Công việc mà giáo viên cần phải làm tiếp theo là đưa ra những phươngpháp tiếp cận thích hợp, bồi dưỡng hợp lí, giúp các em lấy lại sự tự tin và lòngsay mê, hứng thú đối với môn học Ngữ v
Trang 1SÁNG KIẾN CÔNG TÁCPHƯƠNG PHÁP KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12-
TẬP 1, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
1 Tên sáng kiến
- Phương pháp kĩ năng làm bài nghị luận văn học về một bài thơ, đoạn thơ
trong chương trình Ngữ văn lớp 12- tập 1, chương trình Chuẩn
2 Mô tả ý tưởng
a, Hiện trạng và nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng
- Ngày nay, việc thi đỗ tốt nghiệp và đại học luôn là niềm mong ước lớn,
là mục đích phấn đấu của học sinh lớp 12 Việc học hành, thi cử của các em đãtrở thành mối quan tâm của các gia đình và toàn xã hội Nhưng làm thế nào để
đỗ đạt theo nguyện vọng, làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục? Đó luôn
là nỗi băn khoăn, trăn trở không chỉ của học sinh mà còn của các thầy cô giáo,của các nhà trường, của toàn ngành giáo dục Muốn đạt được mục tiêu trên, cầnphát huy sức mạnh của nhiều yếu tố, song điều căn cốt nhất là học sinh cần nắmvững kiến thức và kĩ năng của từng môn học
- Ngữ văn là một môn học quan trọng, có mặt trong các kì thi tốt nghiệp
THPT và thi đại học, cao đẳng của các khối C,D Tuy nhiên, theo xu thế của thờiđại hội nhập, theo nhu cầu, thị hiếu của con người thời đại, môn học này chưathực sự được coi trọng và yêu thích Đặc biệt ở Trung tâm GDXT-HN, cùngnhiều trường phổ THPT khác trên địa bàn tỉnh, học sinh phần lớn gặp rất nhiềukhó khăn trong cảm thụ và tiếp nhận giá trị của tác phẩm văn học nói chung, tácphẩm thơ nói riêng Các em gặp nhiều lúng túng trong khi giải quyết các đề nghịluận văn học về một bài thơ, đoạn thơ, thường chỉ biết diễn xuôi nội dung củabài thơ
- Theo hướng dẫn của Bộ giáo dục đào tạo, cấu trúc đề thi tốt nghiệp, đại
học gồm 3 câu với 3 yêu cầu khác nhau:
- Câu 1(2 điểm): yêu cầu tái hiện kiến thức cơ bản
- Câu 2 (3 điểm): yêu cầu viết một bài nghị luận xã hội
Trang 2- Câu 3 (5 điểm): yêu cầu viết một bài nghị luận văn học.
Ba câu hỏi này thuộc về 2 kiểu bài cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luậnvăn học, trong đó nghị luận văn học chiếm tỉ lệ 70%
- Riêng câu 3 bao giờ cũng có hai có hai câu (câu 3a và 3b) cho học sinhlựa chọn và thông thường là một nghị luận văn học về đoạn thơ và một câu nghịluận về một tác phẩm đoạn trích văn xuôi Vì thế, nghị luận văn học về một bàithơ, đoạn thơ đóng vai trò quan trọng đối với thành công của bài viết quyết địnhđến chất lượng đỗ tốt nghiệp cũng như cao đẳng, đại học
b, Ý tưởng
Xác định rõ các nguyên nhân trên đỗi với mỗi học sinh là điều rất quantrọng Công việc mà giáo viên cần phải làm tiếp theo là đưa ra những phươngpháp tiếp cận thích hợp, bồi dưỡng hợp lí, giúp các em lấy lại sự tự tin và lòngsay mê, hứng thú đối với môn học Ngữ văn
Xuất phát từ những lý do căn bản trên đây, tôi quyết định chọn Phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận văn học về một bài thơ, đoạn thơ trong chương trình Ngữ Văn 12 tập 1- Chương trình Chuẩn làm đề tài nghiên cứu
3 Nội dung công việc
Xuất phát từ thực trạng đã nêu, trên cơ sở kế thừa, phát huy thành tựunghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi hướng tới nội dung cơ bản sau:
Đó là tập trung chủ yếu và nhấn mạnh vào việc rèn phương pháp, kĩ năng làmbài nghị luận văn học cho học sinh, giúp các em nhận biết được các kiểu, dạngbài và biết cách vận dụng kiến thức linh hoạt vào từng đề bài cụ thể, nhằm đápứng tốt nhất yêu cầu của đề
4 Triển khai thực hiện
* Về thời gian
- Tiến hành trong học kỳ I: từ tháng 10/2013 đến tháng 01/2014 Tiến
hành trong quá trình giảng dạy chính khóa
* Về cách thức thực hiện
- Giáo viên xây dựng nội dung rèn luyện kỹ năng làm bài nghị luận vănhọc về một bài thơ, đoạn thơ cho học sinh lớp 12
Trang 3- Nhóm chuyên môn thông qua ý tưởng thực hiện, thống nhất về nội dung
và cách thức thực hiện
- Phân công giáo viên cùng chuyên môn tham gia hoàn thành và đánh giá
về tính hiệu quả của sáng kiến
- Giáo viên soạn bài, lên lớp theo kế hoạch, trong đó lưu ý đến quá trìnhrèn luyện liên tục cho học sinh kỹ năng làm bài nghị luận văn học về một bàithơ, đoạn thơ
+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá học sinh;
+ Giáo viên truyền đạt những nội dung rèn luyện kỹ năng đến đối tượngngười học và hướng dẫn học sinh phương pháp, kỹ năng làm bài;
+ Xây dựng hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kỹ năng viết bài nghị luận văn học vềmột bài thơ, đoạn thơ của học sinh Có những biện pháp hướng dẫn học sinh tựbồi dưỡng, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình học
4.1 Phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận văn học về một bài thơ, đoạn thơ
Văn bản thơ trước hết là một văn bản văn học, tác phẩm văn học Cho nêncảm thụ, phân tích thơ cần tuân theo những yêu cầu, những phương pháp chungcủa bài phân tích tác phẩm văn học; cần tìm hiểu, đánh giá về giá trị nội dung tưtưởng và giá trị nghệ thuật của bài thơ trong mối liên hệ với tác giả và thời đại.Khi phân tích có thể chia tách hoặc kết hợp hai mặt nội dung và nghệ thuật Mặtkhác, thơ thuộc loại hình tác phẩm trữ tình, nên ngoài những đặc điểm chung củavăn bản văn học còn có những đặc điểm riêng của thể loại Do đó, phương pháp,
kĩ năng làm bài phân tích văn bản thơ cũng có những điểm khác biệt so với vănxuôi và kịch
Khi tìm hiểu, phân tích văn bản thơ, học sinh cần chú ý:
- Học thuộc lòng văn bản thơ, vì:
+ Có nhiều khi đề thi không trích dẫn văn bản tác phẩm mà yêu cầu họcsinh phải tự thuộc
Trang 4+ Việc thuộc lòng văn bản sẽ giúp học sinh nắm vững tác phẩm, trên cơ sở
đó có căn cứ khoa học, xác đáng và chủ động, dễ dàng hơn trong phân tích, lígiải
- Nắm vững xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của bài thơ
- Nắm bắt được cảm hứng chủ đạo của tác phẩm và sự thể hiện của cái tôitrữ tình (nhân vật trữ tình, chủ thể trữ tình) trong bài thơ
- Hiểu được vị trí, nội dung ý nghĩa của từng khổ thơ, đoạn thơ đặt trongchỉnh thể tác phẩm
- Hiểu được những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ (đối với thơ chủ yếu là
từ ngữ, hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ, các biện pháp nghệ thuật, giọng điệu, nhịpđiệu…)
- Nắm được ảnh hưởng, tác dụng, ý nghĩa của bài thơ trong sự nghiệp sángtác của tác giả và trong nền văn học nói chung
Tìm hiểu các kiểu, dạng đề thi tốt nghiệp, cao đẳng và đại học về văn bảnthơ, chúng tôi nhận thấy có thể chia thành 2 dạng bài như sau:
- Một là: cảm thụ, phân tích một bài thơ hoặc đoạn thơ thuần tuý (thôngthường, không theo định hướng)
- Hai là: cảm thụ, phân tích một bài thơ hoặc đoạn thơ theo định hướngMỗi dạng bài này lại có phương pháp, kĩ năng làm bài riêng
4.1.1 Phương pháp, kĩ năng làm bài cảm thụ, phân tích một khổ thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ thuần túy (thông thường)
Về lí thuyết, đây là dạng bài mà học hinh được tự do phát biểu cảm nhậncủa mình về tác phẩm, tự do lựa chọn các yếu tố, các bình diện của văn bản đểphân tích theo suy nghĩ chủ quan của người viết Tuy nhiên, dù lựa chọn như thếnào thì cũng cần làm nổi bật được những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm, lí giải được cái hay, cái đẹp của đoạn thơ, bài thơ Với thang điểm
5, đề thi thường yêu cầu phân tích toàn bộ tác phẩm đối với những bài thơ ngắn,còn đối với những bài thơ dài thường chỉ hỏi một đoạn thơ Về cơ bản, phươngpháp làm bài cần tuân thủ theo trình tự sau:
Trang 5* Mở bài:
Học sinh có thể mở bài theo nhiều cách khác nhau, có thể chọn cách mởbài gián tiếp Tuy nhiên kinh nghiệm làm bài cho thấy: cách mở bài nhanh, tiếtkiệm thời gian mà vẫn đảm bảo hiệu quả là mở bài trực tiếp Đây cũng là cách
mở bài thường thấy trong các đáp án của Bộ giáo dục đào tạo
- Dẫn dắt vào đề: giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm (thường nêu xuất
xứ, hoàn cảnh ra đời của bài thơ)
- Nêu vấn đề:
+ Nếu đề yêu cầu phân tích toàn bộ tác phẩm thì khái quát đặc sắc nổi bật
về nội dung và nghệ thuật của bài thơ
+ Nếu đề chỉ yêu cầu phân tích một đoạn thơ thì nêu vị trí và nội dung cơbản của đoạn trích đó
* Thân bài: có thể triển khai theo 2 cách sau:
- Cắt ngang theo bố cục tác phẩm: lần lượt phân tích từng khổ thơ, đoạnthơ; ở mỗi phần cần làm rõ những nét đắc sắc về nội dung và nghệ thuật cũngnhư cái hay, cái đẹp của văn bản thơ
- Bổ dọc: phân tích đoạn thơ, bài thơ theo 2 bình diện cơ bản là nội dung
tư tưởng và hình thức nghệ thuật
* Kết bài:
- Tổng kết, đánh giá về giá trị, đóng góp của đoạn thơ đối với chỉnh thể tácphẩm, của bài thơ đối với sự nghiệp sáng tác của tác giả và với nền văn học
- Khái quát về phong cách nghệ thuật của nhà thơ qua tác phẩm
4.1.2 Phương pháp, kĩ năng làm bài cảm thụ, phân tích một khổ thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ theo định hướng (thường được nêu lên trong đề bài)
Đây là dạng bài yêu cầu học sinh cần vận dụng kiến thức về tác phẩm mộtcách linh hoạt Người viết không chỉ phân tích thuần tuý văn bản tác phẩm màcòn biết gắn việc phân tích ấy vào định hướng của đề bài, qua phân tích mà làm
rõ vấn đề được nêu Dạng đề này thường hỏi toàn bộ văn bản bài thơ (có khi là tác phẩm dài), do đó học sinh không thể sa đà phân tích miên man, thuần tuý từ
Trang 6đầu đến cuối tác phẩm mà cần bám sát vào yêu cầu của đề; ở mỗi luận điểm,luận cứ cần lựa chọn được những câu thơ, đoạn thơ tiêu biểu nhất, phù hợp nhất
để phục vụ tốt nhất cho định hướng của đề bài Định hướng này đã được nêu rõ,
gợi dẫn trong đề bài (có thể dưới dạng một ý kiến, nhận định) hoặc có khi người
viết phải tự tìm dựa vào kiến thức và kĩ năng của mình Về cơ bản, có thể triểnkhai bài viết theo trình tự sau:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nêu luận đề của đề bài Nếu đề có ý kiến, nhận định thì cần trích dẫn ýkiến, nhận định đó
* Thân bài: có thể triển khai theo 2 cách:
- Một là: phân tích tác phẩm trước, trên cơ sở đó khái quát, bàn luận vềluận đề được nêu trong đề bài
- Hai là: dựa vào những gợi ý của đề bài và kiến thức đã học, chia tách vấn
đề cần giải quyết thành các luận điểm và lần lượt triển khai từng luận điểm đóbằng những luận cứ phù hợp Ở mỗi luận điểm, luận cứ cần lựa chọn những câuthơ, những dẫn chứng tiêu biểu, phân tích để làm sáng tỏ vấn đề
* Lưu ý: nếu vấn đề cần làm sáng tỏ trong đề bài được nêu dưới hình thức
một ý kiến, nhận định thì cần giải thích rõ nhận định; trên cơ sở đó mà tìm đượcluận đề cũng như hệ thống luận điểm, luận cứ của bài viết
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Trang 7Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
a Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Quang Dũng là nhà thơ quân đội tài hoa Thơ ông thể hiện một cái tôi hàohoa, giàu chất lãng mạn, có khả năng diễn tả tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và
tình người Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ ấy của Quang Dũng, được
viết vào cuối năm 1948 ở làng Phù Lưu Chanh sau khi ông chuyển sang đơn vịkhác và nhớ về đoàn quân Tây Tiến ngày nào
- Nêu vị trí và nội dung đoạn trích:
Đây là đoạn đầu của tác phẩm, tái hiện bức tranh hùng vĩ và thơ mộng củanúi rừng Tây Bắc Cảnh thơ không chỉ nói lên những vất vả, khó khăn trongchặng đường hành quân mà còn diễn tả được vẻ hào hùng và tinh thần lãng mạncủa người lính Tây Tiến
b Thân bài:
* 4 câu thơ đầu: là nỗi nhớ da diết, chơi vơi
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: gọi Tây Tiến, gọi rừng núi hay chính là
gọi lòng mình, gọi một vùng kỉ niệm trong tâm tưởng Từ láy chơi vơi vừa gợi
hình vừa gợi cảm, nó khiến cho nỗi nhớ như có hình dáng, trở nên bồng bềnhtrong không gian, thời gian Đó là nỗi nhớ xa vời, mênh mang mà da diết
- Nỗi nhớ đã gọi về một loạt những địa danh: sông Mã, Sài Khao, Mường Lát Tác giả sử dụng nét bút thoáng nhẹ nhưng vẫn khắc họa được sự hùng vĩ,
Trang 8hiểm trở, heo hút của núi rừng Tây Bắc Hình ảnh thơ hiện thực mà lãng mạn.
* 4 câu thơ tiếp: được xem là 4 câu tuyệt bút, kết hợp hài hòa tới mứctuyệt diệu giữa thanh điệu, nhịp điệu, đường nét, hình ảnh; dựng lên một bứctranh hùng vĩ, dữ dội về thiên nhiên Tây Bắc
- Những từ ngữ giàu chất tạo hình (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút ),
cách ngắt nhịp độc đáo và lối tiểu đối của các câu thơ đã diễn tả thật đắc địa sựtrùng điệp, hiểm trở của núi đèo Tây Bắc và những thử thách khắc nghiệt củachặng đường hành quân
- Thanh điệu và nhịp điệu của các câu thơ cũng có tác dụng gợi lên hìnhảnh Ba câu trước gập gềnh những thanh trắc gợi lên độ cao ngất trời của núi
rừng Tây Bắc và sự vất vả lên cao rồi xuống sâu của người lính Họ như đi trên
mây, trèo lên lưng mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời Súng ngửi trời là cách nói
vui, dí dỏm về cách đo chiều cao riêng của người lính Tây Tiến hồn nhiên, tinhnghịch, táo bạo Đan xen những câu thơ nhiều thanh trắc là một câu thơ toànthanh bằng thể hiện cảm xúc da diết của người lính khi họ dừng chân nơi lưngđèo, phóng tầm mắt ra xa để cảm nhận vẻ đẹp của nhà ai đó đang bồng bềnhtrong mưa rừng, sương núi
* 6 câu thơ cuối: của đoạn trích tiếp tục tô đậm vẻ hoang dại, dữ dội, chứađầy bí mật ghê gớm của rừng thiêng; tô đậm những thử thách của chặng đườnghành quân
- Giữa chặng đường hành quân, nhà thơ cảm nhận được vẻ đẹp thanh thản
trong gian khổ, hi sinh: Anh bạn dãi dầu Câu thơ có hai cách hiểu: hoặc là nói
về giấc ngủ trong giây lát để bớt đi phần mệt mỏi hoặc là giấc ngủ ngàn thu, sự
ra đi vĩnh viễn của người lính Song dù hiểu theo cách nào thì vẫn ngời lên vẻđẹp của người chiến sĩ Tây Tiến Cách nói gục lên súng mũ bỏ quên đời thể hiệnthái độ kiêu dũng, ngang tàng của người lính trẻ
- Sự dữ dội, hoang vu của núi rừng Tây Bắc không chỉ mở ra theo chiều
không gian mà còn được cảm nhận theo chiều thời gian: Chiều chiều oai linh
Người lính phải đối mặt với những hiểm nguy, với cả cái chết đang rình rập.Nhưng tiếng thác gầm thét, tiếng cọp dọa người không làm ai nản lòng; trái lại
Trang 9vượt qua thử thách người chiến sĩ vẫn tiếp tục đi tới.
- Đoạn thơ kết thúc rất đột ngột như mở ra một thế giới khác hẳn: Nhớ ôi Tây Tiến Không phải là cảnh núi rừng hoang vu, lạnh lẽo mà là cảnh sinh hoạt
ấm áp tình quân dân, cảnh bản làng với những nét bình lặng mà ấm cúng, nênthơ
c Kết bài:
Đoạn thơ đã kết tinh được hai nét nổi bật của bài Tây Tiến là cảm hứng
lãng mạn và tinh thần bi tráng Lãng mạn trong hình ảnh thiên nhiên Tây Bắchùng vĩ, dữ dội khác tường mà vẫn mang vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng Lãng mạn và
bi tráng trong hình tượng người lính giữa gian khổ, hi sinh mà vẫn mang vẻ đẹpthanh thản Thơ Quang Dũng rất giàu chất nhạc và chất họa
4.2.2 Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc
a Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc,
tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp Thông qua cuộc đối thoạitưởng tượng giữa người đi và kẻ ở trong ngày chiến thắng, bài thơ đã thể hiệnniềm nhớ thương và tình cảm đằm thắm, sắt son của nhân dân Việt Bắc với cách
Trang 10mạng, với Đảng và Bác Hồ, đồng thời cũng bộc lộ tình cảm của cán bộ khángchiến với thiên nhiên núi rừng và con người Việt Bắc.
- Nêu vị trí và nội dung đoạn trích:
Đoạn thơ là nỗi nhớ những hoa cùng người của người ra đi, là bức tranh tứ
bình đẹp đẽ về thiên nhiên và con người Việt Bắc
b Thân bài:
* 2 câu đầu: giới thiệu cảm xúc chung của đoạn thơ
Tác giả vẫn tiếp tục lối xưng hô mình - ta Lời người về như lời người con
trai ướm hỏi người con gái ở lại, ý tứ chân thành, giọng điệu tha thiết, đắm say
Từ nhớ được điệp lại hai lần trong hai câu thơ chia đều cho cả người về, kẻ ở Nhớ nhất, lưu luyến nhất là hoa cùng người Hoa là một hoán dụ cũng là một so
sánh tượng trưng cho thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp để cân xứng với con người làhoa của đất Hoa và người là hai hình ảnh đồng hiện, soi chiếu vào nhau, gắn bóvới nhau làm cho bức tranh Việt Bắc thêm sinh động, giàu sức sống
* 8 câu sau: là sự cụ thể hóa nỗi nhớ, vẽ lên một bức tranh tứ bình về cảnh bốnmùa giàu chất tạo hình, cấu trúc cân đối, hài hòa
- Bức tranh mùa đông:
+ Thiên nhiên: màu đỏ tươi của hoa chuối nổi bật trên nền màu xanh trầmtĩnh cuỷa rừng già hư làm bừng sáng cả thiên nhiên, làm cho bức tranh trở nêntươi sáng, ấm áp như tiềm ẩn một sức sống, xua tan cái hoang sơ, lạnh giá, hiuhắt của rừng
+ Con người: lên núi làm nương, phát rẫy; con người trong cuộc sống laođộng hằng ngày thật bình dị và cao đẹp Con người như tụ điểm của ánh sáng.Con người cũng đã xuất hiện ở một vị trí, tư thế đẹp nhất: đứng trên đỉnh đèocao Đó là cái tư thế đầy kiêu hãnh và vững chãi của con người làm chủ giữa núi
và nắng, giữa đèo cao mênh mông và rừng xanh bao la
- Bức tranh mùa xuân:
+ Thiên nhiên: bao trùm là màu trắng dịu dàng, thanh khiết của hoa mơ Hai
chữ trắng rừng được viết theo phép đảo ngữ Từ trắng được dùng như động từ có tác