[r]
Trang 21 Nguyễn Thị Xuân Tường
2 Trần Tuấn Phong
3.Trần Thị Thúy Trinh
4 Nguyễn Thị Như Quỳnh
5 Jong Myung Park
6.Nguyễn Hoàng Vĩnh Hiếu 7.Trần khánh Huy
8.Trương Thị Sáu
Trang 5Quan niệm của người Việt về đi lại
Đi lại chính là sự ứng phó với khoảng cách
Ít có nhu cầu và sở thích đi lại, thường đi gần hơn đi xa
Trang 6 Đa phần cho rằng giao thông thời phong kiến và Trung
cổ rất kém, chất lượng đường không tốt bao gồm cả xe cộ và c
on đường, tất nhiên cũng do nhu cầu đi lại của người ta lúc đó tưởng như không lớn.
Về mặt PHƯƠNG TIỆN ĐI LẠI thì người Việt Nam
đi đường thủy nhiều hơn đường bộ.
Giao thông đường bộ ở Việt Nam cho đến tận khi Pháp vào, chỉ là những con đường nhỏ.
Phương tiện đi lại và vận chuyển ngoài sức trâu, ngựa, voi thì
phổ biến là đôi chân , công văn giấy tờ của nhà nước chủ yếu cũng dược chuyển đi theo phương pháp này; quan lại thì di
chuyển bằng cáng, kiệu.
Trang 7Kiệu bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn, vua c húa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại Kiệu
được dùng chủ yếu cho vua.
Trang 8Con đường đất từ Hải Phòng ra Đồ Sơn Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20.
Trang 10Nhà thơ Nguyễn Bính trong bài Giấc mơ anh lái đò
có nói đến chuyện đi võng vinh quy về làng:
Năm xưa chở chiếc thuyền nàyCho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:
"Tước đay se võng nhuộm điều ta điTưng bừng vua mở khoa thi,Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làngVõng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò."
Trong bài thơ Quan trạng, tả cảnh quan Trạng vinh quy, Nguyễn Bính viết:
Quan Trạng đi bốn lọng vàng
Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm
Mọi người hớn hở ra xemChỉ duy có một cô em chạnh buồn
Trang 11Xe đẩy bánh gỗ.
Xe kéo tay.
Trang 13Đặc điểm văn hóa đi lại của người Việt
CÁCH ĐI LẠI CỦA NGƯỜI VIỆT
Hệ thống từ ngữ chỉ sự đi lại, vận chuyển trong
khoảng cách gần của người việt khá phong phú
Thường đi lại bằng đường thủy nhiều hơn đường bộ
Hình ảnh con thuyền và và dòng sông biểu tượng sự gắn bó, đợi chờ
Trang 14ANH PHÁP VIỆT
To carry Porter Mang
Cầm : mang trong tay Nắm : mang gọn trong tay Xách : mang trong tay qua trung gian Bốc: mang trong lòng bàn tay
Bê: mang bằng 2 tay Bưng: mang trong tay giơ lên cao Ôm: mang gọn trong lòng bằng 2 tay
Bế, bồng, ẵm: mang nâng niu Cõng: mang trên lưng
Vác: mang trên vai Gánh: mang qua trung gian bằng chiếc đòn Đội: mang trên đầu
Khiêng: nhiều người mang
Trang 17Hình ảnh sông nước ăn sâu vào tâm khảm
người Việt nên mọi mặt đời sống đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực: chớ
thấy sóng cả mà ngã tay chèo, chìm đắm trong suy tư………
Trang 18Các tỉnh phía Nam, mắt ghe được vẽ tròn to, trang trí sặc sỡ trên nền sơn đỏ, tạo nên sự vui nhộn, hiền hòa cho thuyền
Trang 19Ghe có mũi nhọn dựng cao, sơn màu đỏ tươi, lườn sơn màu xanh,
mắt vẽ tròn xoe, tròng đen to choán gần hết con mắt Nó đã từng “khoe sắc” trong dân ca vùng sông nước:
Ghe ai đỏ mũi, trảng lườn
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?
Nổi tiếng nhất ở miền Tây Nam Bộ là trường phái đóng ghe Cần Đước (Long An),
hoạt động từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Nơi đây chuyên đóng các loại ghe lớn, chạy nhanh, chở khoẻ và có dáng đẹp, đi sông đi biển đều tốt
Trang 20Các tỉnh, thành miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, mắt ghe được vẽ hai màu chủ đạo là trắng và đen, xếch phần đuô
i mắt trông khá dữ dằn kèm con ngươi nhìn xuống nước ma
ng ngụ ý “nhìn thật sâu để tìm nơi có nhiều tôm cá”.
Trang 21Ý nghĩa và nguồn gốc của tục vẽ mắt
lên thuyền ở Việt Nam
Những con tàu ở vùng sông nước đều được vẽ mắt với mong muốn chúng sẽ “Đi đến nơi, về đến
Trang 22Xích lô Sài thành thời Pháp thuộc
Trang 23 Người Việt đã biết tận dụng tự nhiên để đem lại cái
ăn, và ứng phó với tự nhiên : thời tiết, khí hậu… bằng cách mặc ,bằng cách làm nhà ở để bảo vệ mình , và ứng phó vớ
i khoảng cách của tự nhiên bằng đi lại, bằng sản xuất phươ
ng tiện di chuyển phù hợp với điều kiện sông nước.
Tất cả đó là cách văn hóa ứng xử một cách thân thiện, hòa hợp với môi trường thiên nhiên của cư dân làm nông nghiệ
p lúa nước và trên căn bản triết lý âm dương ngũ hành.