1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập bài giảng Chính trị học đại cương - ĐH Thái Nguyên

74 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập Bài Giảng Chính Trị Học Đại Cương
Tác giả GV. Bùi Trọng Tài, Lê Văn Cảnh
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Tập bài giảng
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 750,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHẬP MÔN CHÍNH TRỊ HỌC (5)
    • 1.1. Khái niệm chính trị (5)
      • 1.1.1. Các quan niệm trước Mác về chính trị (5)
      • 1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lên nin về Chính trị (6)
    • 1.2. Nguồn gốc và bản chất của chính trị (7)
      • 1.2.1. Nguồn gốc kinh tế của chính trị (7)
      • 1.2.2. Bản chất giai cấp của chính trị (8)
    • 1.3. Kết cấu của chính trị (9)
      • 1.3.1. Hệ tư tưởng chính trị (9)
      • 1.3.2. Thể chế chính trị (10)
      • 1.3.3. Hệ thống chính trị (11)
    • 1.4. Chính trị học là một khoa học (11)
      • 1.4.1 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của chính trị học (11)
      • 1.4.2. Phương pháp nghiên cứu của chính trị học13 CHƯƠNG 2. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ (13)
    • 2.1. Lược sử tư tưởng chính trị Phương Đông (14)
      • 2.1.1. Nho gia (14)
      • 2.1.2. Mặc gia (15)
      • 2.1.3. Pháp gia (16)
    • 2.2. Lược sử tư tưởng chính trị Phương Tây (17)
      • 2.2.1. Tư tưởng chính trị phương Tây cổ đại (17)
      • 2.2.2. Tư tưởng chính trị phương Tây thời trung cổ (21)
      • 2.2.3. Tư tưởng chính trị phương Tây cận đại (22)
    • 2.3. Lược sử tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (25)
      • 2.3.1. Tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác –Lênin (25)
      • 2.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị (28)
  • CHƯƠNG 3. QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ (32)
    • 3.1. Quan niệm chung về quyền lực và quyền lực chính trị (32)
      • 3.1.1. Quan niệm chung về quyền lực (32)
      • 3.1.2. Quyền lực chính trị (32)
    • 3.2. Quá trình hình thành và phát triển của quyền lực chính trị (33)
    • 3.3. Tổ chức và cơ chế thực thi quyền lực chính trị (36)
      • 3.3.1. Tổ chức thực thi quyền lực chính trị (36)
      • 3.3.2. Cơ chế thực thi quyền lực chính trị (36)
    • 3.4. Giành, giữ và chuyển giao quyền lực chính trị (37)
  • CHƯƠNG 4. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ (39)
    • 4.1. Khái niệm hệ thống chính trị (39)
    • 4.2. Kết cấu và chức năng của hệ thống chính trị.39 1. Kết cấu của hệ thống chính trị (39)
      • 4.2.2. Chức năng của hệ thống chính trị (41)
    • 4.3. Phân loại hệ thống chính trị (42)
      • 4.3.1. Phân loại dựa theo bản chất của chế độ xã hội (42)
      • 4.3.2. Phân loại dựa theo dấu hiệu của Đảng chính trị (42)
    • 4.4. Hệ thống chính trị ở nước ta (44)
      • 4.4.1. Kết cấu của hệ thống chính trị ở nước ta (44)
      • 4.4.2. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta (49)
  • CHƯƠNG 5. ĐẢNG CHÍNH TRỊ (51)
    • 5.1. Quan niệm chung về Đảng chính trị (51)
      • 5.1.1. Khái niệm chung về Đảng và Đảng chính trị (51)
      • 5.1.2. Những đặc điểm của Đảng chính trị (52)
    • 5.2. Đảng cầm quyền (52)
      • 5.2.1. Quan niệm về Đảng cầm quyền (52)
      • 5.2.2. Vị trí, chức năng của Đảng cầm quyền (53)
    • 5.3. Đảng Cộng và tính tất yếu ra đời của Đảng cộng sản (53)
      • 5.3.1. Đảng Cộng sản (53)
      • 5.3.2. Tính tất yếu và quy luật ra đời của Đảng Cộng sản (54)
    • 5.4. Đảng Cộng sản Việt Nam (54)
      • 5.4.1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (54)
      • 5.4.2. Vị trí của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa (56)
      • 5.4.3. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam (56)
  • CHƯƠNG 6. VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ (60)
    • 6.1. Quan niệm chung về văn hoá và văn hóa chính trị (60)
      • 6.1.1. Khái niệm văn hóa (60)
      • 6.1.2. Khái niệm văn hóa chính trị (61)
    • 6.2. Kết cấu, đặc điểm, vai trò, chức năng của văn hóa chính trị (62)
      • 6.2.1. Kết cấu của văn hoá chính trị (62)
      • 6.2.2. Đặc điểm của văn hoá chính trị (63)
      • 6.2.3. Chức năng của văn hoá chính trị (65)
  • CHƯƠNG 7. CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ VÀ THỦ LĨNH CHÍNH TRỊ (67)
    • 7.1. Con người chính trị và vị trí của nó trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị (67)
      • 7.1.1. Quan niệm chung về con người chính trị (67)
      • 7.1.2 Đội ngũ hoạt động chính trị (67)
      • 7.1.3 Quần chúng nhân dân (68)
    • 7.2. Thủ lĩnh chính trị (68)
      • 7.2.1. Khái niệm thủ lĩnh chính trị (68)
      • 7.2.2. Những phẩm chất của thủ lĩnh chính trị (70)
      • 7.2.3. Vai trò của thủ lĩnh chính trị (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)

Nội dung

Chính trị không chỉ là một tiểu hệ thống thuộc Kiến trúc thượng tầng xã hội, có tác động ảnh hưởng tới các yếu tố quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng xã hội, mà quan trọng còn là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái và các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội.

NHẬP MÔN CHÍNH TRỊ HỌC

Khái niệm chính trị

Chính trị là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự ra đời của giai cấp và Nhà nước, có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Do đó, nghiên cứu và định hình về chính trị đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả từ Đông sang Tây, từ kim cổ.

Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học

Nghiên cứu chính trị là một lĩnh vực toàn diện, bao gồm đối tượng, phương pháp, khái niệm và phạm trù riêng Nhiều học giả đã đưa ra các quan niệm và tư tưởng khác nhau về chính trị Bài viết này sẽ trình bày một số quan niệm về chính trị, trong đó có những quan điểm của các học giả trước Mác và quan niệm của chủ nghĩa Mác.

1.1.1 Các quan ni ệm trước Mác về chính trị Ở phương Tây thời kỳ cổ đại, nổi lên các triết gia, chính trị gia lỗi lạc về chính trị:

Hê-rô-đốt, được coi là "cha của chính trị học", đã nghiên cứu và phân tích sự khác biệt giữa các hình thức chính thể như quân chủ, quý tộc và dân chủ Ông khẳng định rằng thể chế chính trị tốt nhất là sự kết hợp của các hình thức này.

Platon cho rằng chính trị là "nghệ thuật cung đình" kết nối giữa người anh hùng và trí tuệ, thông qua sự thống nhất tư tưởng và tinh thần hữu ái Ông nhấn mạnh rằng nghệ thuật cai trị vượt trội hơn so với việc cai trị bằng sức mạnh, vì chỉ có nghệ thuật mới mang lại sự chính xác và hiệu quả trong quản lý xã hội.

Aristotle cho rằng chính trị là sản phẩm tự nhiên và là hình thức giao tiếp cao nhất của con người, khẳng định rằng con người là động vật chính trị Quyền lực chính trị được chia thành lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong bối cảnh phương Đông cổ đại, đặc biệt là Trung Quốc thời kỳ "bách gia chư tử", nhiều tư tưởng chính trị xuất sắc đã xuất hiện, nổi bật là các quan niệm của Khổng Tử, Hàn Phi Tử và Lão Tử.

Khổng Tử cho rằng chính trị là trách nhiệm của người quân tử, nhằm thực hiện chính đạo và chính danh Ông đã phát triển học thuyết Nho gia với các nguyên tắc Tam cương và Ngũ thường, tạo nền tảng cho các xã hội phong kiến phương Đông cả trong quá khứ và hiện tại.

Hàn Phi Tử cho rằng việc thực hiện hoạt động chính trị cần phải xây dựng và ban hành pháp luật Ông là một trong những đại diện tiêu biểu của phái Pháp gia với luận thuyết nổi tiếng về thế, thuật và pháp.

Lão Tử cho rằng nghệ thuật trị nước nằm ở quan điểm "vô vi nhi trị", tức là không can thiệp mà để mọi người tự giác thuần phục và tìm đến con đường chính đạo Đây là nền tảng quan trọng trong triết lý quản lý xã hội.

Thời kỳ đêm trường trung cổ: Chính trị được các nhà

Thần học và chủ nghĩa duy tâm như Tômat Đa-Canh cho rằng "chính trị có nguồn gốc từ quyền lực tối cao của

Thời kỳ các học thuyết và tư tưởng tư sản về chính trị:

Nổi tiếng với các thuyết "tam quyền phân lập, khế ước xã hội" Chính trị được quan niệm là công việc của những

"công dân" có tài sản

Các tư tưởng và học thuyết nêu trên ít nhiều đã đề cập được những vấn đề cơ bản của chính trị như vấn đề tổ chức

Nhà nước và các hình thức của nó, cùng với quyền lực và thủ lĩnh chính trị, là những vấn đề quan trọng trong chính trị Tuy nhiên, các học thuyết liên quan thường bị ảnh hưởng bởi lập trường, quan điểm và điều kiện lịch sử- xã hội, dẫn đến việc bộc lộ những quan điểm thô sơ, chất phác và thậm chí sai lầm về chính trị.

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lên nin v ề

Nghiên cứu nghiêm túc các quan điểm chính trị trước đây, đồng thời áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là điều cần thiết để hiểu sâu sắc các lý thuyết của các nhà kinh điển.

Mác- Lênin đã đề xuất những nhận định đúng đắn về chính trị:

Chính trị là lợi ích và quan hệ lợi ích, xuất hiện cùng với sự ra đời của giai cấp và Nhà nước Nó không chỉ là công cụ để một giai cấp duy trì vị trí thống trị trong sản xuất xã hội mà còn nhằm điều hòa và giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa giai cấp đó với các tầng lớp xã hội khác Do đó, hoạt động chính trị phản ánh thực tiễn của các giai cấp vì lợi ích của chính họ.

Chính trị cơ bản là việc tổ chức quyền lực nhà nước và sự tham gia của công dân vào công việc của Nhà nước Quyền lực chính trị là trung tâm của chính trị, từ đó hình thành bộ máy thực thi quyền lực - Nhà nước Hình thức tổ chức và mục tiêu hoạt động của Nhà nước cần được xác định rõ ràng, đồng thời công dân cũng cần có vai trò tích cực trong các hoạt động này Tất cả những yếu tố này tạo nên nội dung cốt lõi của chính trị.

Ba là, Chính tr ị l à bi ểu hiện tập trung của kinh tế Đồng th ời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so v ới kinh t ế

Tính tập trung về kinh tế của chính trị thể hiện qua hai khía cạnh chính: Thứ nhất, mọi hoạt động kinh tế đều dưới sự quản lý và điều tiết của một thể chế chính trị, nhằm phục vụ lợi ích của quốc gia và cộng đồng, đặc biệt là lợi ích giai cấp Thứ hai, các thành phần kinh tế trong một cộng đồng hay quốc gia không thể thiếu sự chi phối quan trọng của chính trị, đóng vai trò chủ yếu trong việc định hình nền kinh tế.

Chính trị đóng vai trò quan trọng hơn kinh tế, thể hiện qua việc chính trị là hoạt động tiên phong, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Sự ổn định chính trị là yếu tố then chốt để kinh tế có thể tiến bộ; nếu chính trị không ổn định, sản xuất xã hội sẽ bị đình trệ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia.

Chính trị là lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của hàng triệu người Việc giải quyết các vấn đề chính trị không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật, bao gồm việc điều tiết hoạt động của Nhà nước và quản lý đời sống xã hội Ngoài ra, chính trị còn liên quan đến quan hệ quốc tế, có ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong của quốc gia Do đó, việc xử lý các vấn đề chính trị đòi hỏi kiến thức sâu rộng cùng với sự khéo léo và uyển chuyển.

Từ đây, chúng ta có thể rút ra kết luận khái quát về chính trị:

Nguồn gốc và bản chất của chính trị

1.2.1 Ngu ồn gốc kinh tế của chính trị

Nguồn gốc kinh tế của chính trị thể hiện ở những điểm sau:

Chính trị xuất hiện trong lịch sử nhân loại gắn liền với sự ra đời của giai cấp và nhà nước, điều này có liên quan mật thiết đến tư hữu tư liệu sản xuất và của cải dư thừa trong xã hội Để bảo vệ quyền sở hữu tư liệu sản xuất, các tầng lớp thượng lưu đã tổ chức nhà nước nhằm cưỡng chế các giai tầng xã hội khác, cho thấy rằng chính trị trong lịch sử có nguồn gốc từ các hoạt động kinh tế.

Chủ nghĩa Mác-Lê nin nhấn mạnh rằng chính trị gắn liền với lợi ích và quan hệ giữa các giai cấp trong việc phân chia lợi ích Điều này cho thấy chính trị là sự phản ánh tập trung của kinh tế.

Chính trị, thuộc kiến trúc thượng tầng, bao gồm hệ tư tưởng, nhà nước và các đảng phái, xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế Do đó, cơ sở hạ tầng kinh tế đóng vai trò quyết định trong việc hình thành các quan điểm và thiết chế chính trị.

Tuy nhiên, chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tới cơ sở hạ tầng là các quan hệ sản xuất

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị là sự phản ánh tập trung của kinh tế, đồng thời chính trị đóng vai trò quan trọng hơn so với kinh tế Việc hình thành quan điểm này nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa hai lĩnh vực này trong xã hội.

Chính trị đúng về lĩnh vực kinh tế là điều kiện để giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế Viết về điều này,

Lênin nhấn mạnh rằng một lập trường chính trị đúng đắn là điều kiện cần thiết để một giai cấp có thể duy trì quyền lực và hoàn thành nhiệm vụ trong sản xuất.

1trích theo Từ điển bách khoa toàn thư tại địa chỉ

1.2.2 B ả n ch ất giai cấp của chính trị

Chính trị và giai cấp có mối quan hệ mật thiết, trong đó giai cấp chính là bản chất cốt lõi của chính trị Các nội dung cơ bản phản ánh bản chất giai cấp của chính trị bao gồm những vấn đề liên quan đến quyền lực, lợi ích và sự phân chia tài nguyên trong xã hội.

Chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội Trong bối cảnh có giai cấp, các thiết chế chính trị được hình thành nhằm xác lập quyền lực giữa các nhóm này Quan hệ chính trị thể hiện sự tranh giành, duy trì và tổ chức quyền lực Nhà nước, trong đó các giai cấp xác định rõ giai cấp thống trị và giai cấp bị thống trị, cũng như những tầng lớp tham gia vào các nhiệm vụ chính trị.

Bản chất chính trị của giai cấp thể hiện qua việc tổ chức thành Đảng phái và Nhà nước, nhằm mục đích trấn áp các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội vì lợi ích của chính mình Giai cấp thống trị sử dụng các Đảng phái như đội tiên phong, đồng thời thông qua hoạt động của Nhà nước để gián tiếp can thiệp vào tổ chức sản xuất và đời sống xã hội.

Bản chất chính trị của giai cấp gắn liền với quyền lực chính trị, mà theo Các Mác, "Quyền lực chính trị thực chất là bạo lực có tổ chức của giai cấp này, trấn áp giai cấp khác" Mỗi giai cấp có phương thức sử dụng quyền lực khác nhau: chế độ phong kiến tập trung quyền lực vào một cá nhân, chế độ tư sản áp dụng nguyên tắc Tam quyền phân lập, trong khi chế độ xã hội chủ nghĩa khẳng định quyền lực xuất phát từ nhân dân với sự phân công và phân nhiệm rõ ràng.

Bản chất giai cấp của chính trị được thể hiện qua chế độ văn hóa chính trị, bao gồm hệ tư tưởng, nền tảng pháp lý, cùng các giá trị và chuẩn mực áp dụng cho toàn xã hội.

Tóm lại, bản chất giai cấp của chính trị thể hiện rõ nét qua kết luận: giai cấp nào thì chính trị đó.

Kết cấu của chính trị

Theo lý thuyết hệ thống, chính trị được xem là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ, từ đó tạo nên kết cấu chính trị.

Kết cấu chính trị bao gồm các yếu tố cấu thành nền chính trị và mối quan hệ giữa chúng Các yếu tố này gồm hệ tư tưởng chính trị, thể chế chính trị và hệ thống chính trị Bài viết sẽ làm rõ từng yếu tố và mối liên hệ giữa chúng.

Hệ tư tưởng chính trị bao gồm các học thuyết và quan điểm của một giai cấp về việc giành và duy trì quyền lực nhà nước, xác định chế độ chính trị, tổ chức nhà nước và mối quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác.

Mỗi giai cấp và tầng lớp đều cần xây dựng một tư tưởng và học thuyết làm nền tảng cho chế độ chính trị và thực thi quyền lực Hệ tư tưởng chính trị không chỉ quyết định lập trường và bản lĩnh chính trị của giai cấp mà còn giải thích các phương thức giành và giữ quyền lực, xác lập và điều chỉnh các vấn đề xã hội, đồng thời khẳng định mục tiêu và đường hướng phát triển xã hội.

Hệ tư tưởng chính trị có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở những điểm sau:

Hệ tư tưởng chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho cuộc đấu tranh của một giai cấp, bởi nó chứa đựng các mục tiêu và phương pháp cần thiết để giai cấp đó tiến tới việc giành chính quyền.

Thứ hai, Hệ tư tưởng chính trị xác định mối quan hệ giữa giai cấp này với giai cấp khác

Hệ tư tưởng chính trị định nghĩa chế độ chính trị, xác định hình thức và bản chất của Nhà nước, cũng như các cơ chế phân chia quyền lực chính trị.

Thứ tư, Hệ tư tưởng chính trị xác định mục tiêu, nội dung và phương thức lãnh đạo, quản lý xã hội

Khẳng định tầm quan trọng của hệ tư tưởng chính trị

Lênin nhấn mạnh rằng một lập trường chính trị đúng là điều kiện tiên quyết để một giai cấp duy trì sự thống trị và hoàn thành nhiệm vụ trong sản xuất Trong bối cảnh lịch sử, nhiều hệ tư tưởng chính trị đã xuất hiện, mỗi hệ tư tưởng đều ảnh hưởng đến sự phát triển và quản lý xã hội.

Hệ tư tưởng Phong kiến: Nho gia, Pháp gia, Lý luận chính trị của Platon, Aristot…

Hệ tư tưởng Tư Bản chủ nghĩa: Người được mệnh danh là "lãnh tụ tinh thần của giai cấp tư sản là Jean Jacques

Rousseau Kế đó, học thuyết về Tam quyền phân lập của

Mongtesqkiơ, Khế ước xã hội của Rutxô…

Hệ tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa: Học thuyết Mác Lê –

Lê Nin và tư tưởng của lãnh tụ các dân tộc

Hệ tư tưởng chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và hình thành thể chế chính trị, bởi nó không chỉ là mục đích mà còn là nội dung cốt lõi của thể chế Mỗi hệ tư tưởng chính trị sẽ quyết định bản chất của thể chế tương ứng, đồng thời được coi là "hạt nhân tinh thần" và "linh hồn" của hệ thống chính trị, thể hiện sự gắn kết giữa tư tưởng và cấu trúc chính trị.

2trích theo Từ điển bách khoa toàn thư tại địa chỉ

Thể chế chính trị bao gồm các quy định, quy chế, chuẩn mực và nguyên tắc nhằm điều chỉnh các quan hệ chính trị Đồng thời, nó cũng phản ánh cấu trúc tổ chức và các bộ phận chức năng của một chủ thể chính trị hoặc hệ thống chính trị.

Như vậy, thể chế chính trị tồn tại dưới hai dạng thức:

Các quy định, quy chế và quy phạm là những yếu tố quan trọng trong hệ thống chính trị, bao gồm các tuyên ngôn về Cương Lĩnh chính trị, điều lệ của Đảng cầm quyền, cùng với các chỉ thị và Nghị quyết của Đảng Chúng cũng bao gồm các quy định pháp luật, cả thành văn lẫn bất thành văn, do giai cấp thống trị ban hành và thực thi trên toàn lãnh thổ quốc gia Những quy phạm pháp luật này là nền tảng của thể chế chính trị, được thể hiện qua các Hiến pháp và hệ thống pháp luật của quốc gia.

Các hình thức cấu trúc tổ chức đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, với các tổ chức là những thực thể thực thi quyền lực chính trị Nội dung chi tiết về các thực thể này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo liên quan đến hệ thống chính trị.

Thể chế chính trị là hình thức biểu hiện của hệ tư tưởng chính trị, là "con đẻ" của hệ tư tưởng chính trị

Hệ thống chính trị là một bộ phận cấu thành của thể chế chính trị

Trên nền tảng một chế độ chính trị, hệ thống chính trị được thành lập

Hệ thống chính trị là tổng thể các thiết chế quyền lực được xã hội công nhận, bao gồm các tổ chức chính trị như Đảng phái, Nhà nước và các tổ chức chính trị khác.

Xã hội được cấu thành từ các mối quan hệ pháp quy, liên kết chặt chẽ để đạt được mục tiêu chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Như vậy, cấu thành hệ thống chính trị bao gồm các thực thể

- Các tổ chức đại diện cho các lực lượng khác nhau trong xã hội

Mỗi thực thể trong hệ thống chính trị đều có chức năng riêng, nhưng chúng lại liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành cơ chế hoạt động nhịp nhàng Sự liên kết này giúp giai cấp thống trị đạt được mục tiêu chính trị của mình Do đó, hệ thống chính trị không chỉ là công cụ mà còn là phương tiện và phương thức tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.

Những vấn đề về Hệ thống chính trị sẽ được xem xét một cách cụ thể tại chương IV.

Chính trị học là một khoa học

1.4.1 Đối tượng v à nhi ệm vụ nghi ên c ứu của chính tr ị học Đối tượng nghiên cứu của chính trị học xoay quanh các vấn đề của đời sống chính trị nhằm làm sáng tỏ những quy luật chung nhất của đời sống chính trị, cơ chế tác động, cơ chế sử dụng cùng những phương thức, những thủ thuật chính trị để hiện thực hoá những quy luật chung đó Vấn đề trung tâm của Chính trị học là nghiên cứu quyền lực chính trị, phương thức giành quyền lực chính trị, các thiết chế và các hình thức tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, các kiểu hệ thống chính trị đã có trong lịch sử và đang tồn tại trong thời đại ngày nay

Chính trị học nghiên cứu quá trình hoạt động chính trị nhằm giành và duy trì quyền lực Nó tập trung vào việc xác định các mục tiêu chính trị ngắn hạn và dài hạn, đồng thời tìm hiểu các biện pháp, phương tiện và hình thức tổ chức hiệu quả để đạt được những mục tiêu này Ngoài ra, nghiên cứu cũng chú trọng đến sự lựa chọn và sắp xếp cán bộ trong quá trình thực hiện các chiến lược chính trị.

Chính trị học nghiên cứu các mối quan hệ lý luận chính trị của các chế độ xã hội, bao gồm lý thuyết nhà nước cổ đại của Platôn và Arixtôt, cũng như "Nho giáo" của Khổng Tử Ngoài ra, còn có chính trị học tư sản và chính trị học vô sản do Mac và Enghen khởi xướng Năm 1949, một số nước đã thành lập Hội Khoa học Chính trị Quốc tế (IPSA) theo sáng kiến của UNESCO nhằm tăng cường liên hệ quốc tế trong lĩnh vực chính trị.

Xuất phát từ các đối tượng đó, chính trị học có những nhiệm vụ sau:

Luận giải và xác định phạm vi khái niệm chính trị, đồng thời chỉ ra nguồn gốc và bản chất sâu xa của vấn đề chính trị gắn liền với lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị trong xã hội.

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng và các học thuyết chính trị không chỉ giúp chúng ta kế thừa những giá trị quý báu từ cha ông, mà còn cho phép chọn lọc và áp dụng những tinh hoa chính trị phù hợp với thời đại hiện nay.

Nghiên cứu quyền lực chính trị bao gồm quá trình hình thành và phát triển của nó, cơ chế tổ chức và thực thi quyền lực, cũng như các vấn đề liên quan đến việc giành, giữ và chuyển giao quyền lực chính trị.

Thứ tư, nghiên cứu hệ thống chính trị: Kết cấu và chức năng của một hệ thống chính trị

Thứ năm, nghiên cứu văn hoá chính trị với tư cách là một thiết chế chi phối và tác động tích cực tới hoạt động chính trị

Thứ sáu, nghiên cứu các vấn đề về Đảng chính trị và Đảng cầm quyền, công tác tư tưởng, tổ chức và xây dựng một Đảng chính trị

Nghiên cứu vai trò của con người như một động vật chính trị vào thứ bảy sẽ tập trung vào những phẩm chất cần thiết của một chính khách, đặc biệt là vai trò của họ với tư cách là những lãnh đạo chính trị.

Cuối cùng, tìm hiểu một số vấn đề chính trị quốc tế: Như các cơ quan và tổ chức quốc tế, pháp luật quốc tế

Chính trị học ở Việt Nam hiện nay tập trung vào việc nghiên cứu dân chủ hoá hệ thống chính trị và đời sống xã hội trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, với sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu này bao gồm các khía cạnh như đa dạng hoá cấu trúc xã hội - giai cấp, đấu tranh giai cấp, và lý luận về đảng cầm quyền Bên cạnh đó, nó cũng xem xét các mối quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, quản lý và bị quản lý, cũng như các phương pháp hiệu quả trong quản lý và kiểm soát xã hội Hơn nữa, việc hình thành và ảnh hưởng của văn hoá chính trị đến hoạt động chính trị và sự tích cực của các thành viên trong xã hội cũng được nghiên cứu, nhằm nâng cao kỹ năng hoạt động cho cán bộ lãnh đạo và quản lý trong các quá trình chính trị xã hội, cũng như động lực hoạt động chính trị trong quá trình đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu của chính trị học

Cũng giống như nhiều ngành khoa học, chính trị học có cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của khoa học chính trị là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Phương pháp duy vật biện chứng cho phép phân tích đời sống chính trị qua sự vận động và phát triển của các yếu tố cấu thành như quyền lực chính trị và hình thức Nhà nước Sự phát triển này không chỉ phản ánh những thay đổi nội tại mà còn thể hiện quy luật trong đời sống chính trị, dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phù hợp của quan hệ sản xuất cũng như kiến trúc thượng tầng.

Phương pháp duy vật lịch sử cho phép nghiên cứu các chế độ chính trị trong bối cảnh lịch sử, phản ánh các cuộc cách mạng xã hội của giai cấp giành và giữ chính quyền Nó cung cấp cái nhìn rõ nét về các chế độ xã hội và hình thức Nhà nước cụ thể để phân tích Chỉ có những bằng chứng lịch sử mới là lý lẽ thuyết phục nhất cho các luận thuyết chính trị đúng đắn.

Phương pháp nghiên cứu của chính trị học bao gồm một số phương pháp sau:

Phương pháp tiếp cận hệ thống cho phép nhìn nhận chính trị như một chỉnh thể, với các yếu tố và bộ phận cấu thành có mối quan hệ tương tác Phương pháp này không chỉ mang lại cái nhìn toàn diện về cấu trúc của nền chính trị mà còn là công cụ hữu ích để đánh giá sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố trong hệ thống chính trị.

Từ đó có những nhận định đúng đắn về các sự kiện phức tạp của đời sống chính trị

Phương pháp phân tích và tổng hợp giúp nghiên cứu các diễn biến trong đời sống chính trị, từ những khía cạnh riêng lẻ đến những yếu tố lặp đi lặp lại Phương pháp này cho phép hình thành các nhận định quy luật về chính trị, đồng thời chỉ ra nguyên nhân, hệ quả và bản chất của các sự kiện và hiện tượng chính trị.

CHƯƠNG 2 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VÀ

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ

Lược sử tư tưởng chính trị Phương Đông

Nhà nước phương Đông xuất hiện sớm, trước khi sự phân hóa giai cấp phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu thống nhất và quản lý thủy lợi, cần sự tham gia của chính quyền tập trung Đặc điểm xã hội chủ yếu là công hữu về ruộng đất, với tàn dư công xã kéo dài và nền kinh tế diễn ra thông qua cống nạp từ dưới lên và phân phối từ trên xuống Lịch sử chiếm hữu nô lệ tại Trung Quốc phản ánh cuộc đấu tranh khốc liệt giữa chủ nô và nô lệ, với các xung đột diễn ra sâu sắc.

2.1.1 Nho gia a) Kh ổng tử (551 – 479 TCN) Ông là nhà tư tưởng nổi bật nhất của Nho giáo Tư tưởng chính trị của Khổng Tử được thể hiện tập trung nhất trong quan niệm của ông về Nhân, Lễ, chính danh và mối quan hệ giữa chúng

Chữ "nhân" biểu thị mối quan hệ giữa con người, thể hiện lòng thương và tình yêu đối với người khác Nhân không chỉ là tình cảm mà còn là hành động giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong việc lập thân và thông đạt Câu nói nổi tiếng nhấn mạnh rằng, để trở thành người nhân, chúng ta cần muốn cho người khác đạt được điều mình mong muốn và tránh đem đến cho họ những điều không tốt mà mình không muốn nhận.

Theo Không Tử nhân là nền móng, là gốc từ đó nảy sinh ra các phẩm chất đạo đức khác

Lễ không chỉ bao gồm các chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với nhau mà còn bao hàm các hoạt động tế lễ và các hình thức tổ chức lễ.

Nhân và lễ là hai đức tính quan trọng của người quân tử, trong khi tiểu nhân hoàn toàn thiếu những phẩm chất này Ông phân chia xã hội thành hai loại: quân tử, thuộc tầng lớp quý tộc, và tiểu nhân, là những người lao động chân tay Để khôi phục lễ, cần có hình thức thể hiện phù hợp nhằm chuyển tải bản chất của nhân Ông nhấn mạnh rằng tu thân là nền tảng của người quân tử, đòi hỏi sự chính tâm, thành ý và trí tri.

- Chí danh: Ở đây cần nhìn vấn đề chính danh từ sự quy định lẫn nhau giữa phẩm chất và năng lực với vị thế xã hội b) M ạnh Tử (372 – 289 TCN)

Mạnh Tử là người kế thừa xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, phản ánh thực trạng xã hội thời bấy giờ Ông hướng tới việc cải lương và hòa giải mâu thuẫn giai cấp, nhưng lại nghiêng về lợi ích của tầng lớp địa chủ quý tộc, thay vì những quý tộc chủ nô đang lâm vào khủng hoảng.

Tư tưởng về hai hạng người trong xã hội, bao gồm quân tử và tiểu nhân, được kế thừa từ quan điểm của Khổng Tử Trong đó, quân tử được xác định là những người lao tâm để cai trị và được người khác cung phụng, trong khi tiểu nhân là những người lao lực, bị cai trị và phải phục vụ cho quân tử.

Bản tính con người vốn thiện, thể hiện qua bốn đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí Những đức tính này là trời phú, nhưng việc giữ gìn hay không phụ thuộc vào tâm của mỗi người Khi tâm hồn đầy đủ bốn đức tính này, con người sẽ hòa hợp với trời đất.

- Chính trị “vương đạo, nhân chính và được lòng dân”:

Mạnh Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của vương đạo, đồng thời chỉ trích mạnh mẽ bá đạo Ông cho rằng vương đạo là phương pháp cai trị dựa trên nhân nghĩa, trong khi bá đạo lại là sự thống trị bằng bạo lực với mục tiêu thu lợi.

Tranh lợi là nguồn gốc của mọi rối ren, cướp đoạt lẫn nhau

Vương đạo phải thi hành nhân chính, thi hành chính trị được lòng dân

Một câu nói nổi tiếng của ông là: "dân là quý, xã tắc là phụ, vua là thường." Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân phối đất đai cho người dân để họ có thể cày cấy và sống no ấm Ông tin rằng chỉ khi dân được đảm bảo cuộc sống, họ mới có thể hướng tới những hành động thiện lành Việc không cho dân có tài sản sẽ dẫn đến tội lỗi, và việc sử dụng hình phạt để quản lý dân như vậy chỉ là một cách bẫy họ.

Mặc Tử, tên thật là Mặc Định, là người sáng lập trường phái tư tưởng chính trị Mặc gia Tư tưởng chính trị của ông bao gồm nhiều vấn đề quan trọng.

Lý thuyết thương yêu lẫn nhau và cùng có lợi được ông khẳng định là ý trời, trái với thiên ý là hận thù và làm hại nhau, điều này sẽ bị trừng phạt Tư tưởng Thiên ý nhấn mạnh tự do, bình đẳng và xóa bỏ áp bức đối với nhân dân lao động Xuất phát từ thực tế đời sống của giai cấp nông dân, ông đã phản đối chế độ đẳng cấp đương thời và nêu ra nguyên tắc xã hội "kiêm ái", tức là yêu thương không phân biệt thứ bậc Kiêm ái không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân mà còn cho người khác, thể hiện sự tôn trọng đối với những người xứng đáng và trừng phạt kẻ bất nhân, không phụ thuộc vào quan hệ thân thuộc Ông cho rằng việc thiếu trung, thiếu hiếu và thiếu kính là vi phạm luân lý, nguyên nhân chính là sự thiếu thương yêu lẫn nhau.

Tôn trọng người hiền và học tập người trên là quan điểm của ông, nhấn mạnh việc tôn vinh những người xứng đáng và trừng phạt kẻ bất nhân, không phụ thuộc vào mối quan hệ thân thuộc Ông cho rằng những người làm nông, công, thương có khả năng nên được tiến cử, và những người có tài, đức cần được trọng thưởng Ông phản đối chế độ cha truyền con nối, mong muốn thay thế nó bằng tài năng và đức hạnh, qua đó hình thành những tư tưởng dân chủ.

Hàn Phi Tử là người hoàn thiện và phát triển học thuyết chính trị của phái Pháp gia, nhấn mạnh rằng con người luôn hành động theo lợi ích cá nhân và thường mưu mô để kiếm lợi Ông cho rằng không thể cai trị bằng nhân, lễ, nghĩa và kiên quyết phủ nhận lý luận chính trị thần quyền, cho rằng người cai trị mê tín sẽ dẫn đến mất nước Từ đó, Hàn Phi Tử tập trung vào ba nguyên lý chính trong chính trị: Pháp, thế, thuật.

Ông nhấn mạnh rằng pháp luật đóng vai trò quan trọng và cần được công khai, đảm bảo mọi người đều nắm rõ và không ai có quyền tự ý thay đổi Việc bảo vệ tính toàn vẹn của pháp luật là điều kiện tiên quyết và mục tiêu tối thượng của chính trị.

Lược sử tư tưởng chính trị Phương Tây

2.2.1 Tư tưởng chính trị phương Tây cổ đại a) Đặc điểm lịch sử xã hội – chính trị

Lịch sử tư tưởng chính trị của Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự tiến hóa xã hội và nhà nước chiếm hữu nô lệ Sự hình thành, phát triển và suy tàn của nhà nước này luôn liên quan đến cuộc đấu tranh giai cấp Chính trị trở thành một lĩnh vực kiến thức quan trọng, định hướng cho việc quản lý các vấn đề phức tạp của quốc gia.

Vào thế kỷ IX – VIII TCN, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp phát triển mạnh mẽ, đánh dấu sự chuyển mình từ đồ đồng sang đồ sắt Sự xuất hiện của các quan hệ tiền hàng đã thúc đẩy thương mại và tăng cường hoạt động trao đổi hàng hóa.

Lãnh thổ của Hy Lạp được mở rộng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế văn hóa với các dân tộc khác

Sự phát triển của sản xuất đã làm thay đổi cấu trúc và tổ chức xã hội, chuyển từ các hình thức tổ chức cũ như bộ tộc, bộ lạc sang tư tưởng và chế độ tư hữu về của cải.

Phân công lao động phát triển đã dẫn đến sự hình thành các tầng lớp xã hội sống bằng trí óc, từ đó nảy sinh những tư tưởng chính trị mới Sự mâu thuẫn giữa chủ nô dân chủ và giới chủ nô quý tộc đã tạo ra những xung đột giữa các tầng lớp trong xã hội.

Phái dân chủ nhấn mạnh sự cần thiết phải lật đổ chế độ độc tài của tầng lớp quý tộc, nhằm giải phóng xã hội khỏi sự áp bức của giới quý tộc cũ.

+ Giới quí tộc muốn duy trì trật tự cũ và bằng mọi cách bảo vệ đặc quyền của mình

Chế độ sở hữu cá nhân được công nhận và không thay đổi, trong khi chế độ nô lệ được xem là tự nhiên Mâu thuẫn giai cấp cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô lệ là giữa nô lệ và chủ nô, dẫn đến nhiều quan niệm mới về bình đẳng và tự do trong quá trình đấu tranh Các nhà chính trị tiêu biểu đã đóng góp vào sự phát triển của những quan niệm này.

Trong thời cổ đại, ông được gọi là “Người cha của chính trị học” nhờ vào việc phân tích và so sánh các loại hình chính phủ khác nhau Ông đã chỉ ra những ưu và khuyết điểm của từng thể chế, đặc biệt là qua việc so sánh ba loại chính phủ khác nhau.

Quân chủ trị là hình thức chính phủ mà quyền lực tập trung vào một cá nhân, dẫn đến sự thiếu tổ chức và không cho phép sự phản kháng hay ý kiến trái chiều.

Ông đã chỉ trích mạnh mẽ chế độ quân chủ vì nó làm suy yếu lương tri của những người tài giỏi, những người thường bị ảnh hưởng bởi sự nịnh nọt và ghen tị với những người cao quý.

Quý tộc trị là chế độ chính trị được hình thành khi một hội đồng quyền lực tối cao được tuyển chọn để lãnh đạo nhà nước, bao gồm những cá nhân xuất sắc nhất trong xã hội.

Hội đồng các nhà thông thái đã bàn bạc để tránh độc tài quân chủ và sự tham gia của đám đông không hiểu biết vào chính quyền Tuy nhiên, sự tranh giành quyền lực và lợi ích cá nhân đã dẫn đến mâu thuẫn, tàn sát lẫn nhau, và cuối cùng tạo điều kiện cho chế độ một ông vua tái xuất hiện.

Dân chủ trị là một thể chế được thiết lập dựa trên quyền lực của số đông nhân dân, nhằm chống lại độc tài và đảm bảo việc bầu cử công bằng cho các chức vụ công cộng Nguyên tắc quản lý xã hội là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền tự do phát biểu ý kiến Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết của dân chúng có thể dẫn đến việc bầu ra những người không đủ năng lực, dễ bị kích động bởi các nhà cầm quyền, từ đó tạo ra tình trạng bè phái và có thể quay trở lại chế độ độc tài Ông đã chỉ ra các loại hình thể chế khác nhau, làm nền tảng cho chính trị học, và tìm kiếm một thể chế chính trị tốt hơn để khắc phục những nhược điểm của các thể chế hiện tại.

Xênôphôn (427 – 355 TCN) nhấn mạnh tầm quan trọng của thủ lĩnh chính trị trong tư tưởng chính trị của ông Ông cho rằng, việc làm chủ nghệ thuật chính trị là một trình độ cao mà con người có thể đạt tới Những người hiểu biết về các vấn đề chính trị sẽ trở thành những người trung thực và tốt đẹp, trong khi những ai thiếu hiểu biết sẽ rơi vào tình trạng nô lệ.

Theo quan điểm của ông, một thủ lĩnh chính trị cần phải là người có khả năng chỉ huy, không phải là người được bầu chọn bởi quần chúng hay được chỉ định qua bỏ phiếu, cũng như không phải là người chiếm đoạt quyền lực bằng bạo lực Thủ lĩnh thực sự là những người có năng lực lãnh đạo và được người khác công nhận là có vị thế cao hơn Tóm lại, mọi người sẵn lòng nghe theo những người mà họ đánh giá là có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn hơn.

Người thủ lĩnh được người ta chấp nhận mình, giống như người cầm lái trên con tàu đang gặp nguy khốn, như người thầy thuốc đang ở đầu giường

Thủ lĩnh cần có khả năng thuyết phục và hùng biện, đồng thời hành động phải đi đôi với lời nói Sự thuyết phục của họ cần dựa trên những căn cứ thực tế như tình cảm, lợi ích và tình yêu vinh quang chung Họ cũng phải là những người chỉ huy vì lợi ích chung.

Lược sử tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

2.3.1 T ư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác –

Lênin a) Điều kiện kinh tế - xã hội

Các quan điểm chính trị của C.Mác và P Ăngghen được hình thành từ quá trình tư duy lý luận, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của các nhà chính trị vĩ đại, đồng thời gắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

- CNTB đã chiến thắng chế độ phong kiến lỗi thời, chính quyên nhà nước đã thuộc về tai giai cấp tư sản

Giai cấp tư sản không thể xóa bỏ các mâu thuẫn giai cấp mà chỉ thay thế giai cấp này bằng giai cấp khác Cả nhà nước tư bản chủ nghĩa và nhà nước phong kiến đều là những bộ máy giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị.

Sự hình thành thị trường thế giới và sự phát triển của tự do cạnh tranh đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế và sự tập trung tư bản gia tăng, thúc đẩy đấu tranh giai cấp và chính trị giữa giai cấp vô sản và tư sản Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân là những yếu tố quan trọng trong bối cảnh này.

Sự phát triển trong sản xuất và việc gia tăng bóc lột đã nâng cao ý thức giai cấp và tính tổ chức của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân ngày càng khẳng định vai trò như một lực lượng chính trị độc lập, thoát khỏi sự kiểm soát của giai cấp tư sản.

- Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp của Anh, Pháp, Đức phát triển mạnh mẽ

- Các cuộc khởi nghĩa nói trên đã chứng minh giai cấp công nhân thấy rằng sức mạnh của họ là sự đoàn kết, sự thống nhất

Sự phát triển của phong trào công nhân đã tạo ra nhu cầu cấp thiết về một lý luận và học thuyết chính trị, nhằm hướng dẫn giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh của họ Điều này bao gồm việc xác định cách thức đấu tranh, lý do cho cuộc chiến, cũng như các mục tiêu trước mắt và lâu dài Hơn nữa, những trào lưu tư tưởng chính trị và cuộc đấu tranh lý luận của các tác giả kinh điển Mác xít đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống quan điểm này.

Vaitơlinh chỉ ra rằng chế độ tư hữu là nguyên nhân chính gây ra mọi tai họa cho xã hội Ông nhấn mạnh rằng để giải quyết vấn đề này, cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu Sự thay đổi xã hội sẽ được thực hiện thông qua con đường cách mạng, với sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

- Theo C Mác, để thực hiện thành công một cuộc cách mạng không phải chỉ cần có nhiệt tình mà chủ yếu phải có sự biêt biết khoa học

Mác nhấn mạnh rằng việc thiết lập chủ nghĩa cộng sản không thể diễn ra ngay lập tức, mà cần phải trải qua một cuộc đấu tranh theo đúng các quy luật khách quan của lịch sử.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng phản ánh nguyện vọng của giai cấp vô sản chưa phát triển, thể hiện những quan điểm và mong mỏi của họ về một xã hội công bằng và bình đẳng.

Mác và Ăngghen chỉ ra rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội chưa thành thục xuất phát từ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và các quan hệ giai cấp chưa phát triển Họ nhấn mạnh rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa xã hội không tưởng là do thiếu mối liên hệ chặt chẽ với giai cấp công nhân và phong trào của họ.

+ Muốn xóa bỏ bất bình đẳng nhưng chưa biết làm thế nào

+ Không hiểu được vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân

+ Bảo vệ sự bình đẳng tuyệt đối trong phân phối, trong tiêu dùng, nêu cao tinh thần khổ hạnh

Chủ nghĩa Pơruđông phản đối cuộc bãi công của giai cấp công nhân, từ biểu tình đến đấu tranh chính trị nhằm giành quyền lực từ giai cấp tư sản Quan điểm của ông nhằm biến trật tự xã hội tư bản thành một trật tự công bằng hơn, cải cách các mối quan hệ xã hội và xóa bỏ mâu thuẫn của trật tự tư bản chủ nghĩa, hướng tới việc xây dựng một trật tự xã hội mới.

Mác đã chỉ ra rằng để đấu tranh hiệu quả chống lại tư bản, giai cấp vô sản cần được tổ chức thành một lực lượng độc lập và phải tiến hành cuộc chiến chống lại giai cấp tư sản, phê phán những quan điểm của Pơrođông về chính trị.

Lênin, với lý luận khoa học Mác-xít, đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Mười Nga, thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Những quan điểm chính trị của Mác, Ăngghen và Lênin nhấn mạnh con người là điểm xuất phát và mục đích của cuộc đấu tranh chính trị.

Mác đã khoa học hóa tư tưởng nhân văn, vạch ra tính tất yếu của lịch sử và vận dụng tính tất yếu để giải phóng nhân loại

Mác đã chỉ ra rằng vận động lịch sử là một quá trình tất yếu, bắt nguồn từ yếu tố kinh tế Ông nhấn mạnh rằng việc áp dụng tính tất yếu kinh tế trong đấu tranh xã hội sẽ dẫn đến cuộc đấu tranh chính trị nhằm chống lại sự thống trị của quan hệ tư bản.

Con người cần sáng tạo lại hiện thực để tồn tại, bởi những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống không tự nhiên có sẵn Sống đồng nghĩa với việc sáng tạo thực tiễn và sản xuất, phản ánh mối quan hệ thực tế và bản chất hoạt động sống của con người Chính trị là biểu hiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

Trong sản xuất, con người thiết lập những quan hệ sản xuất nhất định, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân Những quan hệ này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hiện tượng chính trị và tư tưởng, và tất cả đều được quy định từ cơ sở này.

QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

ĐẢNG CHÍNH TRỊ

VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ

CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ VÀ THỦ LĨNH CHÍNH TRỊ

Ngày đăng: 14/05/2021, 18:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w