Bài thảo luận môn lịch sử Đảng, chủ đề: vai trò lãnh đạo của đảng đối với cách mạng tháng tám năm 1945 Tình hình cục diện và Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng năm 1930 1931 Củng cố hệ thống tổ chức Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh (1932 – 1935) Chủ trương và nhận thức mới của Đảng trong lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh giai đoạn 1936 1939
Trang 1VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
NỘI DUNG
I. CHỦ TRƯƠNG LÃNH ĐẠO GIÀNH CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG TỪ 1930 -1939:
1. Tình hình cục diện và Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng năm 1930 -1931:
- Năm 1929-1933, trong tình hình thế giới đang diễn ra cuộc khủng hoảng trầm trọng, ảnh hưởng đến các nước tư bản và các nước thuộc địa, ở Đông Dương, Pháp tăng cường bóc bột
để bù đắp những tổn thất của khủng hoảng, Pháp ra sức tiến hành các cuộc khủng bố trắng, tiến đến đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Bái, dẫn đến mâu thuẫn của dân tộc Việt Nam với Pháp ngày càng gay gắt
- Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với tư cách là một tổ chức thống nhất, cương lĩnh đúng đắn
và là lực lượng nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh kịch liệt
- Tháng 10/1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần đầu tiên tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú điều hành Hội nghị phân tích tình hình trước mắt ở Đông Dương, do khủng hoảng kinh tế và đế quốc Pháp tăng cường bóc lột nên đời sống nhân dân ngày càng khổ cực, nên công nông vùng dậy đấu tranh Đảng Cộng sản đi sâu vào quần chúng nhân dân và lãnh đạo họ đấu tranh Trước tình hình cách mạng bị khủng bố trắng, Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là phải mở rộng phong trào rộng khắp Đông Dương nhằm thu hút đông đảo quần chúng nhân dân Trong đấu tranh phải chống khuynh hướng bạo động, khởi nghĩa non, tuyên truyền đường lối của Đảng thông qua việc treo cờ đỏ búa liềm, diễn thuyết, rải truyền đơn, bằng các biện pháp đó, tuyên truyền giáo dục quần chúng tin theo Đảng và đấu tranh theo đường lối của Đảng
- Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúng trên đà phát triển từ năm 1929, đã bùng lên mạnh mẽ khắp cả ba miền: Bắc, Trung, Nam Đảng đã phát động ngay được cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô-Viết Nghệ Tĩnh Cao trào đã thu hút đông đảo quần chúng công nông cả nước đấu tranh chống ách thống trị của bọn đế
Trang 2quốc, phong kiến Dù bị tổn thất nặng nề nhưng phong trào đã
để lại ý nghĩa vô cùng to lớn
- Thành quả lớn nhất của cao trào cách mạng 1930-1931,
mà cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc và phong kiến
đã không thể nào xóa nổi là ở chỗ, nó là cuộc diễn tập thứ nhất của Đảng ta và quần chúng cách mạng về khởi nghĩa giành chính quyền, khẳng định năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng
Đảng tích cực vận động, lôi kéo tầng lớp trung gian đứng về phía cách mạng: Đảng tập hợp, tổ chức các lực lượng yêu nước trong Mặt trận dân dộc thống nhất, trên cơ sở liên minh công nông, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hóa và
cô lập cao độ kẻ thù để tiến tới tiêu diệt chúng
2. Củng cố hệ thống tổ chức Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh (1932 – 1935):
a) Tình hình thế giới và chủ trương mới của Quốc tế Cộng sản:
Để bù đắp tổn thất của khủng hoảng 1929-1933, các nước như Đức, Ý, Tây Ban Nha chủ trương dùng bạo động để đàn áp đấu tranh trong nước và chuẩn bị phát động chiến tranh thế giới để chuẩn bị chia lại thị trường, chủ nghĩa phát xít xuất hiện
và tạm thời thắng thế ở một số nơi, đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế
Tháng 7 năm 1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản diễn
ra ở Mátscơva Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu đến tham dự Đại hội đã xác định kẻ thù trước mắt của công nhân và nhân dân lao động là chủ nghĩa phát xít, nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh, giành dân chủ và hòa binh, bảo vệ Liên Xô Các chính quốc và cả thuộc địa cần thành lập các mặt trận nhằm thống nhất lực lượng, hàng ngũ để chống phát xít, chống chiến tranh
b) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương:
Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc) Đại hội đánh dấu sự phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng quần chúng, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương, chuẩn bị điều kiện để Đảng bước vào thời kỳ đấu
Trang 3tranh mới Đại hội đánh dấu sự phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng quần chúng, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương, chuẩn bị điều kiện để Đảng bước vào một giai đoạn đấu tranh mới
Tuy Đại hội mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
hệ thống tổ chức của Đảng nhưng về mặt đanh giá và nhận xét tình hình cách mạng thì Đại hội còn có một số hạn chế Thứ nhất, chưa thấy hết được nguy cơ của chủ nghĩa phát xít Thứ hai, chưa thấy được tính khách quan của mối quan hệ giữa các giai cấp trong tình hình Đông Dương, do đó không có chủ trương lập mặt trận đoàn kết rộng rãi Thứ ba, Đại hội chưa tổng kết kinh nghiệm vận động, lãnh đạo của Đảng từ khi thành lập
3. Chủ trương và nhận thức mới của Đảng trong lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh giai đoạn 1936 -1939:
Tháng 7 năm 1936, Ban lãnh đạo của Đảng họp Hội nghị lần thứ hai tại Thượng Hải (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập.Hội nghị đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh trong thời kỳ mới
Mục tiêu chiến lược vẫn là chống phát xít,chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình
Về đoàn kết quốc tế, đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân
và Đảng Cộng sản Pháp
Về phương pháp tổ chức và đấu tranh: chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, nhằm làm cho Đảng mở rộng quan hệ với quần chúng, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp như hoạt động đấu tranh nghị trường, hoạt động xuất bản giấy báo công khai như vấn đề dân cày nhằm giới thiệu về chủ nghĩa Mác và chính sách mới của Đảng, tố cáo tội ác của đế quốc, nêu cao vai trò của quần chúng nhân dân
Nghị quyết của Hội nghị đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng về chính trị và tư tưởng, thể hiện bản lĩnh, tinh thần độc lập, sáng tạo của Đảng, mở ra một cao trào cách mạng mới trong
cả nước
Trang 4Tháng 10 năm 1936, Đảng đã thông qua văn kiện chung quanh vấn đề chính sách mới (nhận thức lại mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ dân tộc và dân chủ)
Đồng thời, Hội nghị lần thứ ba (tháng 3/1937) và lần thứ tư (tháng 9/1937) đã đi sâu hơn nữa về phương pháp tổ chức và hoạt động để tập hợp được đông đảo quần chúng trong mặt trận đấu tranh, phong trào dân chủ phát triển mạnh, ảnh hưởng của Đảng lan rộng, tổ chức của Đảng và các hội quần chúng phát triển, song công tác tổ chức của Đảng còn nhiều thiếu sót Cùng với việc đề ra những chủ trương mới, một phong trào đấu tranh việc gửi bản dân nguyện của nhân dân An Nam gửi cho 2 đoàn đại biểu của Pháp (đầu năm 1937),
Tháng 3 năm 1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể nhấn mạnh vấn đề lập mặt trận thống nhất dân chủ, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại, thành lập mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương
Tháng 7/1939, Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ trích (tự phê bình để nâng cao năng lực cách mạng của Đảng)
Cuộc vận động dân sinh, dân chủ của Cộng sản Đông Dương trong những năm 1936 – 1939 thực sự là một cuộc đấu tranh cách mạng sôi nổi, mang tính quần chúng rộng rãi Là cuộc chuẩn bị và xây dựng lực lượng của Đảng cho giai đoạn cách mạng 1939 – 1945, với đội ngũ cán bộ đông đảo, dày dặn kinh nghiệm trong đấu tranh, trưởng thành về tư tưởng chính trị Đây thực sự là một sự chuẩn bị cho thắng lợi cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945
II ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1939 – 1945):
1. Phong trào Giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939 đến tháng 3/1945:
- Tình hình thế giới: Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp Phát xít Đức tấn công Pháp, đến tháng 6/1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức Chính phủ Pháp thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa trong đó có Đông Dương Ở Viễn Đông, Nhật tiến sát biên giới Việt-Trung
- Tình hình trong nước: Tháng 9/1940, Nhật vượt biên giới Việt -Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật
Trang 5giữ nguyên chính quyền của Pháp, sử dụng bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh tế phục vụ cho chiến tranh và đàn áp phong trào cách mạng Các tầng lớp, giai cấp (trừ tay sai) đều bị tác động nghiêm trọng bởi chính sách bóc lột của Pháp – Nhật Nhân dân Việt Nam mâu thuẫn thực dân Pháp, phát xít Nhật gay gắt Điều này đòi hỏi Đảng phải kịp thời đề ra đường lối đấu tranh phù hợp
a) Hội nghị lần thứ sáu của Ban chấp hành Trung ương Đảng (11/1939):
- Tháng 11 năm 1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu tại Bà Điểm (Hóc-môn) do tổng bí thư Nguyễn Văn
Cừ chủ trì Hội nghị nhận định: trong điều kiện lịch sử mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách nhất của cách mạng Đông Dương Hội nghị nhấn mạnh Đảng phải kiên quyết tập trung mũi nhọn đấu tranh của quần chúng vào việc chống đế quốc
và tay sai
Chủ trương: Tạm gác lại khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ, phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng Hội nghị đưa ra chủ trương thành lập Mặt trận Phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương và chủ trương lập Chính quyền Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương thay cho Chính quyền công – nông – binh nhằm thống nhất phạm vi rộng hơn, thu hút, tập hợp các lực lượng yêu nước
Về phương pháp đấu tranh: Đảng chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật
Hội nghị đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa dân ta bước vào thời kỳ trực tiếp vận động cứu nước
b) Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11/1940):
Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra
từ ngày 6 đến 9/11/1941 tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) và nhận định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là chuẩn bị lãnh đạo cuộc
“võ trang bạo động gìanh lấy quyền tự do độc lập” Đồng thời, nhận định rằng việc Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ Kẻ thù mà nhân dân Đông Dương cần phải đánh bại chính là thực dân Pháp và phát xít Nhật
Trang 6Hội nghị xác định rõ tính chất của cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với hai tính chất phản đế và thổ địa, cùng với đó là nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, chia ruộng đất cho dân cày Trong thời gian này thì Việt Nam nổ ra 3 cuộc khởi nghĩa do nhân dân địa phương tiến hành: khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940), khởi nghĩa Đô Lương (9/1941) Các cuộc nổi dậy đều thất bại vì điều kiện khởi nghĩa chưa chín muồi, nhưng là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương
c) Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5/1941):
Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo, triệu tập tại Pắc Pó (Cao Bằng) Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt: Đánh Đế quốc Pháp, phát xít Nhật nhằm giải phóng dân tộc Nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu cần được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp-Nhật Hội nghị cũng xác định những điều kiện chủ quan, khách quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa
Trung ương Đảng khẳng định: “Chưa chủ trương làm cách mạng
tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc” Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác
khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, nêu khẩu hiệu giảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng công, tiến tới người cày có ruộng tạo động lực, khiến nông dân có niềm tin vào cách mạng
Phương pháp đấu tranh: Khởi nghĩa vũ trang, xem khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân Hình thái khởi nghĩa vũ trang: đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh – thành lập hội Cứu quốc), giúp đỡ việc lập mặt trận riêng ở Lào, Campuchia Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc (thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ…) Các tổ chức quần chúng trong mặt trận Việt Minh đều mang tên
“cứu quốc”
Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh góp phần giải quyết nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ - thực hiện nhiệm vụ đoàn kết dân tộc, xây dựng một lực lượng chính trị hùng mạnh, đông đảo Giúp cho Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng, thành công, ít đổ máu (lực lượng chính trị đông đảo hơn lực lượng vũ trang, chiếm vai trò quyết
Trang 7định).Có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của phong trào cách mạng đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Ý nghĩa của Hội nghị lần thứ 8: Hoàn chỉnh chủ trương chiến lược giải phóng dân tộc được đề ra tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11/1939 Khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đồng thời khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị 10/1930
Là sự chuẩn bị về đường lối và phương pháp cách mạng cho sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám Chủ trương là sự hoà quyện giữa trí tuệ toàn Đảng với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc với đường lối cách mạng dân tộc dân chủ VN Góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc
Là ngọn cờ dẫn đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân
III CHỦ TRƯƠNG PHÁT ĐỘNG TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG:
1. Cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa từng phần:
a) Phát động phong trào kháng Nhật cứu nước:
Vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Mâu thuẫn giữa Nhật-Pháp ngày càng gay gắt Tối 9-3-1945, Nhật Bản tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật
Ngay trong đêm 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp khẩn Hội nghị mở rộng tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì để phân tích tình hình và đề ra chủ trương chiến lựợc mới Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra
Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Bản Chỉ thị nhận định tình hình: cuộc đảo chính đã tạo ra ở Đông Dương một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thật sự chín muồi Tuy vậy, hiện đang có những cơ hội tốt làm cho những điều kiện của cuộc Tổng khởi nghĩa Đông Dương chưa chín muồi đang đi tới chín muồi nhanh chóng Ba cơ hội tốt giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chóng chín muồi là: chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách
Trang 8mạng), nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quân cướp nước),chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (Đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật
Chỉ thị cũng xác định rõ kẻ thù: sau cuộc đảo chính là phát xít Nhật Do đó phải thay đổi khẩu hiệu "Đánh đuổi Nhật, Pháp" bằng khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật", thực hiện khẩu hiệu "Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”
Chủ trương: Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ,làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa Mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh lúc này phải thay đổi cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như tuyên truyền xung phong, biểu tình tuần hành, bãi công chính trị, biểu tình phá kho thóc của Nhật
để giải quyết nạn đói, đẩy mạnh xây dựng đội tự vệ cứu quốc
Phương châm đấu tranh lúc này là phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa Hình thức đấu tranh “có thể bao gồm từ hình thức bất hơp tác, bãi công, bãi thị, phá phách cho đến những hình thức cao hơn như biểu tình, thị uy, vũ trang du kích… và sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã
đủ điều kiện”
Chỉ thị quyết định phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa, đồng thời sẵn sàng chuyển lên tổng khởi nghĩa khi có đủ điều kiện
Tư tưởng chủ động của Đảng trong chỉ thị là “phải hành động ngay, hành động cương quyết, nhanh chống, sáng tạo, củ động, táo bạo” Bản chỉ thị ngày 12/3/1945 thể hiện sự lãnh đạo kiên quyết, kịp thời của Đảng Đó là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và Việt Minh trong cao trào chống Nhật cứu nước và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
Đảng tiền phong đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sẵn sàng lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lenin vào thực tiễn Việt Nam, nắm bắt tình hình thế giới và trong nước để đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp
b) Khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận
Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, Cách mạng Việt Nam tiến lên Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôi nổi, mạnh mẽ và phong phú về nội dung cũng như hình thức: đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận
Trang 9Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra trong nhiều nơi ở vùng thượng du và trung du miền Bắc Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng đồng loạt nổi dậy, giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang Ở Quảng Ngãi , ngày 11 – 3 – 1945, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Ba Tơ Những Đảng viên, cán bộ cách mạng đang bị giam trong trại tập trung Ba Tơ, khi nghe tin Nhật đảo chính Pháp, đã phá trại giam, lấy súng địch diệt địch, chiếm được đồn Ba
Tơ, thành lập đội du kích, xây dựng căn cứ cách mạng Ba Tơ Đây là cuộc khởi nghĩa từng phần đầu tiên giành được thắng lợi Đây cũng
là đội du kích đầu tiên của miền Trung do Đảng tổ chức, lãnh đạo, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi, cũng như ở miền Trung Nam Kì
Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức Ủy
ban giải phóng Việt Nam
Ngày 4/6/1945, khu giải phóng chính thức được thành lập gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên Uỷ ban lâm thời khu giải phóng được thành lập Giữa lúc phong trào quần chúng trong cả nước đang phát triển mạnh mẽ ở cả nông thôn và thành thị thì nạn đói đã diễn ra nghiêm trọng ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ do Nhật và Pháp đã vơ vét hàng triệu tấn lúa gạo của nhân dân Hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói Xuất phát từ lợi ích sống còn trước mắt của quần chúng, Đảng
kịp thời đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”.
Khẩu hiệu đã “thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền”, “một khẩu hiệu sát đúng với tình hình cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”
Chủ trương đó của Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng cấp bách nhất của nhân dân ta, vì vậy trong một thời gian ngắn, Đảng đã vận động được hàng triệu quần chúng tiến lên trận tuyến cách mạng
Phong trào phá kho thóc, cứu đói dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những hình thức tập dợt quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa
Ngày 15/5/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang) do Trường
Trang 10Chinh chủ trì Hội nghị chủ trương thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, phát triển lực lượng bán vũ trang
và xây dựng bảy chiến khu trong cả nước
Tại các đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn-Chợ Lớn, liên tục nổ ra nhiều cuộc mít tinh, biểu tình chống Nhật, lôi cuốn hàng vạn người tham gia Nhiều khẩu hiệu đấu
tranh xuất hiện: “Bất hợp tác với giặc Nhật”, “Không đi phu, đi lính
cho Nhật”, “Không đóng thuế cho Nhật”
Trong các đô thị, nhất là những thành phố lớn, các đội danh dự Việt Minh đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác trừ gian, tạo điều kiện phát triển các tổ chức cứu quốc trong các tầng lớp nhân dân thành thị và xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc Phong trào đấu tranh ở thành thị thu hút đông đảo công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, thanh niên, học sinh…tham gia
Phong trào công nhân đấu tranh tiến lên hình thức cao hơn, như phá hoại kế hoạch địch, chế tạo vũ khí, lấy súng, đạn của địch cung cấp cho bộ đội du kích ở các chiến khu Phong trào cách mạng ở thành thị, chuẩn bị điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở thành phố thắng lợi
Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì Hội nghị họp từ ngày 15 đến 20–4–1945 tại huyện Hưng Hóa (Bắc Giang), do Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng chủ trì Tham dự Hội nghị có đại diện các chiến khu ở Việt Bắc, xứ ủy Bắc Kì
Cao trào kháng Nhật cứu nước không những động viên được đông đảo quần chúng công nhân, nông dân, tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, viên chức… mà còn lôi kéo cả tư sản dân tộc và một số địa chủ nhỏ tham gia hoạt động cách mạng Binh lính, cảnh sát của chính quyền thân Nhật dao động, một số ngả theo cách mạng Nhiều lý trưởng, chánh, phó tổng, tri phủ, tri huyện và cả một số tỉnh trưởng cũng tìm cách liên lạc với Việt Minh… Bộ máy chính quyền Nhật nhiều nơi tê liệt
Qua cao trào kháng Nhật cứu nước, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang được củng cố, phát triển vượt bậc; kẻ thù hoang mang, suy yếu
Thực chất của cao trào kháng Nhật cứu nước là một cuộc khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền ở những nơi có điều kiện