1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc lượng kiến thức ngày càng gia tăng. Để đáp ứng được nhu cầu học vấn của thời đại, mỗi người cần phải tìm cho mình phương pháp học tập phù hợp. Trong bài nói chuyện tại hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1961, Hồ Chủ Tịch cũng đã tâm sự: “Về văn hóa, tôi chỉ học hết tiểu học. Về hiểu biết phổ thông, 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe radio lần đầu.” Vậy mà Người đã có một trí tuệ phi thường, một sự hiểu biết đáng khâm phục. Đạt được tầm hiểu biết đó là nhờ Hồ Chủ Tịch đã không ngừng học tập, nói đúng hơn là không ngừng tự học. Tự học đóng một vai trò rất quan trọng trên con đường học vấn của mỗi người, đặc biệt là với mỗi học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường – những chủ nhân tương lai đem tri thức của mình xây dựng đất nước. Kiến thức là vô hạn trong khi trí nhớ của con là hữu hạn. Tự học chính là cuộc hành trình của bản thân để chiếm lĩnh kiến thức, và những bước đi đầu tiên sẽ luôn có nhiều chông gai, thử thách nhưng chính những lúc bế tắc ấy lại là động lực thúc đẩy chúng ta tích cực tư duy để tìm ra hướng đi. Tự học sẽ giúp ta rèn luyện thói quen tích cực, chủ động hơn trong hoàn cảnh khó khăn. Hơn hết, khi tự học ta mới thấy được cái hay, cái đẹp của tri thức từ đó trở nên say mê khám phá, học hỏi nhiều điều mới lạ hơn nữa. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngày càng tăng. Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, thì lượng thông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm. Do vậy, hơn lúc nào hết, tầm quan trọng của tự học lại càng phần lớn lao và cấp thiết. Trong điều kiện như vậy thì những gì sinh viên tiếp thu được từ nhà trường sẽ kém phong phú hơn rất nhiều những điều họ tiếp thu được ở gia đình và đặc biệt là ngoài xã hội. Dạy học trong nhà trường không phải là cung cấp một khối lượng tri thức hàn lâm kinh điển mà dạy cho người học phương pháp tiếp cận thông tin, phương pháp tư duy để họ có thể tiếp tục học sau khi rời ghế nhà trường. Dạy học Đại học thực chất là dạy cách học, cách tự học để học tập suốt đời. Trong điều kiện học tập đổi mới như vậy, sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết, hết sức nỗ lực, giành nhiều thời gian cho tự học và xác định được phương pháp học tập đúng đắn, hiệu quả. Bên cạnh đó, sự phát triển của các thiết bị thông minh thời đại công nghệ 4.0 cho phép sinh viên tiếp cận tri thức dễ dàng. Một số sinh viên đã tận dụng tốt nguồn tài nguyên này để trau dồi bản thân. Tuy nhiên, thông thường mọi quá trình tự học đều diễn ra một cách tự nhiên và khó dự đoán trước, do đó chúng em tin rằng điều quan trọng là cần phải minh họa rõ ràng hơn “lộ trình” và những điều cần có đề việc tự học đạt kết quả. Xuất phát từ những vấn đề trên, nhóm tiến hành tìm hiểu về thực trạng, những khó khăn gặp phải của sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân trong quá trình tự học trong thời đại công nghệ 4.0 từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục nhằm giúp sinh viên tự tin hơn trong việc nâng tầm tri thức, vươn tới đỉnh cao của khoa học và hơn hết là học tập một cách hiệu quả nhất và đó cũng chính là lý do nhóm chúng em chọn đề tài: “Thực trạng về vấn đề tự học của sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay”. 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: như: 2.1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trong lịch sử nghiên cứu đã có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề tự học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC
DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT
TRIỂN
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Đề tài: Nghiên cứu về vấn đề tự học của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc Dân thời đại 4.0
Hà Nội, 2021
Trang 2Thành viên thực hiện:
Trang 35.1 Khái niệm, quan điểm về tự học 13
5.3 Các kỹ năng cần thiết cho việc tự học 14
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
Trang 42 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH 30
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Nhóm tác giả xin cam đoan đề tài “NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ 4.0” là thành quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của
chúng tôi trong suốt thời gian qua
Các dữ liệu trong nghiên cứu hoàn toàn có cơ sở từ thực tế, đáng tin cậy
và được phân tích, xử lý khách quan và trung thực
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng IV.4 Phân tích phương sai ANOVA: Sinh viên 30
Bảng IV.8 Bảng kiểm định thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA 33
Biểu đồ IV.3 Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram 38Biểu đồ IV.4 Biểu đồ Phần dư chuẩn hóa Normal P-P Plot 38Biểu đồ IV.5 Biểu đồ Scatter Plot kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính 39
Trang 7CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc lượng kiến thức ngàycàng gia tăng Để đáp ứng được nhu cầu học vấn của thời đại, mỗi người cầnphải tìm cho mình phương pháp học tập phù hợp Trong bài nói chuyện tại hộinghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1961, HồChủ Tịch cũng đã tâm sự: “Về văn hóa, tôi chỉ học hết tiểu học Về hiểu biết phổthông, 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới ngheradio lần đầu.” Vậy mà Người đã có một trí tuệ phi thường, một sự hiểu biếtđáng khâm phục Đạt được tầm hiểu biết đó là nhờ Hồ Chủ Tịch đã không ngừnghọc tập, nói đúng hơn là không ngừng tự học Tự học đóng một vai trò rất quantrọng trên con đường học vấn của mỗi người, đặc biệt là với mỗi học sinh, sinhviên đang ngồi trên ghế nhà trường – những chủ nhân tương lai đem tri thức củamình xây dựng đất nước
Kiến thức là vô hạn trong khi trí nhớ của con là hữu hạn Tự học chính làcuộc hành trình của bản thân để chiếm lĩnh kiến thức, và những bước đi đầu tiên
Trang 8sẽ luôn có nhiều chông gai, thử thách nhưng chính những lúc bế tắc ấy lại làđộng lực thúc đẩy chúng ta tích cực tư duy để tìm ra hướng đi Tự học sẽ giúp tarèn luyện thói quen tích cực, chủ động hơn trong hoàn cảnh khó khăn Hơn hết,khi tự học ta mới thấy được cái hay, cái đẹp của tri thức từ đó trở nên say mêkhám phá, học hỏi nhiều điều mới lạ hơn nữa.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngàycàng tăng Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, thì lượngthông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm Do vậy, hơn lúc nào hết, tầmquan trọng của tự học lại càng phần lớn lao và cấp thiết Trong điều kiện như vậythì những gì sinh viên tiếp thu được từ nhà trường sẽ kém phong phú hơn rấtnhiều những điều họ tiếp thu được ở gia đình và đặc biệt là ngoài xã hội Dạyhọc trong nhà trường không phải là cung cấp một khối lượng tri thức hàn lâmkinh điển mà dạy cho người học phương pháp tiếp cận thông tin, phương pháp tưduy để họ có thể tiếp tục học sau khi rời ghế nhà trường Dạy học Đại học thựcchất là dạy cách học, cách tự học để học tập suốt đời Trong điều kiện học tậpđổi mới như vậy, sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng cầnthiết, hết sức nỗ lực, giành nhiều thời gian cho tự học và xác định đượcphương pháp học tập đúng đắn, hiệu quả Bên cạnh đó, sự phát triển của cácthiết bị thông minh thời đại công nghệ 4.0 cho phép sinh viên tiếp cận tri thức dễdàng Một số sinh viên đã tận dụng tốt nguồn tài nguyên này để trau dồi bảnthân
Tuy nhiên, thông thường mọi quá trình tự học đều diễn ra một cách tựnhiên và khó dự đoán trước, do đó chúng em tin rằng điều quan trọng là cần phảiminh họa rõ ràng hơn “lộ trình” và những điều cần có đề việc tự học đạt kết quả
Xuất phát từ những vấn đề trên, nhóm tiến hành tìm hiểu về thực trạng,những khó khăn gặp phải của sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân trongquá trình tự học trong thời đại công nghệ 4.0 từ đó đề xuất một số giải pháp khắcphục nhằm giúp sinh viên tự tin hơn trong việc nâng tầm tri thức, vươn tới đỉnhcao của khoa học và hơn hết là học tập một cách hiệu quả nhất và đó cũng chính
là lý do nhóm chúng em chọn đề tài: “Thực trạng về vấn đề tự học của sinh viênĐại học Kinh tế quốc dân trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay”
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU:
như
:
2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài
Trong lịch sử nghiên cứu đã có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề tự học
Trang 9- Nghiên cứu “Research methods for the self-study of practice” của 3 tácgiả đến từ University of Northern Iowa, Cedar Falls, IA, USA: Deborah L.Tidwell, Melissa L Heston and Linda M Fitzgerald
- Nghiên cứu kỹ năng tự học của sinh viên ngành quản lí giáo dục trườngđại học Vinh – Tác giả Hồ Thị Hoài
- Kỹ năng tự học của sinh viên Đại Học Kiên Giang trong cuộc cách mạng4.1 – Tác giả Hàng Duy Thanh, Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Thanh Sang
- Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự học cho sinh viên Đại học Sư phạmtheo quan điểm sư phạm tương tác – Tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh
- Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên ngành sư phạm hóa họcTrường Đại học Đồng Tháp – Tác giả TS Dương Huy Cẩn…
Các bài nghiên cứu đều đề cập đến khái niệm “tự học”, dù cách lý giảikhác nhau nhưng đều đưa ra kết luận “Tự học là quá trình chủ thể người học cánhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập” Riêng bài nghiên cứucủa Hồ Thị Hoài đề cập đến tự học trong sinh viên “Tự học của SV đại học mangđầy đủ các đặc điểm của tự học nói chung nhưng cũng phản ánh đặc trưng riêngcủa hoạt động học tập ở đại học là tính tự chủ cao và tính nghiên cứu vừa sức”.Các bài nghiên cứu nhắc đến kỹ năng tự học như một yếu tố quan trọng để việc
tự học thành công Bài nghiên cứu đưa ra một loạt các kỹ năng cần thiết cho sinhviên: Kỹ năng kế hoạch hóa và mục tiêu, kỹ năng ôn tập ; nghiên cứu của tácgiả đến từ University of Northern Iowa đề cập thêm kỹ năng sử dụng công nghệđiện tử trong tự học - Information Communication Technologies (ICT); vànghiên cứu đưa ra một lý luận “Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy nhiêuloại hình kỹ năng chuyên biệt”
Ngoài ra, còn có lý thuyết xây dựng kiến thức (social constructivism):kiến thức phải được xây dựng dựa trên nền tảng cá nhân và giao tiếp với xã hội.Theo Palfreyman (2004), nền tảng văn hóa Châu Á của người học thường đượcxem là một trở ngại cho việc phát triển năng lực tự học Hai đặc điểm chính gâycản trở việc phát triển năng lực tự học của họ, đó là (1) chủ nghĩa tập thể(collectivism) và (2) mối quan hệ dựa trên quyền lực hiển nhiên của Thầy đối vớitrò (Littlewood, 1999)
2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài
cả về lý luận và thực tiễn Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới, nhưng nhữngthành quả nghiên cứu về hoạt động tự học nói chung và tự học dành cho sinhviên nói riêng cũng rất phong phú Kỹ năng tự học ảnh hướng đến thói quen và
cả kết quả học tập của sinh viên trong thời đại ứng dụng 4.0 trên các giảng
Trang 10đường ngày càng trở nên phổ biến Do đó, đề tài đã được đề cập rất nhiều trênsách báo, tạp chí, bên cạnh đó còn có rất nhiều những buổi hội thảo hay những
đề tài nghiên cứu nói về vấn đề này
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn là một trong những nhà nghiên cứu về tự họctích cực nhất Hàng loạt cuốn sách, công trình nghiên cứu của ông đã ra đời đểthuyết phục giáo viên ở các cấp bậc học thay đổi các dạy của mình nhằm pháttriển khả năng tự học cho học sinh ở mức độ tối đa Ông phân tích sâu sắc bảnchất tự học, xây dựng khái niệm tự học chuẩn xác, đưa ra mô hình dạy - tự họctiến bộ với những hướng dẫn chi tiết cho giáo viên thực hiện mô hình này
Đi sâu hơn vào bản chất của vấn đề tự học trên cơ sở tâm lý học và giáodục học, đã có các nghiên cứu của tác giả Thái Duy Tuyên với “Bồi dưỡng nănglực tự học cho học sinh”, tác giả Nguyễn Kỳ với việc nghiên cứu “Biến quá trìnhdạy học thành quá trình tự học ”, tác giả Đặng Vũ Hoạt với nghiên cứu Một sốnét về thực trạng phương pháp dạy học đại học
Trong báo cáo “Vấn đề tự học của sinh viên trường Đại học luật Hà
Nội thực trạng và giải pháp” qua kết quả khảo sát cho thấy các kỹ năng tự học
được sinh viên nhận thức ít, khó khăn hơn như kỹ năng “Tự giác, tích cực hoànthành nhiệm vụ học tập và các hoạt động khác” Sinh viên đã nhận thấy rõ tráchnhiệm trách nhiệm của mình, chủ động hơn trong việc học tập và nhà trường,giảng viên cần tạo điều kiện cho sinh viên phát huy hết tính năng động sáng tạocủa mình bằng việc tổ chức các diễn đàn học tập, tham gia các buổi diễn án, traođổi các phương pháp học tập, Nghiên cứu này xét trên kỹ năng hình thành nên
kỹ năng tự học của sinh viên: Tự giác, tích cực hoàn thành mọi nhiệm vụ họctập; Phân bổ thời gian, Ưu tiên hợp lý về thời gian, Tự kiểm tra đánh giá, Tựđiều chỉnh bổ sung các nội dung kiến thức Nhìn chung, kỹ năng tự học của sinhviên năm thứ nhất và năm thứ ba không có sự khác biệt một cách có ý nghĩa vềcác kỹ năng trên Ở sinh viên đã có sự thống nhất cao trong thứ bậc về nhận thứcnhưng khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện các kỹ năng tự học của sinhviên
“ Nghiên cứu về động cơ học tập của sinh viên tại các trường đại học ViệtNam” đã nghiên cứu và nhận thấy việc tự học của sinh viên Việt Nam hiện tạicòn thấp Mặc dù, có 3,9% không tự học tập tại nhà nhưng số sinh viên dành trên
4 giờ học tập cho một ngày tại nhà lại đạt 6,4%, số đông (44,7%) sinh viên mỗingày tự học tập nghiên cứu từ 1 đến 2 giờ đồng hồ
Thông qua các bài nghiên cứu, bài báo trong nước nhìn chung, động cơhọc tập của sinh viên Việt Nam hiện nay khá thấp, còn mơ hồ, chưa dành nhiềuthời gian cho việc học tập Mặc dù, mong muốn và sẵn sàng vượt qua khó khăn
để đạt được kết quả cao nhất, song nhìn vào kết quả khảo sát với tỷ lệ tự học, tự
Trang 11nghiên cứu mà trung bình mỗi sinh viên đầu tư cho sự nghiệp đại học và nghiêncứu tại các trường đại học còn quá thấp.
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, so sánh với các nghiên cứu trong nước, có rất nhiều nghiên cứunước ngoài đã được tiến hành bài bản và cách tiếp cận cũng vô cùng đa dạng màtrên đây nhóm nghiên cứu mới chỉ nếu ra một số nghiên cứu tiêu biểu Nhìnchung đã khỏa lấp được hầu hết khoảng trống nghiên cứu trong vấn đề tự học.Kho tàng nghiên cứu trong nước vẫn còn tiềm năng khai thác, cộng với sự kếthừa các nghiên cứu uy tín trên thế giới, nhóm nghiên cứu cho rằng việc đónggóp thêm đề tài nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết và thực sự có ý nghĩa.chính vì vậy, nhóm nghiên cứu sẽ làm rõ các khoảng trống đó và có thêm một sốđiểm mới như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu tại Việt Nam về chất lượng tự học của các bạntrẻ, đặc biệt là sinh viên ở các trường đại học có quy mô khảo sát chưa đi sâu vàochuyên ngành hay một số loại hình nhất định Vì vậy, nhóm sẽ thực hiện với sốlượng mẫu lớn, nằm rải rác ở tất cả các chuyên ngành trong khu vực trường Đạihọc Kinh tế quốc dân, đại diện cho nhóm sinh viên kinh tế
Thứ hai, các nghiên cứu mới chỉ đề cập vấn đề tự học của sinh viên trongđiều kiện truyển thống (giáo viên giảng dạy trực tiếp trên lớp và trên nền tảnggiáo trình bản cứng), mà các yếu tố này không còn phù hợp với thời kỳ hiện nay.Công nghệ 4.0 được ứng dụng trên mọi hoạt động của con người từ giáo dục,chính trị, kinh tế… nên kỹ năng tự học cũng cần được nghiên cứu và thay đổicho thực tế Do đó nhóm nghiên cứu sẽ đưa thêm một số yếu tố khách quanthuộc môi trường công nghệ 4.0 được coi là tác động đến chất lượng của việc tựhọc và mô hình dựa trên bằng chứng từ những nghiên cứu nước ngoài và trong
nước Đề tài “NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ 4.0” được
nhóm nghiên cứu chọn
3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU :
3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Trong thời đại công nghệ 4.0 phát triển, xu hướng cải tiến hóa và tối ưuhóa hoạt động sản xuất hay phát triển, thúc đẩy nhu cầu tự hoàn thiện bản thân,nâng cao tri thức của con người ngày càng cao Dưới sự hỗ trợ, phát triển củacông nghệ và máy móc, hoạt động giáo dục và cung cấp tri thức của con ngườiđược nâng cao Tự học là một kỹ năng không còn quá mới nhưng nó là kỹ năng
Trang 12quan trọng mà mỗi con người, đặc biệt là sinh viên đều phải tự trang bị Kỹ năngnày không phải là bất biến, nó thay đổi ở từng thời điểm, giai đoạn trong sự pháttriển của nhân loại Do đó, “Nhận thức của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân
về vấn đề tự học” cũng có sự thay đổi, không giống như thời kỳ trước, đây cũng
là mục tiêu nghiên cứu đầu tiên và cơ bản mà nhóm chúng tôi để tìm ra và có thểđưa ra các giải pháp đúng đắn để hoàn thiện nhận thức của sinh viên Đại họcKinh tế Quốc dân trong thời đại mới, thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
Để xác định và hiểu rõ hơn về quan điểm hay những nhận thức của sinhviên Đại học Kinh tế quốc dân trong thời điểm hiện tại, nhóm chúng tôi thựchiện mục tiêu nghiên cứu thứ hai là điều tra “Thực trạng vấn đề tự học của sinhviên Đại học Kinh tế quốc dân” Từ đó có thể tìm ra “những yếu tố khách quanhay chủ quan ảnh hưởng đến vấn đề tự học” Những nhân tố như môi trường tựhọc, phương pháp tự học, thời gian bỏ ra dành cho tự học, kỹ năng cần thiết phục
vụ cho tự học và những khó khăn, hạn chế mà sinh viên gặp phải trong khi tựhọc theo phương pháp truyền thống sẽ tác động như thế nào, có vị trí và vai trò rasao trong quá trình tự học của sinh viên Hay ngoài ra còn nhân tố nào khác ảnhhưởng hay không?
Ngoài ra, mục tiêu nghiên cứu thứ ba của nhóm nhằm kiểm định “mốiquan hệ giữa vấn đề tự học và kết quả học tập của mỗi sinh viên ĐHKTQD”. Đánh giá về mối quan hệ hai chiều, tương quan của hai khía cạnh trêntrong thời kỳ 4.0 và rút ra những bàn luận, đề xuất hợp lý để giải quyết vấn đềthực tiễn đặt ra.
Thêm vào đó, việc tìm hiểu và đánh giá về “Những ảnh hưởng của cácthiết bị công nghệ 4.0, phần mềm chương trình hỗ trợ cho việc tự học sinhviên” cũng là mục tiêu thứ tư, mục tiêu thiết yếu và làm nên điều mới mẻ củacuộc nghiên cứu so với đề tài trước đó, khi chỉ mới tập trung vào tự học truyềnthống.
Cuối cùng, từ các mục tiêu nghiên cứu trên kết hợp với kết quả điều tra từ
đó và các nhân tố tác động đến vấn đề tự học, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra nhữngbàn luận, đề xuất và xây dựng mô hình tự học cho sinh viên ĐH KTQD trongthời đại 4.0 Đây là mục tiêu cuối cùng và là mục tiêu quan trọng nhất của cuộcnghiên cứu Ngoài ra là những hạn chế có thể gặp trong quá trình nghiên cứu
và mục tiêu, phương hướng cho những nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện đề tài,phục vụ nhu cầu của sinh viên và công dân quá trình tìm tòi tri thức trong bốicảnh luôn luôn thay đổi và yêu cầu sự thích nghi nhanh chóng.
Trang 13(2) Nếu sinh viên ĐH KTQD nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng
và sự cần thiết của tự học trong thời đại 4.0 thì thực trạng của vấn đề này như thếnào, đã thực sự đủ tốt và không còn gặp khó khăn nào?
(3) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên Đại họcKinh tế Quốc dân trong thời đại 4.0? Nhân tố nào là quan trọng nhất trong nhữngnhóm nhân tố điều tra, có nhân tố nào mới hay không?
(4) Mối liên hệ giữa kết quả học tập và vấn đề tự học có phải là mối quan
hệ hai chiều trong thời đại hiện nay?
(5) Hiện nay, sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân đã vận dụng và áp dụngchúng như thế nào trong quá trình tự học?
(6) Những đề xuất và kiến nghị để cải thiện và nâng cao hiệu quả của kỹnăng tự học ở mỗi sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân ở thời điểm hiện tại
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề tự học của sinh viên đại học Kinh tế Quốc dân trong thời đại côngnghệ 4.0
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: ĐH Kinh tế Quốc dân
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2020-2021, thời gian thựchiện khảo sát từ 07/1 đến ngày 07/3
Trang 145 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG:
5.1. Khái niệm, quan điểm về tự học
Theo GS – TSKH Thái Duy Tuyên, tự học là hoạt động tích lũy kiến thức,
kỹ năng bằng cách tư duy, quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp với mục đíchlĩnh hội một lĩnh vực tri thức hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội loài người,biến chúng thành kiến thức của chính bản thân người học
Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (7/1998) bàn luận: “Tự học làngười học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hànhđộng của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm cácgiải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học.”
Từ những quan điểm trên về tự học, nhóm nghiên cứu thấy rằng kháiniệm tự học luôn song hành với ý thức tự giác Kiến thức, kỹ năng của mỗi ngườichỉ tồn tại lâu dài cũng như phát huy một cách hiệu quả thông qua các hoạt động
tự thân ấy
5.2. Vai trò kỹ năng tự học:
Kỹ năng tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao khả năng hiểu biết
và tiếp thu tri thức mới của SV, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấpthiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho SV Tự học với sự nỗ lực, tư duy sángtạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chấtcủa chân lý Trong quá trình tự học, SV sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìmgiải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho
SV Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân SV thì kết quả không thể cao cho
dù có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay)
Không chỉ có vậy, kĩ năng tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục,hình thành nhân cách cho sinh viên Việc tự học rèn luyện cho SV thói quen độclập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộcsống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình Hơn thế, tựhọc thúc đẩy SV lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnhcao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ
5.3. Các kỹ năng cần thiết cho việc tự học
5.3.1 Kỹ năng lập kế hoạch tự học
Để học tập hiệu quả, đạt kết quả mong muốn, SV phải lên cho mình một
kế hoạch học tập thật khoa học, xác định được khối kiến thức cần phải trau dồi,
Trang 15phân bổ thời gian cho từng loại kiến thức cụ thể nếu không muốn lãng phí thờigian
Có kế hoạch thì phải có mục tiêu, mục tiêu sẽ là động lực học tập của sinhviên Bởi lúc đó sinh viên biết mình cần phải học vì cái gì, những loại kiến thứcbạn học sẽ phục vụ vào công việc gì; Khi đó sẽ chủ động học và tự học để có đủkiến thức thực hiện mục tiêu mà bản thân đã đề ra
Kỹ năng này cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự họctương xứng với lượng thông tin của môn học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức
tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc
kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra, đánh giá
5.3.2 Kĩ năng đọc giáo trình, tài liệu tham khảo
Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù hợp là tìm hiểunội dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng cótrọng điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá Khi đọc sách cần phải tậptrung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chép Để việc đọc sách có chất lượng vàhiệu quả, cần đọc theo một quy trình nhất định, nếu không sẽ mất thời gian màkhông thu được nhiều kết quả và không lưu giữ được những thông tin cần thiết
5.3.3 Kỹ năng nghe và ghi bài trên lớp
Việc nghe giảng trên lớp để hiểu quả phải gồm một quá trình ôn lại bài cũ
và đọc, nghiên cứu bài học tiếp theo trước ở nhà Khi đến lớp SV mới có thể dễdàng liên kết được kiến thức các bài học với nhau và có thể tìm ra những kiếnthức mình còn chưa hiểu để được giải đáp
Việc ghi chép giúp não bộ nhớ lại thông tin tốt hơn Trí óc sẽ lưu giữ tất
cả những gì nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy Nếu không ghi chép và xem xét
sự kiện thì con người chỉ có khả năng nhớ một phần rất nhỏ những gì nghe hoặcđọc được cách đó một ngày Ghi chép hiệu quả sẽ tiết kiệm thời gian do ngườihọc có thể sắp xếp thông tin và nhớ lại chúng khi cần
5.3.4 Kỹ năng ôn tập (gồm kỹ năng ôn bài và kỹ năng tập luyện)
Kỹ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnhkiến thức khi nghe trên lớp Đó là hoạt động xem lại bài ghi, bổ sung bài ghibằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúctừng phần và toàn bài Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, kháiniệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bàigiảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những
Trang 16mối liên hệ logic có thể có cả kiến thức cũ và mới Từ đó hoàn chỉnh việc tổchức tư liệu học và đưa vào bộ nhớ.
Kỹ năng tập luyện có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứngvới những tri thức đã học Từ việc giải bài tập trên lớp đến việc người học tự tìmkiếm những loại bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đếnbài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiếnthức vào thực tiễn
5.3.5 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học
Các nhà giáo dục đã khẳng định, kiểm tra, đánh giá trong học tập là quátrình thu thập và xử lý thông tin về tình trạng lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tưtưởng đạo đức, kỹ năng của người học xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu học tập củahọ…
Tự kiểm tra đánh giá góp phần hình thanh thói quen trong học tập nhưnhận thức về vấn đề đặt ra, nhạy bén, biết vận dụng kiến thức, kỹ năng vào cáchoạt động thực tiễn, thực tập… Việc tự kiểm tra, đánh giá nhìn nhận kết quả họctập qua quá trình tự học có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức: dùng cácthang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giánhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt raban đầu… Thông qua nó người học có thể nhìn lại mình, hiểu được cái gì làmđược, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắcphục hay phát huy
- Phương pháp giảng dạy của giảng viên
- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường
- Tài liệu học tập: giáo trình, tài liệu tham khảo
- Các điều kiện về môi trường học tập, cơ sở vật chất, gia đình và xã hội
5.5. Tổng quan về thời đại công nghệ 4.0
5.5.1 Khái niệm và quan điểm về thời đại CN 4.0
Trang 17Thời đại Công nghệ 4.0 chỉ thời đại đang bước vào Cách mạng côngnghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0).
Theo GS Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Industry4.0 hay CMCN 4.0, là một thuật ngữ gồm một loạt các công nghệ tự động hóahiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo CMCN 4.0 được định nghĩa là “một cụmthuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị”đi cùngvới các hệ thống vật lý trong không gian ảo, internet kết nối vạn vật (IoT) vàinternet của các dịch vụ (IoS)
Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi người học phải thay đổi để thích nghi,cần trang bị đầy đủ những kiến thức nền tảng, chuyên môn vững vàng, kỹ năng
tự học, tư duy sáng tạo Do đó, việc học không chỉ gói gọn trong những giờ ngồitrong lớp mà bây giờ mọi người có thể học mọi lúc, mọi nơi Người học cần có
sự tương tác với người dạy, tích cực sử dụng công nghệ để tìm kiếm tài liệu,thông tin phục vụ việc học
5.5.2 Các công cụ 4.0 hỗ trợ cho việc tự học
- SV có thể dễ dàng truy cập vào mạng internet để tìm kiếm kiến thức mớiqua các nền tảng tìm kiếm Google, Cốc Cốc…
- Các phần mềm trên điện thoại, laptop được phát triển giúp SV có thể tựhọc một cách hiệu quả hơn:
● Tinycards (iOS)
● Evernote (iOS | Android)
● Easy Study (iOS)
● GoConqr (iOS | Android)
● Exam Countdown (iOS | Android)
● Acceleread Speed Reading Trainer (iOS)
6 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHUNG:
6.1. Các loại dữ liệu sử dụng
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa có sẵn, được thu thập lần đầu, dochính người nghiên cứu thu thập Trong thực tế, khi dữ liệu thứ cấp không đápứng được yêu cầu nghiên cứu, hoặc không tìm được dữ liệu thứ cấp phù hợp thìcác nhà nghiên cứu sẽ phải tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu đã có sẵn, không phải do mình thu thập, đãcông bố nên dễ thu thập, ít tốn thời gian, tiền bạc trong quá trình thu thập nhưng
là loại tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu tiếp thị cũng như các ngành khoahọc xã hội khác
Trang 18Dữ liệu thứ cấp được nhóm nghiên cứu tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu,trong đó tiêu biểu là:
- Nghiên cứu “Vấn đề tự học của sinh viên khoa kinh tế và vai trò củagiảng viên” – Tác giả Nguyễn Văn Ngọc, Đại học Nha Trang
- Tiểu luận “Thực trạng về vấn đề tự học của sinh viên Đại học Ngân hàng TP.HCM trong chương trình đào tạo tín chỉ hiện nay”
- Đề tài “Nghiên cứu kỹ năng tự học của sinh viên ngành quản lý giáo dụctrường Đại học Vinh” – Tác giả Hồ Thị Hoài
- Cùng một số bài nghiên cứu khác
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chúng tôi thực hiện thông qua phương pháp nghiêncứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó đặt trọng tâm lànghiên cứu định lượng
6.2.1 Nghiên cứu định tính và quy trình tiến hành
Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả
và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người từquan điểm của nhà nghiên cứu Nghiên cứu định tính cung cấp thông tin toàndiện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đờisống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau
mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh được cuộc sống thực tế hàngngày
Mục tiêu nghiên cứu định tính nhằm kiểm tra và xác định mối quan hệtrong mô hình lý thuyết ban đầu, đây được coi là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ,thực hiện nhằm hiệu chỉnh các thang đo đã được sử dụng trước đó cho phù hợpvới điều kiện nghiên cứu
Các kĩ thuật định tính được sử dụng trong cả quá trình thu thập và phântích dữ liệu Với thu thập dữ liệu, các kĩ thuật được áp dụng bao gồm phỏng vấnnhóm tập trung, phỏng vấn sâu cá nhân, nghiên cứu tình huống (case studies),nghiên cứu dân tộc học (ethnography), lý thuyết nền tảng, nghiên cứu hành động,
và quan sát Với quá trình phân tích dữ liệu, nghiên cứu định tính sử dụng kĩthuật phân tích nội dung thông qua bản tài liệu viết tay hoặc bản ghi âm thu được
từ người tham gia, quan sát hành vi, phỏng vấn người quan sát, đồng thời nghiêncứu các yếu tố trong môi trường thực tế Nghiên cứu định tính hướng tới mụctiêu thấu hiểu sâu sắc một tình huống cụ thể
6.2.1.1 Lấy mẫu (Sampling)
Trang 19Kích cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng,nhưng nhìn chung thì số mẫu thường nhỏ Một nghiên cứu có thể chỉ bao gồm 2hoặc 3 nhóm tập trung, hoặc một vài cuộc phỏng vấn cá nhân Nghiên cứu địnhtính bao gồm cả việc chọn mẫu phi xác suất – khi mẫu đại diện được chọn ra vớinguồn lực nhỏ Một số loại chọn mẫu phi xác suất phổ biến là:
- Lấy mẫu có mục đích (Purposive sampling): người tham gia được lựachọn dựa trên một số tiêu chí mà nhà nghiên cứu lọc ra để phù hợp với mục đíchcủa nghiên cứu như tính cách, kinh nghiệm, thái độ, nhận thức, …
- Lấy mẫu ném tuyết (Snowball sampling): một số lượng người tham dựđược chọn ban đầu sẽ phỏng đoán về một số người khác có tính cách, trảinghiệm, thái độ tương tự hoặc khác biệt với họ
- Lấy mẫu tiện lợi (Convenience sampling): lựa chọn bất cứ cá nhân sẵn
có nào xung quanh làm người tham gia
6.2.1.2 Phỏng vấn (Interviews)
Phỏng vấn là kỹ thuật thu thập dữ liệu sơ cấp để tập trung dữ liệu chophương pháp nghiên cứu định tính Phỏng vấn thay đổi tùy vào số lượng ngườitham dự, số lượng buổi phỏng vấn trong nghiên cứu…
Một cuộc phỏng vấn có thể tiến hành với cá nhân hoặc nhóm Nhà nghiêncứu có thể lựa chọn phỏng vấn phi cấu trúc (unstructured interview – không đềcập đến một câu hỏi cụ thể hoặc không có trình tự cụ thể, mỗi buổi phỏng vấn sẽđược thiết kế riêng cho từng thành phần tham gia), phỏng vấn bán cấu trúc (semistructured interview – thông thường bắt đầu với một số câu hỏi cụ thể, sau đóquan sát để theo dõi suy nghĩ của đối tượng với sự thăm dò của người phỏngvấn) hoặc phỏng vấn có cấu trúc (structured interview – đặt câu hỏi theo thứ vàtheo một số cách nhất định, tuy nhiên câu hỏi thông thường là câu hỏi mở)
Phỏng vấn sâu cá nhân (Individual depth interview): Một cuộc phỏng
vấn sâu cá nhân là sự tương tác giữa một người phỏng vấn với một người thamgia Phỏng vấn sâu cá nhân thường diễn ra từ 20 phút (đối với phỏng vấn quađiện thoại) và tới 2 tiếng (đối với phỏng vấn theo quy trình, trực diện)
6.2.2 Nghiên cứu định lượng và quy trình tiến hành
Sau khi tìm hiểu và tiến hành chỉnh sửa phiếu khảo sát cho phù hợp vớithực trạng nghiên cứu ở Việt Nam từ ngay giai đoạn nghiên cứu định tính, nhómtác giả đã bắt đầu phát phiếu khảo sát để thu thập thông tin Nghiên cứu định tínhdựa trên việc điều tra phiếu khảo sát bằng những câu hỏi chi tiết trên các mẫu đãđược lựa chọn, thang đo được sử dụng là thang Likert 5 Nghiên cứu định lượng
là nguồn thu thập thông tin cho bài nghiên cứu, các dữ liệu thu thập được sẽ
Trang 20dùng để đánh giá thang đo, kiểm định mô hình, giả thuyết nghiên cứu mà nhómtác giả đã đưa ra, nghiên cứu những ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinhviên.
Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học KTQD, đối tượng thamgia là các bạn sinh viên thuộc hệ chính quy đang theo học tại trường Nhómnghiên cứu đã sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu, phân tích đáng giágiá trị, độ tin cậy của thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thiết để
từ đó đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu
Để đảm bảo độ tin cậy nhóm đã tiến hành khảo sát online bằng bảng hỏi
và thu được 209 câu trả lời Nhóm tác giả tiến hành kiểm soát mẫu trong suốtquá trình điều tra để đảm bảo độ tin cậy của mẫu
● Phương pháp chọn mẫu
Trong mẫu nghiên cứu này, mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện,phi xác suất, có kiểm soát để phân phối tỉ lệ sinh viên giữa các năm học và tỉ lệgiới tính nhằm tìm ra sự khác biệt giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tự họccủa các nhóm sinh viên này Khảo sát được thực hiện từ ngày 3/4/2021 đến ngày5/4/2021
● Xử lý số liệu
Dữ liệu sơ cấp sau khi được thu về được nhóm nghiên cứu tiến hành kiểmtra, phân loại và sắp xếp cho phù hợp với đề tài nghiên cứu
Dữ liệu sơ cấp được nhóm tiến hành xử lý như sau:
- Bước 1: Loại bỏ những phiếu không hợp lệ:
❑ Loại bỏ những phiếu chọn 1 đáp án từ đầu đến cuối
❑ Loại những phiếu không trả lời hết các câu hỏi
Trang 21- Bước 2: Sau khi tiến hành loại bỏ hết những phiếu không hợp lệ, tiếp đónhóm tác giả sẽ tiến hành mã hóa, nhập liệu, làm sạch số liệu và phân tích.
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
1.1 Mô hình nghiên cứu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ trong thời đại 4.0, xuhướng cải tiến hóa và tối ưu hóa hoạt động sản xuất hay phát triển, thúc đẩynhu cầu tự hoàn thiện bản thân, nâng cao tri thức của con người ngày càngcao Dưới sự hỗ trợ, phát triển của công nghệ và máy móc, hoạt động giáodục và cung cấp tri thức của con người được nâng cao Tự học là một kỹ năngkhông còn quá mới nhưng nó là kỹ năng quan trọng mà mỗi con người, đặcbiệt là sinh viên đều phải tự trang bị cho bản thân Do đó, tự học luôn luônthay đổi để phù hợp với từng giai đoạn
Hướng tới mục đích phát triển bản thân mỗi sinh viên và nâng cao chấtlượng giảng dạy và giáo dục, nhóm chúng tôi đề xuất mô hình nghiên cứu môhình của chúng tôi trong đề tài này với 5 biến độc lập: “Môi trường độc lập”,
“Phương pháp tự học”, “Thời gian dành cho vấn đề tự học”, “Kỹ năng phục
vụ cho tự học” và “Những khó khăn hạn chế của vấn đề tự học” Như vậy
“Tự học của SV ĐH KTD trong thời đại công nghệ 4.0” là biến phụ thuộc vàđược nhóm xem xét trên hai khía cạnh bao gồm: Quan điểm tự học và Hành
vi tự học của sinh viên
Cụ thể, mô hình nghiên cứu tổng quát thể hiện tương quan các yếu tốtrên như sau:
Hình III.1 Mô hình nghiên cứu
Trang 222 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Các bước cụ thể của bài nghiên cứu bao gồm:
● Bước 1: Nghiên cứu về tổng quan lý thuyết, xây dựng mô hình lý thuyết
và hệ thống các giả thuyết nghiên cứu
● Bước 2: Xây dựng bảng hỏi chi tiết và tiến hành thu thập dữ liệu Bảng
hỏi của bài nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm, với 1 điểm là
“hoàn toàn không đồng ý” và 5 điểm là “hoàn toàn đồng ý” Bảng hỏiđược thực hiện thông qua bảng hỏi trực tuyến
● Bước 3: Tiến hành chạy phần mềm SPSS 20 nhằm đo lường và đồng thời
kiểm định thang đo Từ đó đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo
(Reliability &Validity), các chỉ số Cronchbach’s Alpha, EFA.
3 MẪU NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng thể và mẫu trong bài nghiên cứu
Về tổng thể của đối tượng trong bài nghiên cứu là sinh viên tại ĐH KTQD
có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, hiện đang là sinh viên, công dân ở các ngành vàchuyên ngành khác nhau đang làm việc, học tập và nghiên cứu tại ĐH KTQD
Về kích thước của mẫu nghiên cứu, theo kết luận của các nghiên cứu đitrước, kỳ vọng về độ tin cậy sẽ quyết định đến kích thước mẫu được chọn saocho tối ưu nhất
Để đạt được kết quả sao cho phù hợp với nghiên cứu và chọn mẫu có tínhđại diện cho tổng thể, kích thước mẫu, chúng tôi xác định là 200 phần tử Do đó,
số lượng phần tử đã đạt và đảm bảo các yêu cầu để việc phân tích có độ tin cậytối ưu
Sau quá trình khảo sát và đăng tải bảng hỏi, nhóm đã thu về tổng số bảnghỏi 209 bảng Tuy nhiên, sau khi tổng kết và loại bỏ các kết quả không hợp lệ(không có đủ đáp án hoặc đáp án giống nhau…), chúng tôi sử dụng và phân tích
209 bảng hỏi (tương ứng 100%)
3.2 Thang đo
3.2.1 Xây dựng thang đo
Bài nghiên cứu của chúng tôi ứng dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 =
“hoàn toàn không đồng ý”, 2 = “không đồng ý”, 3 = “bình thường”, 4 = “đồngý”, 5 = “hoàn toàn đồng ý”
Trang 233.2.1.1 Thang đo biến phụ thuộc
Để đánh giá đúng về nhận thức và thực trạng vấn đề tự học của sinhviên trường ĐH KTQD trong thời đại công nghệ 4.0, nhóm chúng tôi chianhỏ và đánh giá theo 2 khía cạnh nhỏ hơn bao gồm: “Quan điểm vấn đề tựhọc” và “Hành vi tự học của sinh viên”
Bảng III.3.2 Hành vi tự học của sinh viên 3.2.1.2 Thang đo biến độc lập
Theo mục đích nghiên cứu ban đầu sau khi đã nghiên cứu tổng quan,chúng tôi đưa ra tất cả 5 biến phù hợp phù hợp đưa vào mô hình bao gồmgồm: “Môi trường tự học”, “Phương pháp tự học”, “Thời gian dành cho việc
tự học”, “Kỹ năng phục vụ cho tự học” và “Những hạn chế, khó khăn gặpphải khi tự học”
Cụ thể như sau:
● Biến “Môi trường tự học” (NIEMTIN): biến được đưa vào mô hìnhvới vai trò là biến độc lập, được khảo sát thông qua các biến quan sátnhư trong bảng dưới đây:
Mã Môi trường tự học
MTTH1 Thư viện
MTTH2 Quán coffee
MTTH3 Học ở trường (Phòng tự học, Lớp học)
Trang 24học ở nhà PPTH3 Việc tự học khi có sự hỗ trợ từ công nghệ thì dễ dàng hơn
so với việc tự học truyền thống từ sách vở PPTH4 Cần lập kế hoạch, lên mục tiêu cho việc tự học
Trang 254 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
4.1 Mục tiêu nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sơ bộ trong giai đoạn đầu (trước khi nghiên cứu định lượng):Tìm hiểu sơ bộ và chỉnh sửa các thang đo về các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tựhọc của sinh viên Từ đó, sẽ giúp nhóm nghiên cứu xác định được các yếu tố phùhợp hơn với bối cảnh của sinh viên hiện nay, bước đầu thành lập câu hỏi và bảnghỏi để chuẩn bị tiến hành tìm hiểu sơ bộ được những thực trạng và quan điểmcủa sinh viên về vấn đề tự học
Phỏng vấn sâu trong giai đoạn sau (sau khi nghiên cứu định lượng):Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu định tính bổ sung để tìm thêm các câutrả lời và các giải thích nhằm hiểu rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng