1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di mi c cu h thng giao dc vit na

15 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỔI MỚI CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU THAY ĐỔI CỦA XÃ HỘI Lê Đông Phương Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Email: phuongld@vnies.edu.vn Tóm tắt: Từ khi thành lập n

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

Phát triển bền vững chất lượng giáo dục phổ thông trong kỉ nguyên số - Lê Anh Vinh 2

Đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam đáp ứng các yêu cầu thay đổi của xã

hội - Lê Đông Phương 6 Tổng lược về các nền tảng của chương trình giảng dạy - Nguyễn Hồng Liên 19

Thực trạng triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018 trong dạy học lớp 1,

năm học 2020-2021 – góc nhìn từ giáo viên - Bùi Ngọc Diệp, Nguyễn Hồng Liên và nhóm nghiên cứu 33

Thực trạng và đề xuất một số giải pháp về triển khai giáo dục địa phương cấp tiểu

học - Đoàn Thị Thúy Hạnh, Hồ Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Chi 46

Đôi nét về: nghiên cứu của viện khoa học giáo dục việt nam góp phần xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới (chương trình giáo dục phổ thông 2018) -

Lương Việt Thái 58

Sách giáo khoa môn tiếng Việt và biện pháp phát triển ngôn ngữ - tư duy cho học

sinh tiểu học - Trần Thị Hiền Lương 63

Giới thiệu một số nội dung về chương trình và bộ sách giáo khoa tiếng Việt dành

cho học sinh lào tại Lào - Nguyễn Hồng Vân 71

Đề án “đưa nội dung các sản phẩm của công trình lịch sử quan hệ đặc biệt hai nước Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam vào giảng dạy tại các trường học hai nước”

- Lê Thị Sông Hương 83

Lồng ghép giáo dục giới tính và tình dục toàn diện trong Chương trình giáo dục

phổ thông 2018 – cấp Trung học cơ sở - Dương Quang Ngọc 93

Giáo dục nội dung kinh tế cho học sinh trung học phổ thông tại Việt nam – kinh

nghiệm từ kỳ thi Olympic kinh tế quốc tế IEO - Nguyễn Thanh Tâm 118

Giáo dục công dân toàn cầu trong môn đạo đức cấp Tiểu học (chương trình giáo

dục phổ thông 2018) - Nguyễn Việt Hà 129

Giáo dục bảo vệ môi trường qua hoạt động STEM hướng đến phát triển bền vững:

sự sẵn sàng của giáo viên Tiểu học - Đỗ Dức Lân, Bùi Diệu Quỳnh, Bùi Thị Diển, Nguyễn Sỹ Nam, Lê Anh Vinh 138

Trang 3

ĐỔI MỚI CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU THAY ĐỔI CỦA XÃ HỘI

Lê Đông Phương

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Email: phuongld@vnies.edu.vn

Tóm tắt: Từ khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 đến nay nền giáo

dục Việt Nam đã có nhiều lần thay đổi cơ cấu hệ thống giáo dục nhằm thích ứng với các yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn Báo cáo này cố gắng phản ánh một phần những thay đổi

đó trong cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam nhằm giúp các nhà giáo dục có thể định hình các cải cách trong tương lai

Từ khóa: hệ thống giáo dục, giáo dục Việt Nam, đổi mới giáo dục, chính sách giáo dục, giáo

dục so sánh, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, nghiên cứu chính sách

Đặt vấn đề

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa

XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế,

trong đó nêu rõ cần: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo” (Mục B.I.5) và

“Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập…”

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay đang bị phân mảnh Mối liên kết giữa các bộ phận trong hệ thống: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học còn lỏng lẻo; mạng lưới các cơ sở giáo dục chưa hợp lý, không đồng bộ; Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo chậm được khắc phục, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội và hội nhập quốc tế

Khái niệm về hệ thống giáo dục

Theo Ủy ban Châu Âu hệ thống giáo dục (education system) là “Cách thức giao tiếp của các cơ sở, các chương trình và con người với mục đích cung cấp giáo dục cho một bộ phận hay toàn thể dân chúng”

Theo Trung tâm về giáo dục nghề của UNESCO (UNEVOC) thì hệ thống giáo dục (education system) là “Tổ chức cấu trúc tổng thể mà thông qua đó giáo dục với mọi dạng thức và cấp độ được cung cấp cho dân chúng” (IBE - UNEVOC, 1984)

Trang 4

Theo chỉ mục thông tin và từ điển quốc tế về thích ứng và hòa nhập xã hội (tiếng Pháp) thì hệ thống giáo dục (système éducatif) là các cấu trúc, phương thức hoạt động

và dịch vụ đảm bảo sự giáo dục và phát triển trí tuệ của con người1

Theo Wikipedia tiếng Đức khái niệm hệ thống giáo dục (Bildungsystem) được dùng để mô tả toàn bộ các cơ sở và khả năng tiếp nhận giáo dục trong một nhà nước

Nó bao hàm hệ thống nhà trường phổ thông với các nhánh, hệ thống giáo dục đại học

và phạm trù bồi dưỡng cá nhân Trong khi hệ thống trường phổ thông phần nhiều được điều tiết và tổ chức chặt chẽ thì hệ thống giáo dục cũng có những thành phần rộng, không được điều tiết Hệ thống giáo dục phải cung cấp giáo dục cho tất cả dân cư trong suốt cuộc đời của mình2

Theo Serdyukov (2017) một hệ thống giáo dục quốc gia là sản phẩm đặc trưng của tập hợp các ảnh hưởng về lịch sử, chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế Một hệ thống tổng thể có các vùng khác nhau nhưng liên quan và phụ thuộc lẫn nhau và hoạt động cùng nhau, do vậy mỗi thay đổi của một thành phần sẽ dẫn đến thay đổi của các thành phần khác

Như vậy hệ thống giáo dục có thể được hiểu là tổng thể các cơ sở, các chương trình cùng với các mối quan hệ giữa các thành phần với nhau và với các bộ phận dân

cư của một quốc gia

Hệ thống giáo dục Việt Nam theo Sắc lệnh 146 năm 1946

Ngày 10 tháng Tám năm 1946 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 146 về Đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới Theo sắc lệnh này nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên

ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá, và theo tôn chỉ

phụng sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ

Hệ thống giáo dục quốc dân theo đó được quy định như sau:

- Giáo dục ấu trĩ: dành cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Đệ nhất cấp: bậc học cơ bản

- Đệ nhị cấp: có hai ngành: ngành học tổng quát và ngành học chuyên môn

- Đệ tam cấp: bậc đại học

Bậc học cơ bản dậy những điều thường thức cần thiết và luyện những tập quán tốt cho các trẻ con từ 7 tuổi Thời gian học là 4 năm Học sinh học hết năm thứ tư sẽ thi lấy bằng giáo dục cơ bản Bậc học cơ bản sẽ là bậc học cưỡng bách bắt đầu từ năm 1950 Sự cưỡng bách ấy sẽ tuỳ theo tình trạng kinh tế và xã hội trong nước mà thi hành dần làm nhiều thời kỳ, theo thủ tục do nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau

1 Fougeyrollas, Patrick, René Cloutier, Hélène Bergeron, Jacques Côté and Ginette St Michel The Quebec Classification : Disability Creation Process, Québec, International Network on the Disability Creation Process,

1998, p 115 tham khảo tại www.med.univ-rennes1.fr/iidris/cahce/fr/53/5373

2 Tham khảo tại http://de.wikipedia.org/wiki/Bildungswesen

Trang 5

Sau bậc học cơ bản, có lớp dự bị một năm với mục đích chọn lọc và phân chia học sinh vào các chương trình chung (tổng quát) hay chuyên môn ở đệ nhị cấp (phân luồng học sinh) Lớp dự bị sẽ được tổ chức khi có điều kiện thuận tiện về nhân viên và dụng cụ

Giáo dục chuyên nghiệp dành cho học sinh đã theo các lớp dự bị chuyên nghiệp chia ra nhiều ban và có mục đích đào tạo các cán bộ thực tiễn về phần học lý thuyết và thực hành về các ngành kinh tế xã hội Thời gian học ít nhất là 3 năm và bằng tốt nghiệp

là bằng kỹ sư Những sinh viên đã đỗ kỹ sư vào ưu hạng có thể xin vào học các trường Cao đẳng chuyên môn bậc đại học mà không cần có bằng thuật học tổng quát

Bậc đại học gồm các ban Văn khoa, Pháp lý và các trường Cao đẳng chuyên môn, thời gian học là 3 năm (Y học, Dược học, Mỹ thuật, Thương mại, Nông lâm, Kiến trúc, Điện học, Khoáng sản v.v )

Hình 1 Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt nam theo Sắc lệnh 146 năm 1946

Hệ thống giáo dục Việt Nam sau cải cách giáo dục 1950

Sau 4 năm kháng chiến, giáo dục chưa phát triển mạnh giáo, ngoại trừ xóa nạn

mù chữ và phát triển giáo dục tiểu học và phần nào đó giáo dục trung học cơ sở, còn phát triển giáo dục phổ thông trung học thì rất khó Trong tình hình đó, Đảng và Chính phủ đã quyết định giảm thời gian học phổ thông từ 12 năm xuống 9 năm mà không có chuyên khoa, thay 3 năm chuyên khoa bằng hai lớp 8 và 9 không có chuyên khoa Năm

1950 chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hoà thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất Cuộc cải cách được Hội Đồng Chính Phủ thông qua vào tháng 07/1950 và Bộ Quốc Gia Giáo Dục ban hành và thực hiện từ 1950 đến 1952 Các sửa đổi gồm có:

Trang 6

-Bậc Giáo Dục Phổ Thông: cấu trúc được sửa đổi như sau: Vỡ Lòng: 1 năm, Cấp I: 4 năm, Cấp II: 3 năm, Cấp III: 4 năm (2 năm, không chia ban + 2 năm dự bị đại học)

- Bậc Đại Học và Cao Đẳng

Hình 2 Hệ thống giáo dục Việt Nam sau cải cách giáo dục 1950

Như vậy thời gian học phổ thông không những là rút ngắn đi 3 năm học còn giảm

cả chiều sâu mà không có chuyên khoa Vậy thì giảm đi rất nhiều yêu cầu về số lượng

và chất lượng giáo viên Điều đó cho phép mở rộng lớp 8 và lớp 9 ra khắp nước (Nguyễn Cảnh Toàn, 2015)

Hệ thống giáo dục Việt Nam sau thống nhất đất nước 1976

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thống nhất nền giáo dục cả nước Giáo dục mang sứ mạng mới chuẩn bị đào tạo thế hệ mới đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới xây dựng đất nước dân chủ, giàu mạnh và phồn vinh

Ngày 11/1/1979, Bộ chính trị ĐCSVN đã thông qua Nghị quyết 14/NQ-TW về cải cách giáo dục lần thứ ba, hệ thống GDPT 12 năm gồm 2 bậc học:

- Bậc phổ thông cơ sở 9 năm, gồm hai cấp học: cấp I là 5 năm, bao gồm cả học vần và cấp II là 4 năm

- Bậc phổ thông trung học 3 năm (cấp III)

Mục tiêu GDPT là làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện kế tục sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, hết lòng lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ tổ quốc

Trang 7

Hình 3 Hệ thống giáo dục Việt Nam sau thống nhất đất nước 1979

Điểm mới quan trọng nhất của cuộc cải cách này là thống nhất 2 hệ thống giáo dục 10+1 và 12 năm thành 12 năm trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam theo Nghị định 90/CP

Năm 1986 đánh dấu thời kỳ đổi mới toàn diện của đất nước do Đảng khởi xướng

và lãnh đạo Cùng các chủ trương lớn về phát triển giáo dục trong những năm đổi mới

là chủ trương tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu về dân trí, nhân lực, nhân tài của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh chuyển sang KTTT định hướng XHCN

Các ý tưởng về đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng đa dạng hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa đã hình thành từ đây Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thành công của những năm đầu đổi mới, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển cân đối HTGD: GDMN, GDPT, GDNN, GDĐH và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác” (Điều 36) Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp

GD&ĐT" chính thức xác lậpmột số đổi mới trong nguyên lý hoạt động của HTGD, trong

đó có yêu cầu đa dạng hóa các loại hình nhà trường Tất cả đã tạo thành môi trường pháp

lý và bối cảnh xã hội thuận lợi cho việc hình thành hệ thống giáo dục quốc dân mới cùng

sự ra đời và phát triển của các cơ sở giáo dục ngoài công lập gồm bán công, dân lập, tư

thục, ở mọi cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục nước ta GDTX lần đầu tiên được đưa vào như một bộ phận của HTGDQD, vừa khẳng định vị trí và tầm quan

trọng của các trường lớp bổ túc văn hoá trước đây, vừa củng cố và phát triển các hình

Trang 8

thức giáo dục không chính quy, nhằm tạo thêm cơ hội học tập cho bất kỳ ai có nhu cầu (Chính phủ, 1993)

Hình 4 Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt nam theo Nghị định 90/CP năm 1993

Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam theo Luật Giáo dục 1998

Thực tế triển khai vận hành hệ thống giáo dục quốc dân theo Nghị định 90/CP cho thấy “một số chủ trương chưa được nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo trước khi áp dụng,

tổ chức thực hiện lại có nhiều thiếu sót, nổi bật là vấn đề phân ban ở THPT và đào tạo hai giai đoạn ở đại học

Vì thế Luật Giáo dục 1998 đã có những điều chỉnh quan trọng đối với hệ thống giáo dục theo Nghị định 90/CP Phương thức giáo dục gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy Các loại hình nhà trường gồm công lập, bán công, dân lập, tư thục Trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong HTGDQD; trường bán công, dân lập, tư thục được khuyến khích phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội

Uu điểm của hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục 1998 là đã khắc phục được một số khiếm khuyết trong thực tế triển khai trung học chuyên ban và đại học đại cương Nhược điểm của nó là tính cứng nhắc trong quy định Điều đó không phù hợp với xu thế phát triển giáo dục ngày nay với những thay đổi nhanh chóng và bất thường của đời sống kinh tế - xã hội Trong đó nổi lên hàng đầu là các yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục do tác động của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế

Trang 9

Hình 5 Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam theo quy định của Luật Giáo dục 1998

Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam theo Luật Giáo dục 2005

Trước những tác động nêu trên của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, khi tiến hành tổng kết thực tiễn việc đưa Luật Giáo dục 1998 vào cuộc sống, nhiều ý kiến

đề nghị cần thiết kế lại hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mềm dẻo hơn, liên thông hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của đất nước, yêu cầu đa dạng của người học, đảm bảo để bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ lúc nào, với bất kỳ trình độ nào, cũng có

cơ hội tiếp tục học lên, trau dồi học vấn, bồi dưỡng chuyên môn

Trang 10

Hình 6 Hệ thống giáo dục Việt Nam theo quy định của Luật giáo dục 2005 và 2009

Các đặc trưng mới nổi bật của hệ thống giáo dục theo cơ cấu (Quốc hội, 2005) này là:

- Giáo dục chính quy và GDTX là hai bộ phận gắn kết, liên thông, bổ sung cho nhau trong HTGDQD, nhằm tạo điều kiện để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, mọi nơi, mọi lúc được học tập, học liên tục, học suốt đời

- Khi học để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục, dù theo học giáo dục chính quy hay GDTX, người học phải tuân theo các yêu cầu như nhau về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục, về chuẩn đánh giá, kiểm tra và thi Khi đó kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ mà người học tích luỹ được khi theo học một cấp học hoặc trình độ đào tạo có giá trị chuyển đổi lẫn nhau giữa chương trình giáo dục chính quy

và chương trình GDTX tương ứng

- Giáo dục phổ cập bao gồm cả tiểu học và THCS

- Dạy nghề gồm ba trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng

- Các chương trình giáo dục phải tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong HTGDQD Chương trình THPT được thiết kế theo hướng phân ban; chương trình đào tạo trình

độ đại học bao gồm các chương trình đa giai đoạn

- Cơ sở giáo dục nước ngoài không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Giáo dục mà được thực hiện theo quy định của Chính phủ

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w