1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chính trị học đại cương

13 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 313,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử xã hội cổ đại, có nhiều quan điểm và hệ thống tư tưởng chính trị về đường lối điều hành đất nước, nổi bật trong số đó là các nhà tư tưởng Hy Lạp và Trung Quốc.. Đặc biệt, c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 KHOA LỊCH SỬ 

TIỂU LUẬN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP GIA

HỌC PHẦN: HIST100902 – Chính trị học đại cương

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 KHOA LỊCH SỬ 

TIỂU LUẬN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP GIA

HỌC PHẦN: HIST100902 – Chính trị học đại cương

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Minh Châu

Mã số sinh viên: 46.01.608.011

Lớp học phần: Chính trị học đại cương

Giảng viên hướng dẫn: Hồ Ngọc Diễm Thanh

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI 2

2 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHÁI PHÁP GIA 3

2.1 Tư tưởng chính trị Pháp gia của Hàn Phi Tử 3

2.2 Quan hệ giữa “pháp”, “thuật” và “thế” 7

2.3 Một số hạn chế của tư tưởng Pháp tri 8

KẾT LUẬN 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Tư tưởng và quan điểm trị nước luôn là một vấn đề quan trọng trong đời sống chính trị của nhân loại kể từ khi nhà nước và giai cấp xuất hiện đến nay Trong lịch sử

xã hội cổ đại, có nhiều quan điểm và hệ thống tư tưởng chính trị về đường lối điều hành đất nước, nổi bật trong số đó là các nhà tư tưởng Hy Lạp và Trung Quốc Đặc biệt, các nhà tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại, bao gồm Nho Gia, Đạo Gia, Mặc Gia, Pháp Gia đã đưa ra vô số cách thức điều hành đất nước

Tuy nhiên, không phải phương pháp điều hành nước quốc gia nào cũng là tối ưu

và có thể sử dụng được Trong xã hội cổ đại Trung Quốc, những tư tưởng của Khổng

Tử, Lão Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử đều có giá trị lịch sử nhất định, nhưng trong một xã hội cổ đại luôn xảy ra tranh chấp và chiến tranh như Trung Quốc lại không thành công như ý muốn Xã hội cổ đại Trung Quốc Trong bối cảnh đó, tư tưởng Pháp trị của Pháp gia, đặc biệt là tư tưởng của Hàn Phi đã được Tần Thủy Hoàng sử dụng có hiệu quả trong việc thống nhất Trung Quốc và có vai trò nhất định trong việc trị nước trong những năm sau đó

Giá trị của tư tưởng pháp trị có tác dụng thiết lập pháp luật để ổn định các vấn đề chính trị, xã hội Với nhu cầu nghiên cứu và học tập những giá trị lịch sử của tư tưởng chính trị Pháp gia, em đã chọn đề tài này

Trang 5

NỘI DUNG

1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC

THỜI CỔ ĐẠI

Trung Quốc là một quốc gia phương Đông điển hình, không có hình thức sở hữu

tư hữu về tư liệu sản xuất, đặc biệt thể hiện rõ nét nhất là không có tư hữu về ruộng đất

Ở các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện rất sớm khi những sự phân hóa giai cấp còn chưa phát triển Xã hội Trung Quốc cũng tương tự các xã hội khác ở Châu Á thời bấy giờ Đặc điểm của những xã hội ấy là công hữu rượng đất chiếm ưu thế, tàn dư công

xã kéo dài, nền kinh tế xã hội diễn ra với sự cống nạp từ bên dưới và phân phối từ bên trên

Xã hội Trung Quốc chiếm hữu nô lệ thời cổ đại được hình thành khoảng thiên niên

kỉ thứ II trước công nguyên Lịch sử xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc cổ đại là lịch

sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ, tầng lớp thượng lưu của xã hội chiến hữu nô

lệ đầy rẫy nông dân bị phá sản, nô dịch và phụ thuộc, giữa tầng lớp quí tộc gia truyền bị bần cùng hóa với thương nhân và trọc phú chiếm quyền Những xung đột giai cấp trong quốc gia chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc trở nên sâu sắc Cuộc đấu tranh ấy để lại những dấu ấn rất nặng nề, tạo tiền đề chính trị - xã hội cho cuộc đấu tranh các trường phái tư tưởng chính trị khác nhau rất đa dạng, phong phú

Vào thời Xuân thu – Chiến quốc, Trung Quốc loạn lạc bởi sự xâu xé lẫn nhau, chiến tranh bá quyền với nhau của hàng trăm tiểu quốc với sự liên minh của các nước nhỏ có tư tưởng tương đồng với nhau Vấn đề lớn nhất được đặt ra vào thời điểm này của Trung Quốc là làm thế nào để ổn định xã hội Từ đó ra đời các phong trào khác nhau, nổi bật trong số các cách chữa trị xã hội loạn lạc ấy là những nhà lớn là Nho gia với người đứng đầu là Khổng Tử, Pháp gia của Hàn Phi Tử, Lão gia của Lão Tử và Mặc

Trang 6

2 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHÁI PHÁP GIA

Trong số đó, học thuyết pháp trị đã xuất hiện, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu Pháp trị là một học thuyết chính trị - pháp lý tiêu biểu của Trung Hoa cổ đại, gồm những quan niệm được đề xuất, bổ sung và hoàn thiện bởi các đại biểu mà đại diện là Hàn Phi

Tử nhằm lý giải thực trạng, nguyên nhân biến động xã hội trong bối cảnh lịch sử, đặc biệt là thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc và đề xuất đường lối chiến lược trị nước lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu nhằm xây dựng quốc gia phong kiến Trung Quốc thống

nhất, trật tự, kỷ cương và thịnh trị (Tạp chí khoa học pháp lí Việt Nam, 2016) Cũng như

nhiều nhà đứng đầu khác, Hàn Phi Tử phê phán gay gắt xã hội đương thời và đưa ra cách giải quyết thiết thực hơn cả Ông cho rằng phương pháp trị nước phù hợp và hiệu quả nhất thời bấy giờ là pháp trị

2.1 Tư tưởng chính trị Pháp gia của Hàn Phi Tử

Hàn Phi (xem hình 2.1) sống vào thời Chiến quốc, là con trai của vua nước Hàn,

vì vậy ngay từ bé ông đã nhìn rõ các quan hệ vua tôi, cách trị nước và bản tính tranh giành, ích kỷ của con người Tư tưởng pháp trị vốn đã có từ thời Xuân thu với đại biểu Quản Trọng được coi là ông tổ của Pháp gia Đến thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị mới phát triển mạnh với ba dòng phái: trọng pháp của Thương Ưởng, trọng thế của Thận Đáo, trọng thuật của Thân Bất Hại Hàn Phi Tử đã tổng hợp ba dòng phái trên thành học thuyết pháp trị hoàn chỉnh nhất Trung Quốc cổ đại

Trang 7

Hình 2.1: Hàn Phi Tử

Nguồn: tapchisonghuong.com

Xuất phát từ luận điểm muốn trị nước cần phải có pháp luật, dùng nó để điều chỉnh hành vi của con người, là công cụ để nhà nước cai quản thần dân Theo Hàn Phi, quyền lực có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo cho quá trình cai trị đất nước của người cầm quyền Muốn xã hội ổn định thì cần phải thay đổi về các biện pháp chính trị, vì thời thế luôn thay đổi cho nên luật pháp cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống Ông chủ trương xây dựng một xã hội với tinh thần thượng tôn pháp luật dựa trên

sự kế thừa tư tưởng của những thế hệ đi trước Nếu như Thận Đáo đề cao “thế” trong phép trị nước, Thân Bất Hại lại cho rằng “thuật” là yếu tố cơ bản, còn Thương Ưởng đề cao “pháp” Thì tiếp thu những tư tưởng của các nhà triết học Pháp gia trước, Hàn Phi

là người đầu tiên coi trọng cả ba yếu tố “thế”, “thuật”, và “pháp” trong phép trị nước của ông Trong đó, "pháp" là nội dung của chính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ;

"thế" là công cụ, phương tiện tạo nên sức mạnh, còn "thuật" là phương pháp, cách thức

để thực hiện nội dung chính sách cai trị Ông cho rằng ba yếu tố đó phải thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước Vì vậy, trong đường lối pháp trị của mình, Hàn Phi nhấn mạnh ba nguyên lí trong chính trị: pháp, thế, thuật

Thứ nhất là trọng pháp

Theo Hàn Phi, bản tính con người là ác, có nhiều tật xấu như hám danh, hám lợi, tranh giành nhau, lười biếng, ích kỷ Cho nên con người tìm mọi cách để đạt được mục

Trang 8

đích của mình và chà đạp lên lợi ích của người khác Muốn kìm hãm những ham muốn của con người, theo Hàn Phi cần sử dụng pháp luật để cưỡng chế khiến họ không dám làm điều ác Hàn Phi khẳng định tầm quan trọng của pháp luật: "Bỏ pháp luật và thuật trị nước mà lấy cái tâm để trị thì Nghiêu cũng không chỉ chỉnh đốn được một nước Bỏ cái quy, cái củ lấy ý mà đo đạc bừa thì Hề Trọng (quan coi xe cộ của Hạ Vũ) không thể làm thành một bánh xe Bỏ thước tấc để so sánh cái dài, cái ngắn, thì Vương Nhĩ (tên người vợ khéo ngày xưa) không thể nêu được chỗ ở giữa Nhưng nếu một ông vua trung bình nắm lấy pháp luật mà trị nước, một người thợ vụng giữ cái quy, cái củ, cái thước, cái tấc, thì vạn điều không sai một điều Kẻ làm vua chúa nếu có thể bỏ được các điều

mà người giỏi cũng không làm được, để giữ cái mà người vụng làm vạn điều không sai

một thì sức người dùng được hết mà công danh được xác lập" (Phan Ngọc dịch, tr.252,

2001)

là nói đến những điều luật, luật lệ mang tính nguyên tắc, được biên soạn rõ ràng, minh bạch như khuôn mẫu, đuợc chép trong đồ thư và bày ra nơi quan phủ, ban bố rộng rãi cho dân chúng biết việc gì được làm và việc gì không được làm Hàn Phi viết: “Pháp là hiến lệnh công bố của các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận, giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp”

(Phan Ngọc dịch, tr.478, 2001) Nội dung chủ yếu của pháp luật theo Hàn Phi là thưởng

và phạt, ông gọi đó là hai đòn bẩy trong tay vua để giữ vững chính quyền Do đó, thưởng

và phạt không được tùy tiện, mà phải tuân theo nguyên tắc: Thưởng thì phải “tín”, phạt thì phải “tất” Thưởng phải trọng hậu, phạt phải nặng, bởi lẽ khi thưởng trọng hậu thì dân sẽ ham làm những điều thiện để mong lập công, còn khi phạt phải thật nặng để dân

sợ mà không dám làm điều ác Mục đích của việc thưởng phạt nghiêm minh theo Hàn Phi là để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời cho, trẻ con được nuôi dưỡng Những nội dung và mục đích này chính là những yếu tố quan trọng không những dùng để phân biệt phải trái, tốt xấu mà còn trở thành yếu tố không thể

thiếu trong đường lối trị nước của người cầm quyền

Thứ hai là trọng thuật

Trang 9

Nhờ vào cái “thế” mà vua đặt ra và ban bố luật pháp, chọn các bề tôi để giao nhiệm

vụ và thực hiện luật pháp Nhưng làm thế nào để chọn đúng người, giao đúng việc, làm thế nào để vua có thể cai quản được bộ máy quan lại và nhân dân khắp nước Điều đó lại phụ thuộc vào “thuật” Hàn Phi phê bình Thương Ưởng rằng, chỉ có pháp luật nhưng không có thuật thì không biết rõ kẻ gian Dù pháp luật có tô vẽ giải thích ra rõ mười phần, người làm tôi vẫn ngược lại dùng nó để làm chỗ dựa để mưu đồ lợi riêng Do vậy người làm chúa phải có "thuật", theo Hàn Phi "thuật" là cái nằm kín đáo trong bụng, để

so sánh các đầu mối của sự việc và ngấm ngầm cai trị các bề tôi (Chính trị học đại

cương, tr.42, 2012)

Thực chất "thuật" của Hàn Phi chỉ là thủ đoạn của "người làm vua" dùng để điều khiển cho các quan lại phải giữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh Nói cách khác là thuật dùng người Vua dùng bề tôi theo cách chính danh, căn cứ vào đó để thưởng, phạt, tức là lời nói, việc làm của bề tôi phải tương xứng Nói mà không làm cũng như làm mà không nói Làm không hết chức trách cũng có tội như làm quá chức trách Hàn Phi còn nêu rõ bảy thuật làm cho “an” và sáu đường làm cho “nguy” Ông phân tích từng thuật

để thấy rõ từ cái lợi, cái hại của nó Chẳng hạn như: Tập hợp sự khôn ngoan Tập hợp những người khôn để hỏi thì những người không khôn sẽ trở thành khôn Hiểu sâu một

vật thì những điều kín đáo đều biến mất (Phan Ngọc dịch, tr.149, 2001)

Thứ ba là trọng thế

Hàn Phi cho rằng chỉ có "pháp" mà thiếu quyền lực để cưỡng bức người thì dẫu người làm vua cũng không thể bảo đảm cho bề tôi phục tùng sự cai trị của mình Đồng thời, dẫu có pháp luật nhưng nhân dân không tuân theo cũng không thể đảm bảo cho pháp luật được thực hiện có hiệu lực Theo Hàn Phi, ngoài “pháp” ra thì “thế” cũng là yếu tố có vai trò cơ bản trong đường lối chính trị Quan niệm về "thế" của Hàn Phi đó

là một thứ quyền lực được đặt ra cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật chứ không phải

thứ quyền lực nảy sinh một cách "tự nhiên" trong "chủ nghĩa nhân trị" (Chính trị học

đại cương, tr.42, 2012) Bởi lẽ, muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch, được ban bố khắp

thần dân, được thần dân tôn trọng và thi hành thì cần phải có “thế” “Thế” là địa vị, thế lực, quyền uy của người trị vì đất nước, có vị trí hết sức quan trọng, không thể thiếu được "Thế" không chỉ là địa vị, quyền hành của vua mà còn là sức mạnh của dân, của đất nước, của vận nước Vì thế, nhiều người khi cai trị nước, chỉ cần có “thế” là có thể

Trang 10

trị vì thiên hạ, điều này đã được chứng minh bằng lịch sử đất nước Trung Quốc cổ đại

(Trường Đại học nội vụ Hà Nội)

2.2 Quan hệ giữa “pháp”, “thuật” và “thế”

Quan hệ giữa “thế” và “pháp”: Theo Hàn Phi, nếu cái Thế nằm trong tay người

kém cũng có thể gây loạn pháp luật và gây hại cho đất nước (Chính trị học đại cương,

tr.42, 2012) Thế là điều kiện tất yếu để tạo ra Pháp.Nhà vua phải dựa vào Thế của mình

để ban lệnh, buộc bề dưới phải nghe theo Nhờ có Thế mà pháp luật ra đời và đi vào cuộc sống Mức độ hiệu quả thi hành của pháp luật đến đâu là do Thế của nhà vua Như vậy, Thế là điều kiện để tạo nên Pháp, để cho Pháp được thi hành theo đúng như những

gì nó được ban ra Pháp duy trì củng cố Thế, Pháp hiệu quả, đúng đắn thì Thế lớn mạnh

và ngược lại Pháp mà nhà vua dùng chủ yếu ở đây là chính sách thưởng phạt nghiêm minh Thưởng phạt không chỉ tạo nên Thế của nhà vua mà đồng thời còn tạo nên Thế của nước

Quan hệ giữa “thế” và “thuật”: Thuật tạo nên, củng cố, bảo vệ cho Thế Một nhà vua khi biết sử dụng Thuật tốt thì sẽ tuyển chọn được đội ngũ có tài mà vẫn chịu phục tùng, vẫn bị khuất phục trước quyền uy của vua chúa, khi đó sẽ càng củng cố vững chắc Thế của mình Thế là điều kiện tất yếu để thực thi Thuật Thuật là công cụ vua sử dụng

để quản lý tầng lớp quan lại Vậy nên để sử dụng được Thuật thì trước hết vua phải có Thế Vậy một người dù có Thuật hay đến đâu mà không có quyền thế trong tay thì cũng

không thể thi hành những nội dung đó của Thuật (Trường Đại học nội vụ Hà Nội)

Như vậy, Hàn Phi kết hợp ba yếu tố và phát triển nó, trong đó Pháp là trọng điểm còn Thuật và Thế là điều kiện tất yếu để thực thi Pháp Ông cho rằng thưởng phạt nghiêm minh là một công cụ để thực hành pháp luật Một mặt làm cho người làm chúa dung để cai quản các bề tôi, khen thưởng người chấp hành, thực hiện điều tốt và xử phạt người

làm trái; mặt khác là để các quan lại theo nó mà phát huy tác dụng thống trị Chính trị

học đại cương, tr.43, 2012) Dưới bàn tay của Hàn Phi, Thế, Thuật, Pháp từ ba phạm trù

phi liên kết đã trở thành bộ ba yếu tố không thể tách rời, có mối liên hệ mật thiết tạo nên

tư tưởng Pháp trị đầy đủ nhất

Trang 11

2.3 Một số hạn chế của tư tưởng Pháp tri

Mặc dù lý luận này đã có tác động chỉ đạo cả một thời gian dài trong các chế độ chính trị chuyên chế về sau, nhưng nhìn chung vẫn có một số hạn chế, cụ thể như sau:

Lý luận về quyền lực nhà nước (thế) chỉ là cái đặt ra để bảo vệ người giàu có, để che

đậy bản chất bóc lột của giai cấp địa chủ mới (Chính trị học đại cương, tr.32, 2012)

Ông chỉ nhìn thấy mặt vụ lợi của con người, quá khắt khe mà không thể thấy được lý tưởng cao đẹp của những con người có tâm đức Ông quá coi trọng pháp luật, sử dụng

nó một cách quá hà khắc mà quên đi rằng bên cạnh Pháp còn có những công cụ khác để

trị nước, nói như người phương Đông là “thấu tình, đạt lý” (Chính trị học đại cương,

tr.43, 2012)

Trang 12

KẾT LUẬN

Là học thuyết chính trị – pháp lý đồng thời là học thuyết quản lý xã hội tiêu biểu trong lịch sử, học thuyết pháp trị đã trở thành ngọn cờ tư tưởng của Trung Hoa thời cổ đại và nền tảng tư tưởng chế độ phong kiến phương Đông Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến ý thức hệ, các định chế chính trị và chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc

và các nước láng giềng Học thuyết pháp trị Trung Hoa đã cung cấp nội lực cho văn hóa Trung Quốc tự cường, nó cũng chi phối mạnh văn hóa chính trị qua suốt thời trung cổ, cận đại và hiện nay

Ngày đăng: 12/12/2021, 00:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w