Các vấn đề chung về nhà nước và pháp luật Nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của nhà nước 1.1.1. Nguồn gốc của Nhà nước Trong toàn bộ những vấn đề cơ bản về nhà nước thì nguồn gốc nhà nước là một vấn đề cốt yếu, là điểm khởi đầu để nghiên cứu những vấn đề khác. Nguồn gốc của nhà nước là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật mà nội dung của nó chứa đựng những thông tin quan trọng nhất và cơ bản nhất về quá trình ra đời của nhà nước trong lịch sử. Việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta có được nhận thức khoa học và đúng đắn về những nguyên nhân thực tế làm xuất hiện nhà nước – một hiện tượng hết sức phức tạp của xã hội loài người; thấy được những quan điểm khác về nguồn gốc nhà nước là hoàn toàn phản khoa học, không đúng với thực tiễn lịch sử, hiểu đúng và rõ các đặc trưng của nhà nước so với các tổ chức trong xã hội thị tộc và trong xã hội có giai cấp; nhận thức đúng, khoa học và đầy đủ bản chất, vai trò và số phận của nhà nước trong lịch sử xã hội loài người. Việc xem xét nguồn gốc của nhà nước ở đây chỉ trong phạm vi thời gian từ xã hội công xã thị tộc chưa có nhà nước tới xã hội chiếm hữu nô lệ có nhà nước.
Trang 1CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
I Một số v n đề cơ bản về nhà n ớc
1 Một số vấn đề cơ bản về nhà nước
1.1 Nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của nhà nước
1.1.1 Nguồn gốc của Nhà nước
Trong toàn bộ những vấn đề cơ bản về nhà nước thì nguồn gốc nhà nước là một vấn đề cốt yếu, là điểm khởi đầu để nghiên cứu những vấn đề khác Nguồn gốc của nhà nước là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật mà nội dung của nó chứa đựng những thông tin quan trọng nhất
và cơ bản nhất về quá trình ra đời của nhà nước trong lịch sử Việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta
có được nhận thức khoa học và đúng đắn về những nguyên nhân thực tế làm xuất hiện nhà nước – một hiện tượng hết sức phức tạp của xã hội loài người; thấy được những quan điểm khác về nguồn gốc nhà nước là hoàn toàn phản khoa học, không đúng với thực tiễn lịch sử, hiểu đúng và rõ các đặc trưng của nhà nước so với các tổ chức trong xã hội thị tộc và trong xã hội có giai cấp; nhận thức đúng, khoa học và đầy đủ bản chất, vai trò và số phận của nhà nước trong lịch sử xã hội loài người Việc xem xét nguồn gốc của nhà nước ở đây chỉ trong phạm vi thời gian từ xã hội công xã thị tộc chưa có nhà nước tới xã hội chiếm hữu nô lệ có nhà nước
1.1.1.1 Một số quan điểm phi Mácxít về nguồn gốc của nhà nước
Thuyết thần học: là một biến dạng của chủ nghĩa duy tâm, cho rằng: nhà nước
là sản phẩm sáng tạo của thượng đế và người đứng đầu nhà nước do thượng đế sai khiến xuống để trị vì thiên hạ Như vậy, quyền lực của nhà nước là quyền lực của thượng đế và sự phục tùng quyền lực đó là cần thiết, tất yếu đối với tất cả các thành viên trong xã hội Các giai cấp bóc lột đã triệt để lợi dụng thuyết thần học về nguồn gốc của nhà nước để phục vụ cho việc cai trị của mình trong xã hội có giai cấp
Thuyết gia trưởng: cố gắng chứng minh nhà nước là kết quả liên kết của nhiều
gia đình, một hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, còn quyền lực của nhà nước về bản chất giống như quyền lực của người gia trưởng trong gia đình Trong thực tế sự liên kết của nhiều gia đình, có chăng chỉ tạo nên một cộng đồng xã hội chứ không thể dựng lên một bộ máy nhà nước với đầy đủ các loại cơ quan nhà nước cùng thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước
Thuyết khế ước xã hội: ra đời và thịnh hành vào khoảng thời gian trước và sau
cuộc cách mạng tư sản ở Châu Âu với mục đích chống lại sự độc đoán, chuyên
Trang 222
quyền phong kiến; yêu cầu thiết lập sự bình đẳng cho giai cấp tư sản Theo thuyết này, nhà nước là sản phẩm của một khế ước do những con người sống trong trạng thái tự nhiên ký kết; một khi nhà nước ra đời trên cơ sở khế ước của xã hội thì nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ lợi ích của tất cả các thành viên của khế ước; nếu nhà nước không làm được bổn phận đó thì các thành viên khế ước sẽ tự thỏa thuận hủy bỏ khế ước để nhà nước tiêu biến và họ ký kết một khế ước mới để cho ra đời một nhà nước mới Trong lịch sử xã hội loài người chưa từng thấy ở đâu có những hợp đồng xã hội tạo ra nhà nước với tư cách là bộ máy thống trị đặc biệt của giai cấp thống trị
- Thuyết tâm lý: quan niệm sự ra đời của nhà nước bắt nguồn từ nhu cầu tâm lý
của người nguyên thủy muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, do đó nhà nước là
tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội Gắn liền với thuyết tâm lý
là quan niệm về “nhà nước siêu trái đất” cho rằng: nhà nước là lực lượng bên ngoài
du nhập vào trái đất, đó là sự thử nghiệm những thành tựu mới của một nền văn minh ngoài trái đất Có thể nói thuyết tâm lý về nguồn gốc của nhà nước là một biến dạng đặc biệt của chủ nghĩa duy tâm siêu hình đã trở thành công cụ đắc lực để phục
vụ quyền lợi cho các giai cấp bóc lột
- Thuyết bạo lực: cho rằng nhà nước là kết quả sử dụng bạo lực của thị tộc này
đối với thị tộc khác trong các cuộc chiến tranh giữa các thị tộc, thị tộc chiến thắng thiết lập bộ máy bạo lực để nô dịch thị tộc chiến bại Như vậy, theo thuyết này, chính vũ lực là nguồn gốc sinh ra nhà nước và nhà nước luôn luôn là công cụ của kẻ mạnh thống trị kẻ yếu Trong xã hội thị tộc đã từng xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa các thị tộc để tranh giành lãnh thổ và cướp bóc của cải của nhau, thế nhưng kết quả chiến thắng của những cuộc chiến tranh đó, có chăng chỉ là những vùng lãnh thổ mới với khối lượng của cải mới mà thị tộc chiến thắng chiếm hữu được từ tay thị tộc chiến bại, chứ chưa từng bao giờ có một bộ máy nhà nước cả
Tất cả các thuyết nêu trên về nguồn gốc của nhà nước đều không đúng với thực tiễn lịch sử, đều mắc một sai lầm chung là không xuất phát từ thực tiễn kinh tế
- xã hội của công xã thị tộc để lý giải nguồn gốc của nhà nước
1.1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc của nhà nước
Cơ sở kinh tế, xã hội và quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin giải thích sự ra đời của nhà nước theo quan điểm của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Theo các ông nhà nước là một phạm trù lịch sử chứ không phải là một hiện tượng vĩnh cửu Nhà nước
có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Xã hội loài người đã từng trải qua
Trang 3thời kỳ không có nhà nước Chỉ khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định thì nhà nước mới phát sinh Nhà nước sẽ tiêu vong khi không còn những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó Toàn bộ các luận giải khoa học về sự ra đời của nhà nước được trình bày chủ yếu trong tác phẩm nổi tiếng của Ph Ăngghen:
“nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người Trong xã hội này chưa có nhà nước, nhưng những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự ra đời của nhà nước lại phát sinh từ đây Do đó, phải tìm hiểu cơ sở kinh
tế - xã hội và cách thức tổ chức, quản lý xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy
Cơ sở kinh tế của chế độ cộng sản nguyên thủy: là chế độ sở hữu chung về tư
liệu sản xuất và sản phẩm lao động xã hội Do trình độ sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ, luôn bị đe dọa bởi tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình, cho nên con người phải co cụm lại thành từng bầy, từng đàn, cùng nhau sinh hoạt, kiếm sống
và tự bảo vệ mình; mọi người đều lao động và hưởng thụ thành quả lao động như nhau
Cơ sở xã hội của xã hội công xã nguyên thủy: cộng đồng người nguyên thủy
hoàn toàn tự do, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không ai có đặc quyền, đặc lợi Cách thức tổ chức của xã hội cộng sản nguyên thủy đơn giản, thị tộc là tế bào cơ sở của công xã nguyên thủy, được tổ chức theo huyết thống và tự quản thành viên của mình Các thành viên trưởng thành bầu ra hội đồng thị tộc – cơ quan quyền lực cao nhất của thị tộc Hội đồng thị tộc có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong thị tộc như lao động sản xuất, tổ chức các lễ nghi tôn giáo, chiến tranh
và hòa bình…đứng đầu thị tộc là tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự do toàn thể thị tộc bầu ra từ những người cao tuổi, có kinh nghiệm và uy tín nhất trong thị tộc Tù trưởng điều hành công việc bằng uy tín cá nhân và sự ủng hộ của tất cả thành viên thị tộc chứ không dựa vào một cơ quan cưỡng chế nào Sau này, do sự giao lưu về kinh tế - xã hội giữa các thị tộc nên hình thành bào tộc; từ bào tộc tạo nên bộ lạc rồi liên minh bộ lạc Cơ cấu của tổ chức này cũng giống như thị tộc, tức là cũng có hội đồng bào tộc, hội đồng bộ lạc, hội đồng liên minh bộ lạc và những người đứng đầu bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc Như vậy, lúc bây giờ đã có quyền lực rồi nhưng đó
là quyền lực xã hội, hòa nhập hoàn toàn với xã hội vì nó do tất cả thành viên xã hội thiết lập và được thực hiện bằng sự tự giác của mọi người Cứ mỗi khi tổ chức quản
lý mới ra đời thì quyền lực xã hội được tập trung thêm Các tổ chức quyền lực và người đứng đầu các tổ chức đó quản lý xã hội bằng những quy phạm không mang tính giai cấp, được thể hiện chủ yếu dưới hai dạng tập quán và tín điều tôn giáo
Trang 444
Nguyên nhân chủ yếu làm tan rã chế độ CSNT dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Nguyên nhân tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy cũng chính là nguyên nhân ra đời nhà nước Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động, cho nên hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi có sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa Vào cuối thời kỳ công xã nguyên thủy đã diễn ra ba lần phân công lao động mang tính xã hội Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt trở thành một ngành kinh tế độc lập; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; giao lưu hàng hóa tăng nhanh và thương nghiệp xuất hiện Cứ mỗi lần phân công lao động là một lần xã hội bị phân hóa sâu sắc Do sự phân công lao động nên các ngành kinh tế đều phát triển mạnh, làm cho sản phẩm lao động ngày càng nhiều lên
và dẫn tới sự dư thừa của cải Lúc này trong xã hội đã phát sinh hiện tượng một số
người có quyền lực (tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, tăng lữ…) công nhiên đi chiếm
đoạt tài sản của người khác, trước hết là tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động dư thừa và biến tài sản đó thành của riêng mình Điều đó có nghĩa là chế độ tư hữu về tài sản đã hình thành
Từ nguyên nhân về kinh tế dẫn đến nguyên nhân về xã hội: những người chuyên đi chiếm đoạt tài sản của người khác dần dần trở thành giai cấp bóc lột, còn những người bị mất tài sản dần dần trở thành giai cấp bị bóc lột Hai giai cấp này đối kháng với nhau và mâu thuẫn giữa họ ngày càng trở nên nghiêm trọng không thể điều hòa được Đến đây những tổ chức như thị tộc, bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc không còn khả năng kiểm soát và quản lý xã hội được nữa mà cần có tổ chức mới chỉ đại diện cho ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột, tổ chức ấy chính là nhà nước và nhà nước ra đời
Như vậy có hai nguyên nhân chính làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy tan
rã, dẫn đến sự ra đời của nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản (nguyên
nhân kinh tế) và xã hội bị phân hóa thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa
họ ngày thêm gay gắt, không thể điều hòa được (nguyên nhân xã hội)
1.1.1.3 Các hình thức xuất hiện nhà nước điển hình
Thực tế sự xuất hiện nhà nước ở các vùng và của các dân tộc khác nhau cũng
có những đặc điểm riêng do có những điều kiện kinh tế, xã hội, ngoại cảnh không giống nhau Theo Ăngghen có bốn hình thức xuất hiện nhà nước điển hình:
Thứ nhất: hình thức nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai
cấp đã phát triển ngay trong nội bộ thị tộc (Nhà nước Aten); nhà nước Aten ra đời ở
Hy Lạp do sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản và xã hội bị phân hóa thành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột và mâu thuẫn giữa hai giai cấp này trở nên nghiêm
Trang 5trọng không thể điều hòa được Nhà nước nào được hình thành chủ yếu do hai nguyên nhân kinh tế và xã hội như vậy, thì được xếp vào cùng một loại thuộc hình thức xuất hiện nhà nước thứ nhất
Thứ hai: hình thức xuất hiện nhà nước dưới dạng nhà nước Roma Nhà nước
ra đời là kết quả của cuộc cách mạng của giới bình dân chống lại giới quý tộc thị tộc
ở La Mã, nhưng sau đó giới bình dân và giới quý tộc hoàn toàn bị hoà tan vào với
nhau (Nhà nước Rôma); nhà nước nào xuất hiện kiểu như vậy, thì được xếp vào
nhóm nhà nước thuộc hình thức hình thành nhà nước thứ hai
Thứ ba: hình thức xuất hiện nhà nước dưới dạng nhà nước Giécmanh Do nhu
cầu quản lý những vùng lãnh thổ mới chiếm được từ tay đế chế La Mã sau chiến thắng của người Giecmanh đối với người La Mã Sự phân hóa giai cấp chỉ diễn ra sâu sắc khi nhà nước Giécmanh ra đời Những nhà nước nào thiếp lập do nhu cầu cai trị vùng đất mới như vậy được xếp vào nhóm nhà nước thuộc phương thức hình thành nhà nước thứ ba
Thứ tư: hình thức xuất hiện nhà nước ở phương Đông cổ đại Có thể nói hầu
hết các nhà nước phương đông cổ đại được thiết lập xuất phát từ hai nhu cầu chính
là chinh phục thiên nhiên mà chủ yếu là khai khẩn đất đai, làm thủy lợi phục vụ phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm Sự phân hóa xã hội thành các giai cấp đối kháng và mẫu thuẫn giữa các giai cấp đó chỉ trở nên rõ rệt và gay gắt khi nhà nước được hình thành
1.1.2 Bản chất nhà nước
Bản chất của nhà nước luôn luôn là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất trong tất
cả những vấn đề về nhà nước V.I Lênin đã nói rằng bản chất của nhà nước là một trong những vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị, bởi vì nó liên quan đến lợi ích chính trị của giai cấp thống trị Nội dung khái niệm bản chất nhà nước chỉ ra nhà nước của ai, do ai và vì ai Nếu hiểu được nhà nước ra đời như thế nào thì mới phân tích đúng bản chất của nó Việc tìm hiểu bản chất nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ có ý nghĩa nhận thức lý luận mà còn có giá trị thực tiễn to lớn, nhất là đối với nhà nước Việt Nam hiện nay trong việc hoạch định các chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và ý nguyện của nhân dân, làm cho nhà nước của chúng ta luôn luôn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Theo quan điểm triết học, bản chất của sự vật và hiện tượng là tất cả những
mặt, những khuynh hướng cơ bản quy định sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng Vì vậy, xác định bản chất nhà nước là xác định tất cả những phương diện cơ
Trang 666
bản quy định sự tồn tại, phát triển của nhà nước Trên cơ sở giải thích về sự ra đời của nhà nước một cách đúng đắn và khoa học, các nhà tư tưởng của Chủ nghĩa Mác
– Lênin đã chỉ ra bản chất nhà nước là một thể thống nhất mang tính giai cấp và
thực hiện chức năng xã hội Tuy nhiên, cách thức thể hiện bản chất giai cấp và xã
hội là khác nhau ở mỗi nhà nước, đồng thời cũng không hoàn toàn giống nhau trong từng thời kỳ phát triển của xã hội
1.1.2.1 Tính giai cấp của nhà nước
Nhà nước nào cũng mang tính giai cấp, vì nó ra đời, tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp; là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và luôn luôn do một giai cấp
hoặc (liên minh giai cấp) nắm giữ Tính giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ: nhà
nước là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác; là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị giai cấp Trong xã hội có giai cấp thì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được biểu hiện ở ba mặt: thống trị về kinh tế, thống trị về chính trị, thống trị về tư tưởng Giai cấp thống trị phải sử dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, Tòa án, nhà tù… để trấn áp lực lượng đối địch, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phục tùng ý chí của mình Trước khi nắm được nhà nước thì giai cấp thống trị đã là giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế, nắm giữ
toàn bộ những tư liệu sản xuất (hoặc những tư liệu sản xuất chủ yếu) trong xã hội
Bằng nhà nước, pháp luật giai cấp thống trị thực hiện quyền lực kinh tế và truyền
bá, bảo vệ tư tưởng của mình
Từ sự phân tích tính giai cấp của nhà nước ở trên cho thấy: mỗi nhà nước là một bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp này đối với giai cấp khác Nhà nước chủ nô là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô đối với nô lệ và những lao động khác Nhà nước phong kiến là bộ máy bạo lực công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ đối với nông dân và những người lao động khác Nhà nước tư sản là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và những lao động khác Nhà nước XHCN là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với các lực lượng thù địch của CNXH Toàn bộ hoạt động của nhà nước đều thể hiện tính giai cấp, nhưng hoạt động trấn áp bằng bạo lực các giai cấp và các lực lượng xã hội đối lập phản ánh tính giai cấp sâu đậm nhất và rõ rệt nhất
1.1.2.2 Tính xã hội của nhà nước
Ở phương diện xã hội, nhà nước là một tổ chức của xã hội, được sinh ra từ xã hội để duy trì, quản lí xã hội khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định
Xã hội muốn tồn tại ổn định, có trật tự và phát triển thì đòi hỏi phải có sự tổ chức và
Trang 7quản lí chặt chẽ, nếu không xã hội sẽ hỗn loạn Bởi xã hội nào cũng luôn có hàng loạt các vấn đề mang tính chất chung của toàn xã hội, mà không phải của riêng một
cá nhân hay lực lượng nào như sản xuất, thiên tại, địch họa, trật tự an toàn xã hội…
Để giải quyết vấn đề đó, xã hội cần có một tổ chức thay mặt xã hội, nhân danh xã hội để tổ chức, tập hợp, quản lí xã hội Tổ chức ấy phải mang quyền lực chung (quyền lực công) của toàn xã hội Những công việc này trước đây do thị tộc, bộ lạc đảm nhiệm, khi nhà nước xuất hiện, nó phải thay mặt cho xã hội, đứng ra tổ chức dân cư giải quyết các vấn đề đó vì sự ổn định, sống còn của cả xã hội chứ không riêng của một giai cấp, cá nhân nào Nhà nước tạo điều kiện cho các lĩnh vực hoạt động của xã hội được tiến hành bình thường, có hiệu quả, giúp xã hội phát triển vì lợi ích chung của cả cộng đồng, đưa lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi thành viên và cả cộng đồng Do vậy, trong xã hội có giai cấp, nếu nhà nước này bị lật đổ thì phải có nhà nước khác thay thể để tổ chức quản lí xã hội, giữ cho xã hội ổn định
và phát triển
Mặt khác, trong xã hội có giai cấp thì các giai cấp dù là thống trị hay bị trị thì cũng là bộ phận thống nhất tạo nên xã hội Vì vậy, nhà nước vừa bảo về quyền lợi cho giai cấp thống trị, vừa bảo vệ lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp khác, tất nhiên chỉ trong giới hạn mà lợi ích của giai cấp thống trị cho phép Theo Ăngghen: những hoạt động về mặt xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện những hoạt động về mặt xã hội của nó Như vậy, những hoạt động về mặt xã hội của nhà nước không mang tính chất thuần túy xã hội như của tổ chức thị tộc, bộ lạc, mà nó vẫn biểu hiện ở mức độ này hay mức độ khác lợi ích của giai cấp thống trị, bởi suy cho cùng nó cũng bị chi phối bởi
ý chí của giai cấp thống trị
Mặc dù được sinh ra, tồn tại trong lòng xã hội nhưng nhà nước có vị trí đặc
biệt trong lòng xã hội, nó tựa hồ như “đứng trên xã hội”, đại diện cho cả xã hội Do
vậy, tính xã hội của nhà nước là một vấn đề khách quan Ngày nay, tính xã hội của nhà nước không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà nó được mở rộng ra đối với toàn nhân loại, các nhà nước liên kết với nhau nhiều hơn trong việc giải quyết các vấn đề chung của toàn nhân loại như vấn đề môi trường, giáo dục, y tế, thiên tai…
Như vậy, nhà nước là tổ chức quyền lực công, tổ chức nhân danh xã hội thực hiện việc quản lí xã hội, nhà nước không thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng khác trong xã hội
Trang 888
Từ việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của nhà nước cho chúng ta thấy tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó nhà nước còn thể hiện tính xã hội Dù trong xã hội nào nhà nước cũng một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, nhưng mặt khác nhà nước cũng phải chú ý đến những lợi ích chung của toàn xã hội
Từ những vấn đề nêu trên chúng ta đi đến định nghĩa nhà nước: nhà nước là tổ
chức quyền lực công cộng đặc biệt có đủ bộ máy chuyên để cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, phục vụ lợi ích và thực hiện mục đích vừa của giai cấp thống trị, vừa của cả xã hội 1
1.1.3 Đặc trưng của nhà nước
Nhà nước là tổ chức quyền lực mới, khác hẳn với tổ chức tự quản thị tộc – bộ lạc trước đây, cũng như các tổ chức xã hội khác, sự khác biệt đó thể hiện ở một số đặc điểm cơ bản sau:
Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt: Quyền lực nhà nước2
khác
về bản chất so với quyền lực trong tổ chức thị tộc nguyên thuỷ Quyền lực trong công xã nguyên thủy hoà nhập với xã hội, thể hiện ý chí, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng sự tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng đó; quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị thuộc về một thiểu số giai cấp thống trị, để thực hiện và duy trì quyền lực, nhà nước có đội ngũ công chức chuyên làm nhiệm vụ quản lý trong các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì, củng cố địa vị của giai cấp thống trị Bộ máy nhà nước thực hiện chuyên chính để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
Nhà nước có lãnh thổ và thực hiện quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ: Lãnh thổ và dân cư là những yếu tố cấu thành quốc gia, quyền lực của nhà
nước được thực hiện trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia Nhà nước thực hiện sự quản lý dân cư theo lãnh thổ - theo các đơn vị hành chính, không phụ thuộc chính kiến, huyết thống, giới tính, nghề nghiệp… Việc phân chia này đảm bảo cho sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội từ trung ương đến địa phương
Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt giữa nhà nước với tổ chức thị tộc trong chế
độ cộng sản nguyên thuỷ, cũng như để phân biệt giữa nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp Vì trong khi nhà nước phân chia lãnh thổ theo các đơn vị hành chính thì tổ chức thị tộc được hình thành và tồn tại trên cơ sở huyết thống,
1 PGS.TS Nguyễn Minh Đoan – Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật
2 Quyền lực nhà nước được hiểu là: khả năng sử dụng sức mạnh vũ lực thể hiện bằng lực lượng quân đội, cảnh sát hay lực lượng vũ trang của nhà nước
Trang 9trong số các tổ chức xã hội, không tổ chức nào có lãnh thổ riêng của mình, việc quản lý các thành viên được thực hiện theo những tiêu chí như: nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính…
Nhà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia: các tổ chức khác không
có đặc trưng này, chủ quyền quốc gia là khái niệm mang tính chính trị - pháp lý, thể hiện quyền tự quyết của nhà nước Với tư cách là tổ chức đại diện cho toàn xã hội, nhà nước có quyền quyết định và thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của mình, không lệ thuộc vào ý chí bên ngoài, không chịu sự áp đặt của nhà nước khác Chỉ có nhà nước mới có quyền nhân danh cả quốc gia và toàn dân tộc trong quan hệ đối ngoại Trong thời đại hiện nay nhà nước là chủ thể của công pháp quốc tế
Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý xã hội bằng pháp luật: trong xã hội thị tộc trước đây chưa có pháp luật vì
chưa có nhà nước Các thị tộc, bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc quản lý cư dân của mình bằng hệ thống quy phạm xã hội không mang tính giai cấp là tập quán và tín điều tôn giáo Sau khi được hình thành, nhà nước ban hành pháp luật để quản lý xã
hội trong điều kiện mới có chế độ tư hữu về tài sản, các giai cấp đối kháng và đấu
tranh giai cấp) Như vậy, pháp luật gắn liền với nhà nước, ra đời cùng với nhà
nước, nhà nước nào pháp luật ấy; nhà nước không thể thực hiện được quyền lực của mình nếu không có pháp luật và pháp luật cũng chỉ tồn tại, phát triển được trong điều kiện có nhà nước Trong xã hội có giai cấp chỉ có nhà nước mới có quyền và có điều kiện ban hành pháp luật, bởi vì nhà nước là tổ chức quyền lực của giai cấp thống trị, có bộ máy cưỡng chế đặc biệt, đại diện chính thức cho toàn xã hội, có nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Các tổ chức xã hội khác không có quyền ban hành pháp luật, trừ khi được cơ quan có thẩm quyền ủy quyền ban hành Sau khi ban hành pháp luật, nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng mọi khả năng, điều kiện của mình về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, tổ chức xã hội… đặc biệt nhà nước sử dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… để đảm bảo thực thi pháp luật được nghiêm chỉnh, thống nhất
và xử lý kịp thời những cá nhân, tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật Chỉ có nhà nước mới có các cơ quan cưỡng chế đó và tính cưỡng chế nhà nước trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của pháp luật
Nhà nước quy định thuế và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước phải tiêu
dùng một lượng của cải nhất định, nhưng bản thân hoạt động nhà nước lại không tạo
ra của cải vật chất để đảm bảo cho hoạt động của mình Do vậy, nhà nước phải huy
Trang 10động sự đóng góp tài chính từ xã hội để đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của mình Có nhiều hình thức huy động của cải vật chất của xã hội nhưng trong đó việc định ra và thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc là hình thức huy động có tính
ổn định, thường xuyên và lâu dài hơn cả Thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng của nhà nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và phân phối lại thu nhập, thực hiện phúc lợi xã hội Thuế là khoản thu bắt buộc mà mọi người dân phải nghiêm chỉnh chấp hành, chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra thuế và thu các loại thuế
Những đặc điểm nói trên là sự khác nhau giữa nhà nước với tổ chức thị tộc nguyên thuỷ, giữa nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội Đồng thời cũng phản ánh rõ nét sức mạnh, vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp
1.2 Kiểu và hình thức nhà nước
1.2.1 Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản đặc thù, thể hiện bản chất và những điều kiện tồn tại, phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Cơ sở để xác định kiểu nhà nước là các yếu tố kinh tế - xã hội tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của nhân loại đã chia quá trình đó thành 5 hình thái kinh tế
- xã hội3, trong đó hình thái kinh tế - xã hội công xã nguyên thủy chưa có nhà nước, còn lại thì tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước chủ nô
Là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, nhà nước chủ nô hình thành dựa trên phương thức sản xuất4 chiếm hữu nô lệ Nhà nước chủ nô là công cụ của giai cấp chủ nô dùng để áp bức, bóc lột những người nô lệ Trong nhà nước này người thân phận nô lệ như một tài sản, một công cụ lao động biết nói Tiêu chuẩn đánh giá sự giàu có của chủ nô là việc sở hữu nhiều hay ít nô lệ Trong nhà nước này, do quyền lực của giai cấp chủ nô quá mạnh nên sự đấu tranh của những người nô lệ chỉ nhằm mục đích thoát khỏi sự áp bức cá nhân, chứ chưa hẳn là cuộc đấu tranh giai cấp
Kiểu nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến là công cụ bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp địa chủ phong kiến và để đàn áp lại giai cấp nông dân Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất
Trang 11mà chủ yếu là sở hữu về ruộng đất Người nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải phụ thuộc vào địa chủ phong kiến
Người nông dân bị bóc lột bằng hình thức nộp tô thuế Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc của người nông dân vào địa chủ không như người nô lệ phụ thuộc vào chủ nô Địa vị của người nông dân trong xã hội phong kiến có những ưu thế hơn so với địa
vị người nô lệ, họ cũng sở hữu về nhà cửa, công cụ lao động, sức kéo… (mặc dù chỉ
với số lượng ít) Điều này thể hiện nhà nước phong kiến đã có những tiến bộ hơn
nhà nước chủ nô
Kiểu nhà nước tư sản
Giai cấp tư sản là giai cấp đã hình thành trong lòng xã hội phong kiến, họ liên kết với nông dân nổi dậy tiến hành cuộc cách mạng tư sản thắng lợi và lập ra nhà nước tư sản Trong giai đoạn đầu nhà nước tư sản có vai trò tích cực trong việc giải phóng xã hội khỏi trật tự độc tài chuyên chế của nhà nước phong kiến đưa đến bước phát triển nhảy vọt của xã hội loài người Giai cấp vô sản thoạt đầu được giải phóng nhưng do không có tư liệu sản xuất nên phải làm thuê cho giai cấp tư sản nên lại bị bóc lột…
Nhà nước tư sản đã thể hiện nhiều mặt tích cực như: chủ trương xây dựng thể chế dân chủ tư sản, con người được hưởng các quyền cơ bản mà nhà nước phong kiến không có Nhưng xuất phát từ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất nên nhà nước tư sản cũng là công cụ của giai cấp thống trị đối với các giai cấp và tầng lớp khác Hiện nay nhà nước tư sản cũng có những điều chỉnh thích nghi như: quan tâm nhiều đến chính sách xã hội, phúc lợi xã hội Các phương thức quản lý của nhà nước tư sản cũng có nhiều thay đổi, hình thức bóc lộc ngày càng tinh vi, vì vậy bản chất của nhà nước tư sản cũng khó nhận diện hơn
Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời sau khi diễn ra cuộc cách mạng vô sản hoặc
cách mạng dân tộc, dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước xã hội chủ nghĩa tồn tại, phát triển qua nhiều giai đoạn với chức năng, nhiệm vụ khác nhau Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân cùng toàn thể nhân dân lao động nhằm mục đích chủ yếu là cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ áp bức, bóc lột, xóa bỏ giai cấp, thực hiện công bằng xã hội Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất khác hẳn với các kiểu nhà nước bóc lột trước đó
Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế - xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng Các kiểu nhà nước chủ nô,
Trang 12phong kiến, tư sản tuy có những đặc điểm riêng về bản chất, nhiệm vụ, chức năng nhưng đều là kiểu nhà nước bóc lột, được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu tư liệu sản xuất Còn kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước tiến bộ, cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người
Phạm trù kiểu nhà nước không những chỉ ra những điểm đặc thù của các nhà nước mà còn cho thấy xu hướng phát triển của chúng Cũng như sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là quy luật tất yếu khách quan Cách mạng xã hội là cách thức để thực hiện việc thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước mới Kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước, trên cơ sở kế thừa nhất định yếu tố của kiểu nhà nước cũ
Những kết luận rút ra từ việc phân kiểu nhà nước là:
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác tiến bộ hơn trong lịch
sử là tất yếu Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự
phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội Nguyên nhân sâu xa của sự thay thế này là do sự phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội, dẫn đến quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất mới được thiết lập, cơ sở hạ tầng thay đổi dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng và tương ứng là một kiểu nhà nước mới ra đời thay thế cho kiểu nhà nước cũ đã bị diệt vong
Kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước bởi vì nó
được xây dựng trên một cơ sở kinh tế tiến bộ hơn, cơ sở xã hội của nhà nước rộng rãi hơn, xung đột giai cấp trong xã hội đó cũng đỡ gay gắt hơn Điều này thể hiện ở chỗ các chức năng xã hội của nhà nước ngày càng được mở rộng, địa vị con người trong xã hội ngày càng được cũng cố tốt hơn, tiến bộ hơn
Có những nhà nước có thể bỏ qua những giai đoạn phát triển, những nhà nước
ra đời sau hoặc phát triển muộn có thể bỏ qua những giai đoạn phát triển Chẳng hạn, từ xã hội nguyên thủy hình thành luôn nhà nước phong kiến bỏ qua giai đoạn chiếm hữu nô lệ hay giai đoạn phong kiến bỏ qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội… mà không diễn ra tuần tự qua bốn kiểu trên Tuy nhiên, việc
bỏ qua những giai đoạn phát triển luôn phải có những điều kiện nhất định
1.2.2 Hình thức nhà nước
Nếu kiểu nhà nước là khái niệm để phân biệt các nhà nước khác nhau về mặt bản chất, chỉ rõ quyền lực nhà nước thuộc về ai và phục vụ lợi ích cho giai cấp nào,
Trang 13thì hình thức nhà nước là khái niệm nói lên cách thức tổ chức quyền lực nhà nước hay là phương thức chuyển ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí của nhà nước
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước
Hình thức nhà nước do bản chất của nhà nước quy định, hình thức nhà nước gồm 2 hình thức chủ yếu: hình thức chính thể và hình thức cấu trúc Ngoài ra, chế
độ chính trị cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hình thức nhà nước
1.2.2.1 Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức và trình tự thành lập các cơ quan có quyền lực cao nhất của nhà nước cùng với mối quan hệ giữa các cơ quan đó
Hình thức chính thể có 2 dạng là: chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà
♦ Chính thể quân chủ: là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của
Nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần vào tay người đứng đầu nhà nước
(nguyên thủ quốc gia) là nhà vua (hoàng đế, quốc trưởng) - vị trí được hình thành theo nguyên tắc truyền ngôi (thế tập) Chính thể quân chủ được chia thành quân chủ
tuyệt đối và quân chủ hạn chế
- Quân chủ tuyệt đối: là hình thức chính thể quân chủ trong đó nhà vua có
quyền lực vô hạn (quyền lực tuyệt đối) Dạng chính thể này chủ yếu tồn tại trong
kiểu nhà nước phong kiến Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn còn 4 quốc gia là Vatican, Arập- xê – út, Brunay và Oman có hình thức chính thể này Trong các nhà nước này đã có một số cải cách dân chủ, nhưng mọi mặt của đất nước vẫn phụ thuộc vào một người, Quốc vương hoặc Giáo hoàng nắm trong tay quyền lực tối cao của nhà nước Trong bộ máy nhà nước bên cạnh nhà vua còn có cơ quan có chức năng
cơ quan lập pháp (hội đồng lập pháp) nhưng chỉ là cơ quan tư vấn chứ không phải
là cơ quan quyền lực đối trọng với nhà vua
- Quân chủ hạn chế: là chính thể quân chủ mà nhà vua chỉ nắm giữ một phần
quyền lực nhà nước hoặc không có thực quyền, chỉ là hình ảnh đại diện cho quốc gia Trong các nhà nước này, quyền lực của nhà vua bị hạn chế bởi Hiến pháp, vì
thế hình thức chính thể quân chủ hạn chế còn được gọi là chính thể quân chủ lập
hiến (bên cạnh nhà vua còn có Hiến pháp) Dạng chính thể này tồn tại cả ở kiểu nhà
nước phong kiến và kiểu nhà nước tư sản Ở hình thức chính thể này bên cạnh nguyên thủ quốc gia là nhà vua được hình thành bằng con đường truyền ngôi thì còn
các cơ quan nhà nước quan trọng khác là nghị viện (Quốc hội), Chính phủ, toà án do
nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra và làm việc theo nhiệm kỳ Dựa vào đặc
Trang 14điểm nhà vua có nắm giữ một phần quyền lực hay không mà loại chính thể này lại
phân chia thành 2 biến dạng là quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị
+ Quân chủ nhị nguyên là hình thức chính thể trong đó giữa nhà vua và nghị
viện có sự phân chia đều quyền lực nhà nước, nghị viện nắm giữ quyền lập pháp và nhà vua nắm giữ quyền hành pháp, quyền tư pháp được giao cho toà án thực hiện Chính thể này tồn tại ở các nước như Monaco, Maroc, Butan, Côoet, Baranh, Quata…
+ Quân chủ đại nghị là hình thức chính thể trong đó nhà vua không nắm giữ
quyền lực nhà nước, mà chỉ là tượng trưng, đại diện cho quốc gia Còn nghị viện nắm giữ quyền lập pháp, sau khi được nhân dân bầu ra, nghị viện lập ra Chính phủ
và Chính phủ được giao nắm quyền hành pháp, quyền tư pháp thuộc về toà án Chính thể quân chủ đại nghị đang tồn tại ở nhiều nhà nước tư sản hiện đại như Anh, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Đan Mạch… do những nguyên nhân lịch sử nhất định
♦ Chính thể cộng hoà: là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của
nhà nước thuộc về các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra
và làm việc trong một thời hạn nhất định Chính thể cộng hòa có 2 hình thức chủ
yếu là cộng hoà quý tộc và cộng hoà dân chủ
- Cộng hoà quý tộc: là hình thức chính thể trong đó cơ quan đại diện là do giới
quý tộc bầu ra Chính thể này chỉ tồn tại ở nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến
- Cộng hoà dân chủ: là hình thức chính thể, trong đó cơ quan đại diện là do
dân bầu ra Chính thể này tồn tại ở tất cả 4 kiểu nhà nước đã tồn tại trong lịch sử, ngày nay đây là hình thức nhà nước phổ biến nhất ở các nước tư sản Chính thể
cộng hoà trong các nhà nước tư sản có các biến dạng: Cộng hoà tổng thống, Cộng
hoà đại nghị và Cộng hoà lưỡng tính
+ Cộng hoà tổng thống: Trong chính thể này, nguyên thủ quốc gia (tổng thống) có vị trí và vai trò rất quan trọng Tổng thống do nhân dân trực tiếp (hoặc gián tiếp thông qua đại cử tri) bầu ra Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là
người đứng đầu Chính phủ Chính phủ không phải do nghị viện thành lập, các thành viên Chính phủ do tổng thống bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước tổng thống Ở các nước theo chính thể cộng hoà tổng thống sự phân định giữa quyền lập pháp và hành pháp rất rõ ràng: tổng thống có toàn quyền trong lĩnh vực hành pháp, nghị viện có quyền lập pháp, nghị viện không có quyền lật đổ Chính phủ, tổng thống không có quyền giải tán nghị viện trước thời hạn Hợp chủng quốc Hoa kỳ và một số nước
Trang 15châu Mỹ la tinh là những quốc gia tổ chức nhà nước theo chính thể cộng hoà tổng thống
+ Cộng hoà đại nghị: Trong chính thể này, nghị viện là một thiết chế quyền
lực trung tâm, nghị viện có vị trí, vai trò rất lớn trong cơ chế thực thi quyền lực nhà
nước Ở đây nguyên thủ quốc gia (tổng thống) do nghị viện bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nghị viện, nghị viện có thể bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ Vì vậy, nghị viện có khả năng thực tế kiểm tra các hoạt động của Chính phủ, còn tổng thống không trực tiếp tham gia giải quyết các công việc của đất nước Hiện nay cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Áo, Cộng hoà Italia… là những nước tổ chức theo chính thể cộng hoà đại nghị
+ Chính thể cộng hoà lưỡng tính: là sự kết hợp của 2 hình thức chính thể cộng
hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị, nó vừa mang tính chất của cộng hoà đại nghị, vừa mang tính chất của cộng hoà tổng thống Chính thể cộng hoà lưỡng tính có những đặc điểm cơ bản như: Nghị viện do nhân dân bầu ra nắm quyền lập pháp,
tổng thống (nguyên thủ quốc gia) cũng do nhân dân bầu ra, có quyền hạn rất lớn, có
quyền hành pháp, có quyền hoạch định chính sách quốc gia, có quyền giải tán nghị viện, quyền thành lập Chính phủ Chính phủ gồm có thủ tướng và các bộ trưởng, những người này do tổng thống bổ nhiệm nhưng thủ tướng Chính phủ không thể là
ai khác ngoài thủ lĩnh của liên minh cầm quyền Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ nhưng thực ra Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổng thống Chính phủ vừa chịu trách nhiệm trước nghị viện, vừa phải chịu trách nhiệm trước tổng thống Cộng hoà Pháp là một điển hình của hình thức chính thể này Ưu điểm của hình thức chính thể này là việc tập trung quyền lực vào tay một cá nhân, đảm bảo được nền hành pháp mạnh, nhằm giữ ổn định chính trị - xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, do đó, ngoài cộng hoà Pháp, nhiều nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu và Châu phi, sau khi cải cách thể chế đã lựa chọn áp dụng hình thức chính thể này để xây dựng bộ máy Nhà nước
Chính thể cộng hoà cũng tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa: Việt Nam, Trung
Quốc, Cu Ba, Lào… với những tên gọi khác nhau về quốc hiệu (cộng hoà, cộng hoà
dân chủ, cộng hoà xã hội chủ nghĩa…) tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử của mỗi
nước
1.2.2.2 Hình thức cấu trúc
Hình thức cấu trúc: là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ và mối quan hệ giữa các đơn vị ấy với nhau cũng như giữa trung ương và địa phương
Trang 16Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang
- Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có chủ quyền chung, có một hệ thống pháp
luật thống nhất, có một Quốc hội và một hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương Các đơn vị hành chính - lãnh thổ thường bao gồm tỉnh
(thành phố), huyện (quận), xã (phường) hoạt động trên cơ sở các quy định của
chính quyền trung ương Những nước có hình thức cấu trúc đơn nhất này bao gồm các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Hàn Quốc…
- Nhà nước liên bang: là nhà nước được hình thành từ hai hay nhiều nhà nước
thành viên (hoặc nhiều bang) hợp lại Trong nhà nước liên bang ngoài các cơ quan
quyền lực nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước chung cho toàn liên bang, thì mỗi nhà nước thành viên còn có hệ thống cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật riêng của mỗi nhà nước thành viên Nói cách khác trong nhà nước có hình thức cấu trúc liên bang, không chỉ nhà nước liên bang mới có dấu hiệu nhà nước mà mỗi nhà nước thành viên ở những mức độ nhất định cũng có dấu hiệu nhà nước, tuy dấu hiệu
đó không đầy đủ như theo khái niệm nhà nước nguyên nghĩa của nó Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cộng hoà liên bang Đức, cộng hoà liên bang Nga… là những nhà nước có hình thức cấu trúc liên bang
pháp chính được dùng để thực hiện quyền lực nhà nước là phương pháp dân chủ và
phương pháp phản dân chủ độc tài, chuyên chế)
Trong đó, phương pháp dân chủ là phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước
mà người dân được tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước Còn phương pháp phản dân chủ là phương pháp mà người dân không được tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước, mọi việc nhất nhất đều phải tuân theo mệnh lệnh của một hệ thống cơ quan nhà nước Phương pháp phản dân chủ là phương pháp được dùng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và nhà nước Phát xít Giữa chế độ độc tài và chế độ chuyên chế cũng có sự khác biệt, chế
độ độc tài là chế độ loại trừ đa số người dân ra khỏi hoạt động chính trị, nhưng Chính phủ lại ít can thiệp đến đời sống của người dân, ngược lại chế độ chuyên chế
Trang 17là chế độ cũng loại trừ đa số người dân ra khỏi hoạt động chính trị, nhưng lại can thiệp rất sâu và đời sống của người dân
1.3 Chức năng và bộ máy nhà nước
1.3.1 Chức năng của nhà nước
Bản chất, vai trò xã hội của nhà nước được được thể hiện thông qua các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, gắn liền với các chức năng của nó Nói cách khác,
chức năng của nhà nước gắn liền với sự tồn tại của nhà nước Chức năng của nhà
nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước Còn nhiệm vụ là những vấn đề, những mục tiêu mà
nhà nước cần đạt được và bao giờ cũng có đích cuối cùng Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội … của xã hội quyết định ở mỗi thời kỳ phát triển
Chức năng nhà nước do bộ máy nhà nước thực hiện, mỗi cơ quan nhà nước sẽ thực hiện một số hoạt động nhất định: có cơ quan chuyên xây dựng pháp luật, cơ quan chuyên xét xử, cơ quan chuyên quản lý kinh tế… cả bộ máy tạo thành một cơ chế để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước
Phân loại chức năng nhà nước
Trong khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thông thường chức năng cơ bản của nhà nước được xác định căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước Theo tiêu chí này, các chức năng của nhà nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Chức năng đối nội là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước
trong nội bộ đất nước như: bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối, bảo vệ chế độ chính trị - xã hội, xây dựng và phát triển đất nước…
Chức năng đối ngoại là mặt hoạt động của nhà nước thể hiện vai trò của nhà
nước trong quan hệ với các quốc gia, dân tộc các tổ chức quốc tế khác như: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài, thiết lập mối quan hệ bang giao với các quốc gia khác vv
Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau Chức năng đối ngoại được xác định trên cơ sở tình hình thực hiện chức năng đối nội, kết quả thực hiện chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ đến việc tiến hành các chức năng đối nội
Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều hình thức, phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động cơ bản là: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Tương ứng
Trang 18với ba hình thức đó thì có ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và
cơ quan tư pháp
Tuỳ thuộc vào bản chất và đặc điểm cụ thể của mỗi nhà nước mà các nhà nước
sử dụng các phương pháp hoạt động theo cách khác nhau Phương pháp thực hiện của nhà nước rất đa dạng, nhưng nhìn chung các nhà nước đều sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là thuyết phục và cưỡng chế
Nhà nước ở mỗi chế độ xã hội có bản chất riêng nên chức năng của nhà nước thuộc mỗi chế độ xã hội cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có những đặc điểm khác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước phải xuất phát từ bản chất của nhà nước đó
1.3.2 Bộ máy nhà nước
Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng như hình thức và phương pháp hoạt động của nó được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước Cơ quan nhà nước là những bộ phận tạo thành bộ máy nhà nước, mỗi cơ quan nhà nước lại có những
chức năng nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao Cơ quan nhà
nước là một tổ chức chính trị được thành lập trên cơ sở pháp luật và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong phạm vi luật định
Ở đây cần phân biệt chức năng của nhà nước và chức năng của cơ quan nhà nước Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của toàn thể bộ máy nhà nước, trong đó mỗi cơ quan nhà nước có tham gia thực hiện theo sự phân công, phối hợp của nhà nước ở những mức độ khác nhau Còn chức năng của một cơ quan nhà nước là những mặt hoạt động chủ yếu của riêng cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện những chức năng và nhiệm vụ chung của nhà nước
Cơ quan nhà nước khác với các tổ chức khác trong xã hội ở đặc điểm, vị trí, thẩm quyền của cơ quan nhà nước, nghĩa là cơ quan nhà nước có quyền nhân danh nhà nước đưa ra các quyết định có tính chất bắt buộc các chủ thể có liên quan phải thi hành và nhân danh đó chỉ có thể thực hiện trong một phạm vi nhiệm vụ quyền hạn được nhà nước trao cho nó
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ
sở, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
2 Bộ máy nhà nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCNVN
Trang 192.1.1 Nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp”
Cơ sở hiến định của nguyên tắc: Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định:
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Một đặc điểm cơ bản của bộ máy nhà nước Việt Nam là được tổ chức theo nguyên
tắc tập quyền, khác với nguyên tắc phân quyền trong các nhà nước tư sản Quyền
lực nhà nước Việt Nam cũng bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
tư pháp Ba lĩnh vực quyền lực đó là một khối thống nhất được nhân dân trao cho
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, do nhân dân trực tiếp bầu ra “Quốc hội là cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Nội dung của nguyên tắc:
- Bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Do đó, quyền lực nhà nước phải tập trung thống nhất thì mới đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Để thực hiện quyền lực nhà nước một cách hiệu quả, quyền lực nhà nước phải được phân công cho các cơ quan nhà nước thực hiện, không thể có một cá nhân hay cơ quan nhà nước nào thâu tóm trong tay toàn bọ quyền lực nhà nước
- Các cơ quan nhà nước phải phối hợp với nhau trong quá trình hoạt động để đảm bảo tính thống nhất của bộ máy nhà nước cũng như thực hiện có hiệu quả các chức năng chung của bộ máy nhà nước
- Phải có cơ chế để kiểm soát quyền lực nhà nước để tránh tình trạng lạm quyền và sai quyền
2.1.2 Nguyên tắc lãnh đạo
Cơ sở hiến định của nguyên tắc: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là nguyên
tắc cơ bản trong tổ chức hoạt động của nhà nước ta Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học của của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững bản chất tốt đẹp của Nhà nước là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính trên tinh thần đó điều 4 - Hiến pháp 2013 khẳng định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội
Trang 20 Nội dung của nguyên tắc:
- Đảng vạch ra cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách lớn làm cơ sở cho chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong quản lí nhà nước; về tổ chức bôn máy nhà nước và chính sách cán bộ…
- Đảng đào tạo, bồi dưỡng và giới thiệu những cán bộ có phẩm chất và năng lực để đảm nhận những cương vị chủ chốt trong bộ máy nhà nước
- Đảng lãnh đạo nhà nước bằng công tác kiểm tra, giám sát
- Đảng lãnh đạo nhà nước bằng phương pháp dân chủ, giáo dục, thuyết phục
và bằng vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên là các cán bộ, công chức và các tổ chức đảng hoạt động trong các cơ quan nhà nước
2.1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiến pháp là pháp luật
Cơ sở hiến định của nguyên tắc: điều 8 luật - Hiến pháp 2013 quy định “nhà
nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiến pháp là pháp luật
Nội dung của nguyên tắc:
- Tất cả cơ quan nhà nước phải được hiếp pháp và pháp luật xác định rõ ràng
về cách thành lập, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật
- Các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước khi thực thi công quyền phải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định pháp luật, không được lạm quyền, lợi dụng quyền hạn
và càng không thể lộng quyền
- Mọi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước đều phải
bị xử lí nghiêm minh bất kể họ là ai, giữ cương vị gì trong bộ máy nhà nước
2.1.4 Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Cơ sở hiến định của nguyên tắc: điều 8 luật - Hiến pháp 2013 quy định “nhà
nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng
Hiến pháp là pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
Nội dung của nguyên tắc: