1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

38 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Kiện Ra Đời Và Tồn Tại Của Sản Xuất Hàng Hóa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại thảo luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 50,47 KB
File đính kèm ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ.rar (48 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương thảo luận học phần kinh tế chính trị học năm 2021.Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, liên hệ nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam.Hai thuộc tính của hàng hoá, liên hệ hàng hoá sản xuất ở Việt Nam.Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và lý luận hàng hoá sức lao động.

Trang 1

Câu 1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, liên hệ nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam.

ĐVĐ

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm rakhông phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra mà là để đápứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bản

GQVĐ

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chứckinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cấp tự túc làkiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động tạo ra là nhằm để thỏa mãn trực tiếpnhu cầu của người sản xuất Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sảnphẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường

Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xãhội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội", xóa bỏ nền kinh

tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tếcủa xã hội

Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá

Sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại dựa trên hai điều kiện: Có sự phân công

lao động xã hội (2) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản

xuất

- Phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động

xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau

Trang 2

Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đênchuyên môn hóa sản xuất Do phân công lao động xã hội nên mỗi người sản xuấtchỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Song cuộc sống của mỗingười lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu, đòi hòi

họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau Dovậy, phân công lao động xã hội làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu.Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ

để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại C.Mác viết: "Trong công xã Ấn Độ thời cổđại, lao động đã có sự phân công xã hội, nhưng các sản phẩm lao động không trởthành hàng hóa Chỉ có sản phẩm của nhũng lao động tư nhân độc lập và khôngphụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa" Vì vậy, muốnsản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai

- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất

Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởithủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sảnxuất là người sở hữu sản phẩm lao động

Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm chonhững người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thốngphân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng.Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm cùa người khác phải thôngqua việc mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa.Như vậy, phân công lao động xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ kinh tế giữanhững chủ thể sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan đến nhau, phải dựavào nhau, phụ thuộc lẫn nhau Còn sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các chủ thểsản xuất trong xã hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm giữa họ trở thành trao đổihàng hóa và do đó sản xuất sản phẩm giữa họ là sản xuất hàng hóa Đó chính là hai

Trang 3

điều kiện cần và đủ để sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại và phát triển, nếu thiếu mộttrong hai điều kiện ấy sản xuất hàng hóa sẽ không tồn tại.

Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội,

chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xãhội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địaphương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúcđẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao độngngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng,sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành,mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầucủa xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộnggiữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau

Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn

bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở,mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồnlực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thànhtựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản

xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh buộc ngườisản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹthuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cảitiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuốngđáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn

Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng

và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm

Trang 4

cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn,phong phú hơn, đa dạng hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt tráicủa nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩnnhững khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v

KTVĐ

Trong giai đoạn quá độ lên CNXH, ở nước ta điều kiện chung của sản xuấthàng hóa vẫn còn, vì vậy nền sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại là một yếu tố kháchquan Nước ta đi lên CNXH từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lự lượng sảnxuất chưa phát triển lại bổ qua giai đoạn phát triển TBCN nên nền sản xuất hànghóa của ta không giống với nền sản xuất hàng hóa của các nước khác trên thế giới

- Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hànghóa kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa pháttriển từ thấp đến cao

- Nền kinh tế hàng hóa ở nước ta dựa trên cơ sở nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần Cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa là nền kinh tế “mở” đang trong thời

kỳ hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới

- Phát triển nền kinh tế hàng hóa theo định hướng XHCN với vai trò chủ đạocủa kinh tế nhà nước và sự quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước Hiện nay nhà nướcđang đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước chỉtập trung một số lĩnh vực trọng yếu, đồng thời thúc kinh tế tư nhân phát triển, kinh

tế tư nhân được xác định có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế; kinh tếtri thức, kinh tế số ngày càng phát triển mạnh mẽ

Câu 2 Hai thuộc tính của hàng hoá, liên hệ hàng hoá sản xuất ở Việt Nam ĐVĐ

Trang 5

Hàng hóa là sản phẩm của lao động thỏa mãn nhu cầu nhất định của con ngườithông qua trao đổi mua bán

GQVĐ

1 Hai thuộc tính của hàng hóa

- Giá trị sử dụng: Là công dụng hay tính có ích của hàng hóa thỏa mãn nhu

cầu nào đó của con người (VD: gạo để ăn, áo để mặc, )

– Bất cứ một hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định cóthể thỏa mãn một hay một số nhu cầu nào đó của con người Những công dụng đóđược gọi là tính có ích của hàng hóa

– Giá trị sử dụng của hàng hóa là nội dung vật chất của của cải vì nó do thuộctính tự nhiên (lý, hóa học) của thực thể hàng hoá đó quyết định

– Giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn vì không phụ thuộcvào sự sự thay đổi của phương thức sản xuất

– Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng phát hiệnthêm những thuộc tính mới của sản phẩm và phương pháp để lợi dụng chúng đó đó

số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt

– Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện khi nó được tiêu dùng hay sử dụng Nếuhàng hóa chưa được tiêu dùng thì giá trị sử dụng của nó chỉ ở dạng tiềm năng Đểgiá trị sử dụng ở dạng tiềm năng trở thành giá trị sử dụng hiện thực thì hàng hóa đócần được tiêu dùng

– Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì nó không phải là giátrị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông quahoạt động trao đổi, mua bán

- Giá trị hàng hóa: Là 1 phạm trù khái niệm trừu tượng và mang tính lịch sử.

Muốn biết được giá trị hàng hóa phải thông qua giá trị trao đổi

Trang 6

– Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.

–Giá trị trao đổi trước hết là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi vớigiá trị sử dụng khác

Ví dụ: 1m vải trao đổi lấy 5 kg thóc (Điều này có nghĩa là 1m vải có giá trịtrao đổi bằng 5kg thóc)

– Vấn đề đặt ra là: tại sao hai hàng hoá, hai giá trị sử dụng lại trao đổi đượccho nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?

+ Cái chung đó không thể là giá trị sử dụng vì hai loại hàng hóa này có côngdụng hoàn toàn khác nhau (vải để mặc, thóc để ăn) Và sự khác nhau đó chỉ là điềukiện cần thiết để sự trao đổi xảy ra vì không ai đem trao đổi những vật phẩm giốnghệt nhau về giá trị sử dụng

+ Cái chung đó là: Cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có laođộng kết tinh trong đó Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổiđược với nhau Vậy, thực chất người ta trao đổi hàng hóa với nhau chẳng qua làtrao đổi lao động của mình ẩn dấu trong trong những hàng hóa đó

Chính hao phí lao động để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy là cơ sởchung cho mọi việc trao đổi và nó tạo thành giá trị hàng hóa

–Giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra, kết tinhtrong hàng hóa

Giá trị hàng hóa biểu hiện thông qua giá trị trao đổi Tức là, giá trị là nội dung,

là cơ sở của giá trị trao đổi

– Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa vìtrao đổi hàng hóa là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản xuấthàng hóa Quan hệ giữa người với người được thay thế bằng quan hệ giữa vật vớivật (hàng – hàng)

Trang 7

– Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hànghóa, có sản xuất hàng hóa thì mới có giá trị hàng hóa.

+ Giá trị là một phạm trù lịch sử

+ Hàng hóa là sự thống nhất của 2 thuộc tính này Quá trình thực hiện giá trịtách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: Giá trị thưc hiện trước rồi mới đến giátrị sử dụng

2 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa

Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính vùa thống nhất, vùa mâu thuần vớinha trong một hàng hoá

– Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này cùng tồn tại trong một hàng hóa Một

vật muốn trở thành hàng hóa thì không thể thiếu bất kỳ một thuộc tính nào tronghai thuộc tính trên Ta có thể thấy một vật có ích tức là có giá trị sử dụng nhưngkhông do lao động tạo ra tức là không có lao động xã hội kết tinh trong đó thìkhông phải là hàng hóa, ví dụ như: không khí, ánh nắng mặt trời…

– Mặt mâu thuẫn:

+ Thứ nhất, với tư cáchlà một giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đồngnhất về chất vì mỗi hàng hóa có một công dụng khác nhau Ngược lại, với tư cách

Trang 8

là giá trị thì các hàng hoá đồng nhất về chất, chúng đều là kết tinh của lao động,đều là lao động được vật hoá.

+ Thứ hai, tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa nhưngquá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị khác nhau về thời gian và không gian

Cụ thể là giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị đượcthực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng Nếu không thực hiện được giá trị hàng hoá(hàng hóa không bán được) thì không thực hiện được giá trị sử dụng có thể dẫn đếnkhủng hoảng sản xuất “thừa”

KTVĐ

Nước ta là 1 nước có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều thànhphần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và traođổi, mua bán trên thế giới Do đó, sản xuất hàng hóa ở nước ta đặc biệt là nền kinh

tế hàng hóa hiện nay phải luôn đảm bảo 2 thuộc tính giá trị sử dụng và gia trị Nềnkinh tế nước ta có độ “mở” cao, nằm trong chuỗi phân công lao động toàn cầu, việcsản xuất hàng hóa không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng nhu cầutiêu dùng quốc tế Vì vậy việc sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay cũng phảitham gia chuỗi sản xuất giá trị của toàn cầu và trịu sự tác động mạnh mẽ của nềnkinh tế thế giới

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và nội địa Việt Nam nhiềubiến động bởi dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đang thúc đẩythực hiện mục tiêu kép “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”,nhờ thực hiện tốt mục tiêu này mà nền kinh tế Việt Nam vẫn duytrì được sức sản xuất, việc xuất – nhập khẩu vẫn diễn ra mạnh mẽ

Đó là một tín hiệu tốt cho nền kinh tế Việt Nam, thể hiện tính ưuviệt của nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa định hướngXHCN

Trang 9

Câu 3 Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

ĐVĐ

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Ở đâu có trao đổi và sản xuất hàng hóa thì ở đấy có sự hoạt động của quy luật giátrị

GQVĐ

1 Về nội dung quy luật giá trị: Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi

hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xã hội cần thiết.Trong sản xuất, người sản xuất phải có mức hao phí lao động cá biệt của mìnhnhỏ hơn hoặc bằng với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợithế trong cạnh tranh

Trong trao đổi, thực hiện theo nguyên tắc ngang giá

2 Về cơ chế biểu hiện của quy luật giá trị: Quy luật giá trị hoạt động được

thể hiện ở sự biến đổi lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị dưới tác động củaquan hệ cung - cầu hàng hóa trên thị trường

Nếu sức mua đồng tiền không đổi, không kể đến điều tiết của nhà nước và độcquyền thì xảy ra 03 trường hợp sau:

Khi cung = cầu, thì giá cả = giá trị

Khi cung > cầu, thì giá cả < giá trị

Khi cung < cầu, thì giá cả > giá trị

Tuy nhiên, xét tổng thể thì tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị

Trang 10

Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa cótác động tiêu cực Đó là: điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; kích thích tiến

bộ, nâng cao năng suất lao động; phân hóa những người sản xuất hàng hóa thànhgiàu - nghèo

3 Vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giátrị, nên không khai thác được các nguồn lực, nền kinh tế kém phát triển, rơi vàokhủng hoảng

Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta phát triển nền sản xuất hàng hóa, quy luật giátrị hoạt động, tạo nên sự cạnh tranh, phát triển kinh tế… Bên cạnh đó, cũng nảysinh những mặt trái như: phân hóa giàu - nghèo, buôn bán gian lận…

Hiện nay nước ta đang hội nhập theo nền kinh tế thế giới với chính sách mở

cửa hợp tác với các nước Đảng ta đã đưa ra quan điểm "Một nền kinh tế phát triển theo mô hình nền kinh tế nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và dưới sự quản lý của nhà nước" Trong quá trình phát triển nền kinh tế, nước ta chịu

tác động của nhiều nhân tố khách quan, một trong những nhân tố khách quan chủyếu là quy luật giá trị

Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới, dưới tác động của quy luật giá trị và vaitrò quản lý kinh tế của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựunhất định trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế Từ một nền kinh tế nôngnghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sởvật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triểndài hạn và bền vững

Trang 11

Trong đó, tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá cao trong khu vực và trên thếgiới Bình quân 5 năm từ năm 2015 đến 2020, tốc độ tăng trường kinh tế Việt Namđạt 7%, đây là thời kỳ phát triển cao nhất trong nhiều năm và nằm trong 10 quốcgia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới Lạm phát được kiểm soát tốtgiúp kinh tế vĩ mô phát triển ổn định.

Về cơ cấu GDP theo ngành đã có chuyển dịch tích cực theo hướng giảmtỷtrọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vựccôngnghiệp xây dựng và dịch vụ Đến nay, đóng góp vào tăng trưởng của 02 ngànhcông nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 90% tăng trưởng toàn ngành kinh tế Tuynhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm

Bên cạnh những tác động tích cực, quy luật giá trị cũng có những tác độngtiêu cực đến nền kinh tế nước ta như phân hóa giàu - nghèo, cạnh tranh không lànhmạnh giữa các chủ thể sản xuất, buôn bán gian lận Vì vậy, cần phải nghiên cứu kỹquy luật giá trị để có những hiểu biết thêm về những biểu hiện mới của nó từ đó cónhững chính sách và hướng đi rõ ràng cụ thể để nước ta ngày càng phát triển đi lên.Trong thời gian tới, để phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tácđộng tiêu cực của quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường, chúng ta cần nắmvững nội dung, cơ chế hoạt động của quy luật giá trị trong nền kinh tế, từ đó vậndụng vào các lĩnh vực một cách đúng đắn để hạn chế những tác động tiêu cực củaquy luật giá trị đối với quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta

Vận dụng quy luật giá trị vào lĩnh vực sản xuất.

Thứ nhất, đối với việc hoạch toán kinh tế của các doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, mỗi doanh nghiệp là người sản xuấthàng hóa cạnh tranh gay gắt với nhau, để đứng vững được trên thị trường, chiếnthắng đối thủ cạnh tranh thì họ phải tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thôngqua các hình thức giá trị, giá cả, lợi nhuận, chi phí Để có lợi nhuận, các doanh

Trang 12

nghiệp phải tìm cách hạ thấp chi phí sản xuất bằng cách hợp lý hóa sản xuất, tiếtkiệm chi phí vật chất, tăng năng suất lao động Để làm được điều đó, doanhnghiệp phải nắm vững và vận dụng tốt quy luật giá trị trong hoạch toán kinh tế.Thời gian qua ta thấy có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, điều đó chothấy các doanh nghiệp đã vận dụng khá tốt quy luật giá trị vào hoạch toán kinh tế.Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh,Nhà nước ta đã quyết định cổ phần hóa phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước, vàNhà nước chỉ giữ lại một số ngành có tính chất an ninh quốc gia Các doanh nghiệprồi sẽ dần chuyển thành các công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu và mỗi cổ đông

sẽ vì lợi ích của mình để đầu tư vào sản xuất, hoạch toán kinh tế sao cho lợi nhuậncàng nhiều càng tốt Bởi vậy, việc vận dụng quy luật giá trị vào hoạch toán kinh tếcủa mỗi công ty cổ phần thời kỳ này là một việc hết sức quan trọng và cần thiết đốivới mỗi công ty cổ phần

Thứ hai, đối với việc hình thành giá cả sản xuất.

Thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tất cả giá cả các mặt hàng đều doChính phủ kiếm soát Sau năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển sang sản xuấthàng hóa thì giá cả là do thị trường quyết định Nhà nước ta cũng xác định, thời kỳnày giá cả phải vận dụng tổng hợp các quy luật, trong đó quy luật giá trị có tácđộng trực tiếp Giá cả phải do giá trị quyết định Tuy nhiên, trên tực tế giá cả hànghóa chịu tác động của nhiều yếu tố như cung - cầu, cạnh tranh, sức mua đồng tiền,giá các mặt hàng liên quan không thể giữ giá theo ý muốn chủ quan của Nhànước Qua đây cho ta thấy ngay trong Nhà nước cũng đã nhận ra được vai trò quantrọng của quy luật giá trị trong việc hình thành giá cả trong nền kinh tế thị trường

Vận dụng quy luật giá trị vào lĩnh vực lưu thông hàng hóa.

Trong lĩnh vực lưu thông, quy luật giá trị yêu cầu trao đổi phải theo nguyêntắc ngang giá, tức giá cả bằng giá trị Dưới tác động quy luật giá trị, hàng hóa trong

Trang 13

nền kinh tế sẽ được đưa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cungnhiều đến nơi cầu nhiều Thông qua sự biến động về giá cả trên thị trường, luồnghàng hóa sẽ lưu thông từ đó tạo sự cân đối về nguồn hàng giữa các vùng miền.Đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam,thông qua hệ thống giá cả quy luật giá trị có ảnh hưởng nhất định đến việc lưuthông của một hàng hóa nào đó Giá mua cao sẽ khơi thêm nguồn hàng, giá bán hạ

sẽ thúc đẩy mạnh việc tiêu thụ và ngược lại Do đó mà Nhà nước ta đã vận dụngvào việc định giá cả sát giá trị, xoay quanh giá trị để kích thích cải tiến kỹ thuật,tăng cường quản lý Không những thế Nhà nước ta còn chủ động tách giá cả khỏigiá trị với từng loại hàng hóa trong từng thời kỳ nhất định, lợi dụng sự chênh lệchgiữa giá cả và giá trị để điều tiết một phần sản xuất và lưu thông, điều chỉnh cungcầu và phân phối Giá cả được coi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạchhóa sự tiêu dùng của xã hội

Ví dụ: giá cả của sản phẩm công nghiệp nặng lại đặt thấp hơn giá trị đểkhuyến khích sự đầu tư phát triển, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất Tuy nhiên, sựđiều chỉnh này ở nước ta không phải bao giờ cũng phát huy tác dụng tích cực,nhiều khi những chính sách này lại làm cho giá cả bất ổn, tạo điều kiện cho hànghóa nước ngoài tràn vào nước ta do giá cả hợp lý hơn

Bên cạnh những tác động tích cực thì còn có những hạn chế Do chạy theo lợinhuận, do tính cạnh tranh cao trong nền kinh tế nên xuất hiện tình trạng gian lậntrong buôn bán, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng xuất hiện tràn lan trênthị trường Ở Việt Nam, theo đánh giá của cơ quan chức năng, hàng giả, hàng nhái

đang len lỏi vào thị trường một cách công khai Thực trạng hàng giả hàng nhái hiện nay là một vấn nạn xã hội chưa hề có dấu hiệu thuyên giảm, thậm chí đang ngày một gia tăng Thị trường băng đĩa CD, VCD, DVD ở Việt Nam là một

ví dụ điển hình cho hiện tượng này Theo thống kê, đối với mặt hàng mỹ phẩm,khoảng 75% thị phần mỹ phẩm bán ngoài thị trường là hàng giả và hàng nhập lậu,

Trang 14

hàng chính hãng chỉ có 25% còn lại Đặc biệt, 100% các sản phẩm nước hoa và sápvuốt tóc bày bán tại các chợ không phải hàng thật Nhiều sản phẩm mỹ phẩm củanước ngoài chưa hề được công bố cũng đã được bán tại nhiều chuỗi cửa hàng củaViệt Nam trong đó có cả những chuỗi cửa hàng danh tiếng.

Từ những hạn chế đó, Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế cần đưa

ra những chính sách thiết thực, hiệu quả để khắc phục những hạn chế, đồng thời

phát huy mặt tích cực.

Vai trò Nhà nước trong việc vận dụng quy luật giá trị vào xây dựng kinh

tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Để vận dụng tốt quy luật giá trị vào phát triển nền kinh tế thị trường ở nước takhông thể không đề cập đến vai trò của Nhà nước Mặc dù quy luật giá trị tồn tạimột cách khách quan trong nền kinh tế, nhưng nhờ nắm vững tác dụng chủ đạo củacác quy luật kinh tế, Nhà nước đã nâng cao dần trình độ công tác, kế hoạch hóakinh tế Trung ương Đảng đã nhấn mạnh: Về cơ bản chúng ta đã nắm được nộidung, tính chất và tác dụng của quy luật giá trị đối lĩnh vực sản xuất và phân phối

và đã vận dụng nó phục vụ các nhiệm vụ chính trị và kinh tế của Đảng và Nhànước trong từng thời kỳ Công tác kế hoạch hóa giá cả cũng đã có tiến bộ, phạm vingày càng mở rộng, trình độ nghiệp vụ cũng được nâng lên một bước Với vai tròquản lý vĩ mô của Nhà nước, việc vận dụng tốt quy luật giá trị vào nền kinh tế thịtrường ở nước ta nhằm: kích thích sản xuất phát triển; điều hòa lưu thông hàng tiêudùng; phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân

KTVĐ

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa Sự ra đời

và hoạt động của quy luật này gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa Việcvận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển

Trang 15

theo kịp trình độ các nền kinh tế phát triển trên thế giới Tuy nhiên, Nhà nước vớivai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế cần có những giải pháp để hạn chế những tácđộng tiêu cực của quy luật giá trị tới nền kinh tế, giúp nền kinh tế Việt Nam pháttriển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Câu 4 Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và lý luận hàng hoá sức lao động

ĐVĐ

Trong công thức T - H – T’, trong đó T’ = T + T Vậy, giá trị thặng dư (T) dođâu mà có? Các nhà kinh tế học tư sản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưuthông đẻ ra giá trị thặng dư, nhằm mục đích che giấu nguồn gốc làm giàu của cácnhà tư bản

GQVĐ

1 Mâu thuẫn công thức chung của tư bản

Trong công thức T - H – T’, trong đó T’ = T + T Vậy, giá trị thặng dư (T) dođâu mà có? Các nhà kinh tế học tư sản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưuthông đẻ ra giá trị thặng dư, nhằm mục đích che giấu nguồn gốc làm giàu của cácnhà tư bản

Thực ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giáthì cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư

Trường hợp trao đổi ngang giá:

Nếu hàng hóa được trao đổi ngang giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giátrị, từ tiền thành hàng và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trịnằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Tuy nhiên,

về mặt giá trị sử dụng thì cả hai bên trao đổi đều có lợi vì có được những hàng hóathích hợp với nhu cầu của mình

Trang 16

Trường hợp trao đổi không ngang giá:

Có thể có ba trường hợp xảy ra, đó là:

Trường hợp thứ nhất, giả định rằng có một nhà tư bản nào đó có hành vi bánhàng hóa cao hơn giá trị 10% chẳng hạn Giá trị hàng hóa của anh ta là 100 đồng sẽđược bán cao lên 110 đồng và do đó thu được 10 đồng giá trị thặng dư Nhưngtrong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trò là người bán hàng hóa,

mà lại không là người đi mua các yếu tố sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa đó

Vì vậy, đến lượt anh ta là người mua, anh ta sẽ phải mua hàng hóa cao hơn giá trị10%, vì các nhà tư bản khác bán các yếu tố sản xuất cũng muốn bán cao hơn giá trị10% để có lời Thế là 10% nhà tư bản thu được khi là người bán sẽ mất đi khi anh

ta là người mua Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không hề mang lại mộtchút giá trị thặng dư nào

Trường hợp thứ hai, giả định rằng lại có một nhà tư bản nào đó, có hành vimua hàng hóa thấp hơn giá trị 10%, để đến khi bán hàng hóa theo giá trị anh ta thuđược 10% là giá trị thặng dư Trong trường hợp này cũng vậy, cái mà anh ta thuđược do mua rẻ sẽ bị mất đi khi anh ta là người bán vì cùng phải bán thấp hơn giátrị thì các nhà tư bản khác mới mua Rút cục giá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra

từ hành vi mua rẻ

Còn có thể trường hợp thứ ba sau đây: Giả định trong xã hội tư bản lại có một

kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao giờ hắn cũng mua được rẻ và bán được đắt Nếu khimua, hắn ta đã mua rẻ được 5 đồng, và khi bán hắn cũng bán đắt được 5 đồng Rõràng 10 đồng giá trị thặng dư mà hắn thu được là do trao đổi không ngang giá Sựthực thì 5 đồng thu được do mua rẻ và 5 đồng hắn kiếm được do bán đắt cũng chỉ là

số tiền hắn lường gạt được của người khác Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì cáigiá trị thặng dư mà hắn thu được lại chính là cái mà nguời khác mất đi, do đó tổng

Trang 17

số giá trị hàng hóa trong xã hội không vì hành vi cướp đoạt, lường gạt của hắn màtăng lên Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình.

Trong thực tiễn, dù có lật đi lật lại vấn đề này đến mấy đi nữa thì kết quả cũngvẫn như thế C.Mác đã chỉ rõ: "Lưu thông hay trao đổi hàng hóa, không sáng tạo ramột giá trị nào cả"

Như vậy, lưu thông đã không đẻ ra giá trị thặng dư Vậy phải chăng giá trịthặng dư có thể đẻ ra ở ngoài lưu thông?

Trở lại ngoài lưu thông, chúng ta xem xét hai trường hợp:

- Ở ngoài lưu thông, nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa củaanh ta, thì giá trị của những hàng hóa ấy không hề tăng lên một chút nào

- Ở ngoài lưu thông, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới chohang hóa, thì phải bằng lao động của mình Chẳng hạn, người thợ giày đã tạo ramột giá trị mới bằng cách lấy da thuộc để làm ra giày Trong thực tế, đôi giày cógiá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động hơn, còn giá trị của bảnthân da thuộc vẫn y như trước, không tự tăng lên

Đến đây, C.Mác đã khẳng định: "Vậy là tư bản không thề xuất hiện từ lưuthông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện tronglưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông"

Đó chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản Để giảiquyết những mâu thuẫn này C.Mác chỉ rõ: "phải lấy những quy luật nội tại của lưuthông hàng hóa làm cơ sở

2 Lý luận hàng hoá sức lao động

- Khái niệm sức lao động: Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể

lực và trí lực ở trong than thể một con người, trong nhân cách sinh động của một

Trang 18

con người, thể lực và trí lực mà con ngời phải làm cho hoạt động để sản xuất ranhững vật có ích”.

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điêu kiện cơ bản của sản xuất.nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa Thựctiễn lịch sử cho thấy, sức lao động chính của người nô lệ không phải là hàng hóa, vìbản than người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức laođộng của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tự ý sử dụng sức lao động củamình, nhưng sức lao động của a ta cũng không phaei hàng hóa, vì anh ta có tư liệusản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình chứ chưa buộc phải bán sức lao dộng

để sống

- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa Sức lao động chỉ có thể trở

thành hành hóa trong những điều kiện nhất định sau đây:

Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao

động của bản thân mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để

tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống

Sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trởthành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiềnbiến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa vàlưu thông tiền tệ phải phát triển đến một giai đoạn nhất định

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của laođộng mới là hàng hóa Cho đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độnhất địng nào đó, các hình thái sản xuất cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến)

bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hànghóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa

Trang 19

trở nên có tính chất phổ bieến và đã báo hiệu ch sự ra đời của một thời đại mớitrong lịch sử xã hội – thời đại của chủ ghĩa tư bản.

- Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộctính là giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị hàng hoá sức lao động:

Giống như các hàng hoá khác, giá trị hàng hoá sức lao động cũng do thời gianlao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định

Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Như vậy thời gianlao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thờigian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bảnthân người công nhân và gia đình anh ta; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sứclao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để táisản xuất ra sức lao động

Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thôngthường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử

Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối với mỗi một nướcnhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cầnthiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định đượclượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái

sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái

và gia đình người công nhân

Ngày đăng: 26/11/2021, 07:18

w