vốn ngân sách nhà nước để đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên Để thu hút các nguồn lực phát triển nhân lực, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết số 07/2013/NQ-HĐND ngày 25/7/2013 về nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách

xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thể thao trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2016, định hướng đến 2020 nhằm khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa

- Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý do Ủy ban nhân dân thành phố quản lý đã được các Sở, ban, ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện hàng năm Công tác quy hoạch cán bộ khoa học công nghệ đã được các cấp chính quyền, các ngành và các tổ chức trên địa bàn thành phố quan tâm thực hiện và mang lại kết quả tương đối tốt và dần đi vào nề nếp; thành phố đã ban hành và thực hiện một số cơ chế, chính sách sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đối với những cán bộ khoa học và công nghệ có trình

độ chuyên môn cao, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

- Công tác quy hoạch nhân lực lao động kỹ thuật đã được triển khai thực hiện thông qua quy hoạch mạng lưới dạy nghề, tuyển sinh học nghề, xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề, kiểm định chất lượng dạy nghề Kết quả đã gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, chú trọng đào tạo nghề chất lượng cao ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc; có ý thức tổ chức kỷ luật, có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, được thị trường chấp nhận

- Công tác phát triển giáo dục các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông làm nền tảng đào tạo nhân lực cho thành phố đã được quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện Thành phố đã xây dựng Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

- Bên cạnh việc triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2020 thành phố cũng đang đồng thời thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 11/4/2008 của Ban Thường vụ Thành ủy và Nghị quyết số 04/2008/NQ-HĐND ngày 22/4/2008 của Hội đồng nhân dân thành phố về một số chủ trương, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng 2020, đó là những điều kiện thuận lợi để các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn thành phố Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Kế hoạch số 2144/KH-UBND ngày

03/4/2014 về triển khai thực hiện Kết luận số 07-KL/TU ngày 05/12/2013 của Ban Thường vụ Thành ủy về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 11/4/2008 của Ban Thường

vụ Thành ủy về một số chủ trương, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng 2020; bổ khuyết một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đến năm 2020

Trang 3

2 Một số tồn tại hạn chế

- Trong quá trình triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển nhân lực, do thời gian xây dựng quy hoạch ngắn (chưa đến 02 tháng) triển khai vào thời điểm cuối năm 2010, dẫn đến các bước công việc lập quy hoạch chưa được thực hiện đầy đủ (không

đủ thời gian thu thập các số liệu trong giai đoạn 2000-2010 và triển khai các công việc: Khảo sát thực tế, hội thảo lấy ý kiến chuyên gia, xây dựng bản đồ quy hoạch ) Nhiều căn cứ pháp lý để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực mới chỉ là dự thảo, chưa được ban hành chính thức như: Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2011-2020; Chiến lược Phát triển giáo dục đến năm 2020; Chiến lược phát triển dạy nghề đến năm 2020; Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 14, Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng giai đoạn 2011-2015 chưa

có Quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực của cả nước và Quy hoạch phát triển nhân lực của các ngành kinh tế-xã hội nên khiến cho định hướng phát triển nhân lực của thành phố có thể chưa được chuẩn xác Mặt khác thành phố triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong bối cảnh kinh

tế thế giới và trong nước tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức và những biến động khó lường cũng đã tác động không nhỏ đến việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch trong thời điểm quốc

tế hóa, toàn cầu hóa và nhất là trong bối cảnh nền kinh tế của cả nước và thành phố đang hội nhập sâu với kinh tế thế giới thì nhân lực của thành phố chưa đáp ứng yêu cầu do thiếu tính chuyên nghiệp và kỹ năng nghề, đặc biệt là thiếu kiến thức chuyên môn ở tầm quốc tế

- Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực của thành phố, kết nối với hệ thống dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia, việc tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống thông tin dự báo nhu cầu nhân lực của thành phố đảm bảo tính kết nối, thông suốt

về thông tin giữa các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân đến nay vẫn chưa được triển khai

- Đề xuất quy hoạch sử dụng quỹ đất ưu tiên cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn thành phố đáp để đảm bảo yêu cầu về quy mô, chất lượng và phù hợp với đặc thù của từng ngành đào tạo chưa được thực hiện

- Cơ cấu nguồn nhân lực ngành y tế còn chưa hợp lý, phân bố không đồng đều giữa các tuyến, chất lượng còn chưa tương xứng với vị thế trung tâm vùng duyên hải Bắc bộ; tỷ lệ dược sĩ đại học/bác sĩ còn thấp Tại các bệnh viện tuyến huyện hạng II không thu hút được bác sĩ, phải sử dụng y sĩ vào công tác khám chữa bệnh dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên

Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên/bác sĩ ở cơ sở khám chữa bệnh còn thấp đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

- Thiếu cán bộ đầu ngành ở nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, thiếu cán bộ giỏi về khoa học quản lý và chuyên gia công nghệ có trình độ cao Có sự mất cân đối về ngành nghề đào tạo; đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu cả về chất lượng và số lượng

- Cơ cấu các nghề đào tạo chưa hợp lý, chênh lệch cung - cầu lao động của giữa các ngành còn lớn, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động trong khi các cơ sở dạy nghề lại không

có học sinh theo học Công tác tuyển sinh học nghề còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là do tác động của khủng hoảng kinh tế

Trang 4

3 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế

- Một số cấp, ngành chưa thật sự chủ động, tích cực trong việc rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, khoa học công nghệ, lao động kỹ thuật và trên cơ sở quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế, nhu cầu, dự báo phát triển để xây dựng, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực chất lượng cao cho cấp, ngành mình Chưa có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ; chưa có chính sách hỗ trợ các tổ chức khoa học và công nghệ đào tạo, đào tạo lại nhân lực

- Chính sách lương và phụ cấp lương cho cán bộ ngành y tế còn nhiều bất cập, phụ cấp nghề nghiệp quá thấp, nhất là khu vực hải đảo, vùng xa, vùng khó khăn, lĩnh vực y tế dự phòng và y tế

cơ sở Điều kiện làm việc của phần lớn cán bộ y tế còn nhiều khó khăn do cơ sở vật chất thiếu thốn, trang thiết bị chưa đủ, chưa đảm bảo Mô hình tổ chức hệ thống y tế chưa ổn định, nhất là

hệ thống y tế cơ sở và y tế dự phòng

- Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo (bao gồm các cơ sở giáo dục nghề nghiệp) chưa hình thành Việc giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo chưa có sự gắn kết, thiếu thông tin dự báo nguồn nhân lực, thông tin về thị trường lao động Tính quy hoạch, kế hoạch về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức còn nhiều bất cập Nguồn vốn đầu tư cho nâng cao chất lượng nhân lực, phát triển các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học còn hạn chế Thiếu chủ động, tích cực trong hợp tác trong nước, quốc tế trong lĩnh vực đào tạo phát triển nhân lực chất lượng cao Đến nay nhiều Sở, ngành vẫn chưa hoàn thành quy hoạch ngành, lĩnh vực mình để làm cơ sở cho các địa phương, đơn vị xây dựng đề án hoặc quy hoạch nhân lực của địa phương, đơn vị

- Cơ chế chính sách chưa khuyến khích được học sinh vào học nghề, mức thu học phí thấp nên điều kiện để cho học sinh thực hành rèn luyện kỹ năng hạn chế; các doanh nghiệp chưa sẵn sàng tham gia vào quá trình đào tạo Nhận thức của xã hội còn chưa đầy đủ, tư tưởng trọng bằng cấp vẫn còn nặng nề; công tác tuyên truyền còn chưa thường xuyên, nội dung và hình thức tuyên truyền còn chưa phong phú Ngân sách nhà nước đầu tư cho dạy nghề còn hạn hẹp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao

4 Giải pháp khắc phục những tồn tại hạn chế

- Để khắc phục những tồn tại, hạn chế đã nêu ở trên, Thành phố đã chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án, dự án cụ thể phát triển nhân lực được nêu trong Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2011 - 2020 Lồng ghép các mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển nguồn nhân lực vào Chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của các Sở, ngành, địa phương, đơn vị

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội; thay đổi quan điểm, hành động và tâm lý xã hội tạo động lực phát triển nhân lực của thành phố; xác định phát triển nhân lực chất lượng cao là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội

Trang 5

- Hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ lập, rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy hoạch ngành, lĩnh vực

và các địa phương, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030, trong đó có các đề xuất về nhà ở cho lao động trong các khu, cụm công nghiệp

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực của địa phương, kết nối với hệ thống dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia Hoàn thiện Đề án về Xây dựng

và triển khai đồng bộ cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao trên địa bàn thành phố trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt để làm cơ sở cho các cấp, ngành, địa phương, đơn vị triển khai thực hiện

- Thực hiện Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/

TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

- Phối hợp với các Bộ, ngành trong việc phê duyệt các chương trình, dự án trọng điểm phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lực của địa phương; rà soát, hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố, bảo đảm phù hợp với quy hoạch mạng lưới chung các cơ sở đào tạo, dạy nghề trong cả nước Triển khai có hiệu quả Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Đề án 1956) trên địa bàn thành phố

- Tổng hợp, đánh giá và dự báo các vấn đề về lao động - việc làm trên địa bàn thành phố; tính toán, dự báo, xác định nhu cầu lao động kỹ thuật hàng năm cho từng lĩnh vực, ngành, nghề và toàn thành phố Tổ chức điều tra, khảo sát về lao động - việc làm trên địa bàn thành phố, công bố công khai kết quả điều tra trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân, doanh nghiệp,

cơ sở đào tạo và các đối tượng có nhu cầu tìm hiểu, nắm bắt cơ hội học tập, tìm việc hoặc tuyển dụng lao động

- Rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ, định hướng nghiên cứu, phát triển, xây dựng quy hoạch,

kế hoạch đào tạo phát triển nhân lực khoa học công nghệ ở ngành, đơn vị và chung cho toàn thành phố Đề xuất cơ chế, chính sách, hình thức, phương pháp, cấp độ đào tạo phù hợp

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực của thành phố, kết nối với

hệ thống dữ liệu, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia Tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống thông tin dự báo nhu cầu nhân lực của thành phố đảm bảo tính kết nối, thông suốt về thông tin giữa các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân

- Chỉ đạo các cơ sở đào tạo thực hiện tốt chủ trương tự chủ trong tuyển sinh và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời rà soát điều chỉnh quy mô và ngành nghề đào tạo cho phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương và nhu cầu xã hội

- Ưu tiên các nguồn lực đầu tư cho phát triển nhân lực thông qua các chương trình; dự án của Quy hoạch Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo theo Nghị quyết số 07/2013/NQ-HĐND ngày 25/7/2013 của Hội

Trang 6

đồng nhân dân thành phố Ưu tiên quỹ đất cho phát triển các cơ sở giáo dục và đào tạo theo đúng định hướng quy hoạch đã đề ra

II Tổng quan về tình hình triển khai xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2020

1 Những thuận lợi

Nhận thức sâu sắc về vị trí vai trò nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, Thành

ủy Hải Phòng đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố cùng các cơ quan liên quan tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ tình hình phát triển nhân lực của thành phố, trong đó đặc biệt quan tâm đến nhân lực chất lượng cao Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Nghị quyết số

18-NQ/TU về “Một số chủ trương, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng đến 2020”, đây là

cơ sở quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển nhân của thành phố Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 của các ngành, địa phương, Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 1695/QĐ-UBND ngày 13/10/2010) để triển khai xây dựng Quy hoạch

2 Những khó khăn thách thức

- Sự hội nhập kinh tế sâu sắc của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới đang dẫn tới sự dịch chuyển nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn vào dịch vụ và công nghiệp, vào những ngành có giá trị xuất nhập khẩu lớn, tốc độ xuất khẩu nhanh Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã và đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của nguồn nhân lực của Việt Nam nói chung và của Hải Phòng nói riêng

- Khi xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2020 chưa

có Quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực của cả nước và Quy hoạch phát triển nhân lực của các ngành kinh tế - xã hội nên định hướng phát triển nhân lực của thành phố chưa được chuẩn xác Nhiều căn cứ pháp lý để xây dựng quy hoạch mới chỉ là dự thảo, chưa được ban hành chính thức, như: Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2011- 2020; Chiến lược Phát triển giáo dục đến năm 2020; Chiến lược phát triển dạy nghề đến năm 2020 Suất đầu tư cho giáo dục

- đào tạo ngày càng lớn, trong khi nguồn thu của thành phố còn thấp, chưa đáp ứng được mức tối thiểu của nhu cầu đào tạo nhân lực, dẫn đến chất lượng đào tạo luôn bị tụt hậu so với khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố

- Thành phố triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức và những biến động khó lường cũng đã tác động không nhỏ đến việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch

3 Nguyên nhân của những khó khăn thách thức

Trang 7

- Một số địa phương, đơn vị chưa quan tâm đứng mức và nhận thức hết tầm quan trọng của việc thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020

- Sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng tham mưu giúp thành phố trong quản lý và phát triển nhân lực còn hạn chế Công tác hướng nghiệp cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức

Sự kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa được thực sự chú trọng và đề cao Chất lượng công tác đào tạo và trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố

- Công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố trong việc ban hành các cơ chế chính sách liên quan đến phát triển nhân lực chưa đạt kết quả như mong muốn Chưa giao đầy đủ quyền tự chủ về tuyển dụng đội ngũ giảng viên cho các trường đại học, cao đẳng công lập đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ

III Tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và các giải pháp nêu trong Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2020

1 Những mặt được

Việc triển khai Quy hoạch phát triển nhân lực của thành phố đã được lồng ghép trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của thành phố Trong kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/2011/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIV kỳ họp thứ 2 về

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh thành phố 5 năm 2011-2015 đã xác định ưu tiên tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững là một trong những nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá của thành phố Hàng năm thành phố xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố để các cấp, các ngành, các địa phương triển khai thực hiện, cụ thể:

1.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển nhân lực

- Công tác tuyên truyền phổ biến tới cán bộ, đảng viên, nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố về vị trí, vai trò đóng góp của nhân lực đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước, nhất là lực lượng lao động trực tiếp tham gia sản xuất có tay nghề, kỹ thuật nhằm nâng cao nhận thức xã hội, thay đổi quan điểm, hành động và tâm lý xã hội trong lựa chọn nghề nghiệp đã đạt kết quả nhất định Nhận thức của các cấp, các ngành, đặc biệt là nhận thức của người dân về học nghề tăng rõ rệt Nhu cầu học nghề để làm việc tại doanh nghiệp hoặc tự tạo việc làm ngày càng được người dân, xã hội quan tâm và nhận thức được đây

là yêu cầu cần thiết để người lao động có cơ hội tìm việc làm và tự tạo việc làm

- Hàng năm thành phố đa tổ chức các hoạt động biểu dương, khen thưởng, bình xét danh hiệu, phong và trao các danh hiệu, giải thưởng tôn vinh các tập thể, đơn vị, cá nhân có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thành phố, tạo động lực cho sự quan tâm của toàn xã hội; sự phấn đấu của gia đình và bản thân cán bộ, người lao động vươn lên

1.2 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành đến quá trình phát triển nhân lực.

Trang 8

- Thành phố đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nhân lực chất lượng cao, như: Triển khai Đề án Phát triển nhân lực chất lượng cao; Đề án đào tạo 100 tiến sỹ, thạc sỹ ở nước ngoài; Đề án đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho quân nhân xuất ngũ; Chính sách ưu tiên tuyển dụng nhân lực trình độ cao (từ Thạc sỹ trở lên) vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của thành phố; ưu tiên giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các cơ sở giáo dục và đào tạo

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền đã nhận thức rõ và xác định đào tạo, phát triển nhân lực vừa là chiến lược lâu dài, vừa là biện pháp trước mắt đảm bảo đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố và góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển của cả nước

- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng từng bước hướng tới đạt chuẩn, mô hình đào tạo thí điểm được xây dựng rút kinh nghiệm chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực, đào tạo nghề đã gắn với sử dụng lao động

1.3 Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế thành phố giai đoạn 2011-2015 chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản, dẫn đến cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch tích cực, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, thành phần kinh tế Số lượng và tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông lâm thủy sản giảm (năm 2011: 28,71%; năm 2015: 24,18%) ngành dịch vụ (năm 2011: 42,23%; năm 2015: 48,57%) ngành công nghiệp - xây dựng (năm 2011: 29,26%; năm 2015: 27,25%)

1.4 Chính sách phát triển thị trường lao động và hệ thống công cụ thông tin thị trường lao động

- Thị trường lao động của thành phố được định hướng phát triển phù hợp với định hướng của Nghị quyết và các quy định khác có liên quan của pháp luật hiện hành Các kênh giao dịch trên thị trường lao động đang dần hình thành Sàn Giao dịch việc làm của thành phố đã được đầu tư xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 30/8/2011, giai đoạn 2011- 2015 đã tổ chức được

116 phiên giao dịch với sự tham gia tuyển dụng của 3.862 lượt doanh nghiệp, có 134.403 lượt người đến Sàn được tư vấn việc làm và đạt sơ tuyển 20.347 người Trên cơ sở nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp và người tham gia tư vấn việc làm, thành phố đã đề nghị và được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội lựa chọn là một trong 15 trung tâm trọng điểm trên toàn quốc được đầu tư với số kinh phí là 45 tỷ đồng để đầu tư nâng cao năng lực Trung tâm dịch vụ việc làm giai đoạn 2016-2020

- Hệ thống các đơn vị giới thiệu việc làm đã được sắp xếp, kiện toàn lại Thành phố hiện có 9 đơn vị đăng ký hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm, gồm: 3 trung tâm giới thiệu việc làm và 6 đơn vị khác (doanh nghiệp, trường dạy nghề) có đăng ký hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm Các đơn vị này đang từng bước phát triển thành cầu nối giữa cung và cầu lao động trên thị trường

1.5 Tăng cường phối hợp giữa bốn bên trong quá trình phát triển nhân lực (Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp và người học)

Trang 9

Để thực hiện được mục tiêu đào tạo theo nhu cầu của xã hội và đào tạo cho doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng lao động qua đào tạo, một số trường đã chủ động phối hợp với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố để trao đổi thông tin việc làm cho sinh viên, mời thỉnh giảng theo chuyên đề Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là một trong số các trường tổ chức tốt chuỗi Chương trình “Kết nối Doanh nghiệp - Nhà quản lý - Đơn vị đào tạo” qua đó đã tăng cường sự gắn kết đa dạng, thiết thực giữa các lĩnh vực hoạt động của Nhà trường với cộng đồng các doanh nghiệp, các đơn vị quản lý nhà nước với trọng tâm là cải tiến nội dung chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy, thực tập thực hành, nghiên cứu khoa học

và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội, tiếp cận thông tin tuyển dụng và giới thiệu việc làm sinh viên góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển thương hiệu

1.6 Triển khai các chương trình, đề án, dự án ưu tiên phục vụ phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020

- Đề án đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài: Chương trình hợp tác trong nước và quốc tế trong

đào tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao được thực hiện có hiệu quả thông qua Đề án đào tạo

100 Thạc sĩ, Tiến sĩ ở nước ngoài đã chọn cử được 44 cán bộ đi học Thành phố đã cử 20 cán bộ, công chức, viên chức đi học nước ngoài theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương

- Phát triển Trường Đại học Hải Phòng thành trường đại học chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực: Trường Đại học Hải Phòng là một trong những trung tâm đào tạo đại học đa ngành và lĩnh

vực, từ năm 2011 đến 2015 Trường tập trung vào việc tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo; tiếp tục mở rộng đào tạo sau đại học và triển khai đào tạo Nghiên cứu sinh khi đủ điều kiện Hiện nay trường

có 38 đơn vị trực thuộc, trong đó có 14 khoa, 01 Viện, 5 Trung tâm, 3 trường thực hành sư phạm; nhà trường hiện đang đào tạo 04 ngành trình độ thạc sĩ, 57 chuyên ngành hệ chính quy, là 1/40 trường đại học trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm định chất lượng giáo dục đại học đạt tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Việt Nam

- Phát triển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thành trường trọng điểm quốc gia đạt trình độ quốc tế trong việc đào tạo các chuyên ngành hàng hải: Ngày 03/7/2013 Thủ tướng Chính phủ đã

ban hành Quyết định số 1056/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam; Trường đã trở thành tổ hợp đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh với hàng trăm phòng thí nghiệm hiện đại, cùng các thiết bị mô phỏng huấn luyện, phòng thực hành, tàu huấn luyện, tàu vận tải và trung tâm nghiên cứu Hiện nay trường đang đào tạo 8 chuyên ngành tiến sĩ, 11 chuyên ngành trình độ thạc sĩ, 40 chuyên ngành đại học, 10 chương trình dạy nghề với trên 20.000 học viên và sinh viên, trong đó có nhiều học viên và sinh viên đến từ các nước: Hàn Quốc, Hoa kỳ, Mozambique, Nigeria, Nam Phi

- Phát triển Trường Đại học Y Hải Phòng thành Trường Đại học Y Dược Hải Phòng: Ngày

11/11/2013 tại Quyết định số 2153/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đổi tên Trường Đại học Y Hải Phòng thành Trường Đại học Y Dược Hải Phòng với mục tiêu: Xây dựng và phát triển trường Đại học Y Dược Hải Phòng trở thành Trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có uy tín trong nước và quốc tế, cung cấp nguồn nhân lực y tế chất lượng

Trang 10

cao đáp ứng nhu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là đào tạo chuyên ngành y học biển - đảo Hiện nay trường đang triển khai, mở rộng các ngành đào tạo thuộc nhóm ngành khoa học sức khỏe ở trình độ đại học (Bác sỹ đa khoa, Bác sỹ Răng Hàm mặt, Dược sỹ Đại học ); sau đại học (Tiến sĩ; Bác sĩ chuyên khoa cấp I; Bác sĩ chuyên khoa cấp II) và liên kết đào tạo với các trường đại học trên thế giới trong một số lĩnh vực mà trường có thế mạnh

- Đầu tư xây dựng Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú: Dự án đầu tư xây dựng

Trường THPT Chuyên Trần Phú được phê duyệt và điều chỉnh với tổng mức đầu tư 356.072 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách thành phố Giai đoạn I, trường được đầu tư với quy mô đào tạo 66 lớp học, 2.000 học sinh, gồm: Nhà hành chính hiệu bộ 3 tầng; Nhà thư viện 4 tầng; nhà lớp học chính 4 tầng; nhà học các đội tuyển 4 tầng và các hạng mục phụ trợ, hạ tầng kỹ thuật ngoài nhà Đến nay, trường đã hoàn thành giai đoạn I đưa vào sử dụng đầu năm học 2016-2017

- Phát triển Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện nghiên cứu hải sản đạt trình độ khu vực

và quốc tế:

- Viện Tài nguyên và Môi trường biển cấp quốc gia, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong 10 năm gần đây Viện đã chủ trì 34 đề tài, nhiệm vụ khoa học - công nghệ cấp Nhà nước và tương đương; 29 đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam;

69 đề tài cấp bộ, ngành, tỉnh, thành phố và tương đương; Viện chủ trì thực hiện các đề tài, dự án, nhiệm vụ hợp tác quốc tế: 9 đề tài, dự án hợp tác song phương theo nghị định thư; 23 đề tài, dự

án ODA và NGO; 6 đề tài, dự án hợp tác quốc tế khác Các đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học do Viện chủ trì thực hiện, đều đạt được những kết quả nghiên cứu quan trọng, có nhiều

đề tài đã được nghiệm thu xuất sắc, kết quả nghiên cứu của đề tài được ứng dụng vào thực tiễn góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ tổ quốc

- Viện nghiên cứu hải sản là đơn vị sự nghiệp khoa học công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; chức năng của Viện là nghiên cứu khoa học và công nghệ nghề cá biển; điều tra nguồn lợi hải sản, môi trường biển và đa dạng sinh học biển; chuyển giao công nghệ; đào tạo sau đại học; tư vấn về chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển nghề cá biển phục

vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hiện nay, Viện đang từng bước xây dựng trở thành một Viện nghiên cứu ngang tầm với các Viện nghiên cứu của một

số nước tiên tiến trong khu vực và quốc tế Viện có đội ngũ cán bộ nghiên cứu giàu kinh nghiệm,

có năng lực và trình độ đáp ứng được việc thực thi nhiệm vụ

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo thành phố để thực hiện Đề án; xây dựng kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, ngành, địa phương để triển khai thực hiện Sau 5 năm thành phố đã

tổ chức dạy nghề cho 118.500 lao động nông thôn, trong đó 16.289 người được hỗ trợ kinh phí đào tạo theo chính sách của Đề án 1956, sau khi kết thúc khóa học có 13.911 người có việc làm phù hợp với nghề đào tạo, đạt tỷ lệ 85%

- Đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức, viên chức nhà nước: thành phố đang triển khai xây

dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ngày đăng: 23/10/2017, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w