1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BC so ket 5 nam NQ NN, nông dân

10 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 110 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại các ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng phát huy các lợi thể so sánh - Xây dựng mới, rà soát và triển khai thực hiệ

Trang 1

UBND TỈNH THANH HÓA

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

Số: 86/BC-SNN&PTNT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thanh Hoá, ngày 10 tháng 6 năm 2013

BÁO CÁO

Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Căn cứ Công văn số 530-CV/BDVTU ngày 23/5/2013 của Ban Dân vận

tỉnh Thanh Hóa về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW (khóa X)

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Sở Nông nghiệp và PTNT báo cáo nội dung sau:

Phần thứ nhất TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

1 Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại các ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng phát huy các lợi thể so sánh

- Xây dựng mới, rà soát và triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp; các quy hoạch phát triển các cây trồng chủ lực: vùng lúa chất lượng cao, cao su, vùng cói, vùng sản xuất rau an toàn tập trung, các vùng nguyên liệu mía; quy hoạch các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm; quy hoạch bảo

vệ và phát triển rừng, quy hoạch vùng thâm canh luồng tập trung; quy hoạch phát triển chế biến thủy sản theo hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước hình thành các vùng chuyên canh tập trung, công nghệ cao, gắn với khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng

- Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với khai thác tiềm năng của từng vùng Giá trị gia tăng ngành nông, lâm, thủy sản năm 2012 đạt 4.434 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 2,9%/năm, dự kiến năm 2013 đạt 4.608 tỷ đồng, tăng 3,9%

so với năm 2012 Tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GDP toàn tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm từ 24,5% năm 2008 xuống 17,6% năm

2010 và dự kiến giảm xuống 16,5% vào năm 2013

Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản năm 2012 đạt 7.549 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 3,4%, dự kiến năm 2013 ước đạt 7.869 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2012 Trong nội bộ ngành cũng có sự chuyển dịch theo hướng khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của tỉnh, nâng cao hiệu quả và gắn với nhu cầu thị trường, giá trị trên một đơn vị diện tích tăng lên;

tỷ trọng các ngành lâm nghiệp, thuỷ sản trong giá trị sản xuất toàn ngành ngày một tăng, tỷ trọng lâm nghiệp tăng từ 6,8% năm 2008 lên 8,5% năm 2012 và dự kiến tăng lên 9% vào năm 2013; tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 12,9% năm 2008, lên 14,6% năm 2012 và dự kiến tăng lên 15% vào năm 2013 Tỷ trọng ngành chăn nuôi, tỷ lệ diện tích gieo trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao tăng; nuôi

Trang 2

trồng thuỷ sản chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản lượng và giá trị sản xuất thuỷ sản; lâm nghiệp phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, chuyển từ khai thác là chủ yếu sang trồng mới, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng

1.1 Kết quả phát triển trồng trọt:

Giá trị sản xuất trồng trọt năm 2012 (theo giá so sánh 1994) đạt 4.190 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 2,1%, dự kiến năm

2013 ước đạt 4.220 tỷ đồng, tăng 0,9% so với năm 2012 Sản xuất trồng trọt đạt kết quả khá toàn diện; sản lượng lương thực hàng năm đạt trên 1,6 triệu tấn; năng suất hầu hết các loại cây trồng tăng Trong sản xuất lúa: Cơ cấu mùa vụ chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh diện tích trà xuân muộn 80%, mùa sớm 85%;

cơ cấu giống tiếp tục có chuyển biến tích cực theo hướng tập trung các giống lúa

có năng suất cao, chất lượng tốt; duy trì trên 60% diện tích vụ xuân và 40% diện tích vụ mùa được gieo cấy bằng các giống lúa lai năng suất cao; tăng nhanh diện tích gieo cấy các giống lúa chất lượng Diện tích các vùng mía, sắn nguyên liệu được duy trì ổn định; cây cao su được quan tâm phát triển

1.2 Kết quả phát triển chăn nuôi:

Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2012 (theo giá so sánh 1994) đạt 1.420 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 2,3%/năm, dự kiến năm 2013 đạt 1.519 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2012; tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp chuyển dịch từ 24,5% năm 2008 lên 25,4% năm 2013 Chăn nuôi theo mô hình trang trại, phát triển cả ở đồng bằng

và trung du miền núi, sản lượng thịt hơi liên tục tăng; chất lượng đàn gia súc, gia cầm có chuyển biến, tỷ trọng đàn bò lai tăng, đàn lợn nạc tăng

1.3 Kết quả phát triển thủy sản:

Sản xuất thuỷ sản phát triển cả khai thác, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần nghề cá Giá trị sản xuất thủy sản năm 2012 (theo giá so sánh 1994) đạt 1.098 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 6,6%/năm, dự kiến năm 2013 đạt 1.180 tỷ đồng, tăng 7,4% so với năm 2012; giá trị xuất khẩu năm

2013 ước đạt 62 triệu USD, tăng 23,3 triệu USD so với năm 2008 Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2012 đạt 116.229 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 6,1%/năm, dự kiến năm 2013 đạt 122.200 tấn, tăng 5,1% so với năm 2012

Khai thác thủy sản có bước phát triển khá, sản lượng tăng từ 65.825 tấn năm 2008 lên 80.138 năm 2012, dự kiến năm 2013 đạt 82.000 tấn Năng lực đánh bắt được nâng cao, các tàu cá khai thác xa bờ được tăng cường cả về số lượng và thiết bị kỹ thuật; nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn trong khai thác Đến ngày 30/4/2013 tỉnh có 7.867 tàu tăng tàu so với năm 2008, tổng công suất 356.450CV, bình quân 48,8CV/tàu, tăng 70% so với năm 2008, trong đó: tàu

cá khai thác xa bờ 1.016 chiếc, chiếm 12,9% và tăng 55% so với năm 2008

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2013 ước đạt 18.050 ha (nước mặn, lợ 7.700 ha, nước ngọt 10.350 ha), tăng 320 ha so với năm 2008; sản lượng tăng từ 25.874 tấn năm 2008 lên 36.091 năm 2012, dự kiến năm 2013 đạt 40.200 tấn Các

Trang 3

đối tượng nuôi chủ lực: nước ngọt chủ yếu là cá truyền thống trôi, mè, trắm, chép; nước lợ là tôm sú, tôm chân trắng và cua xanh; nước mặn nuôi ngao, cá biển

1.4 Kết quả bảo vệ, phát triển rừng:

Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2012 đạt 639 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2012 đạt 9%/năm, dự kiến năm 2013 đạt 710 tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm 2012 Đến năm 2013, tổng diện tích có đất có rừng là 557.355 ha, diện tích rừng trồng tăng 47.571 ha so với năm 2008; tỷ lệ che phủ tăng từ 46,1% năm 2008 lên 50,5% năm 2012 và kế hoạch năm 2013 đạt 51%

Ngành lâm nghiệp đã chuyển biến mạnh mẽ từ khai thác chủ yếu sang trồng mới, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng Công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR được các ngành, các cấp phối hợp chỉ đạo có hiệu quả; công tác quản lý khai thác lâm sản tiếp tục được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, hạn chế dần nạn khai thác rừng trái phép; tình hình an ninh rừng trên địa bàn toàn tỉnh tiếp tục ổn định theo hướng bền vững Công tác bảo tồn thiên nhiên tiếp tục phát triển vững chắc

2 Kết quả đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp

- Về đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật: Đang đầu tư xây dựng nâng cấp 3 trung tâm: Trung tâm NCƯD KHKT giống cây trồng nông nghiệp, Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng KHCN lâm nghiệp, Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản; với tổng mức đầu tư khoảng

204 tỷ đồng

- Về thủy lợi: Từ năm 2008 đến nay, đã đầu tư xây dựng được 143 công trình, trong đó: 49 hồ chứa; 53 trạm bơm, 41 cống; 09 dự án, công trình phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Hàng năm tổ chức ra quân nạo vét kênh tưới mùa khô và nạo vét kênh tiêu khơi thông dòng chảy mùa mưa lũ với khối lượng nạo vét hàng năm từ 5-7 triệu m3 Kiên cố hóa

412 km kênh mương; trong đó: kênh nội đồng 123,61 km, kênh liên xã 288,4

km Diện tích tưới tăng thêm sau khi các công trình được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, kiên cố hóa trong thời gian qua là 4.250 ha

- Về đê điều: Trong 5 năm (2009-2013), đã triển khai thi công hoàn thành

và đưa vào sử dụng hơn 82 km đê sông, 32 km kè lát mái và 40,7 km đê, kè biển; với tổng số vốn được đầu tư là 1.427,1 tỷ đồng, trong đó: vốn ngân sách nhà nước 946,3 tỷ đồng, vốn Trái phiếu chính phủ 480,8 tỷ đồng

- Đầu tư xây dựng hạ tầng và dịch vụ nghề cá:

+ Cảng cá, bến cá: Đã đầu tư xây dựng bến cá Quảng Nham, huyện Quảng Xương, bến cá Lạch Trường, huyện Hoằng Hóa, cảng cá Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, cảng cá Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia Chuẩn bị đầu tư bến cá Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hóa và bến cá Hải Châu, huyện Tĩnh Gia thuộc dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững vay vốn WB

+ Khu neo đậu tránh, trú bão cho tàu cá: Đã đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng Khu neo đậu tránh, trú bão Lạch Hới, thị xã Sầm Sơn có quy mô đáp ứng

Trang 4

cho khoảng 700 tàu cá có công suất đến 600CV neo đậu, tránh trú bão, Khu neo đậu tránh, trú bão Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia có quy mô cho khoảng 700 tàu cá

có công suất đến 700CV neo đậu, tránh trú bão và đang thi công Khu neo đậu tránh trú bão Lạch Trường, huyện Hậu Lộc

+ Hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản: Đã đầu tư xây dựng 4 vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ (xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương; xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia; xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa) có quy

mô 250 ha; 4 vùng NTTS nước ngọt kết hợp trồng trọt, chăn nuôi (vùng Tế Lợi,

Tế Thắng, Minh Nghĩa, huyện Nông Cống; vùng Hòn Éo, huyện Yên Định; vùng Đồng Vước, huyện Thiệu Hóa; vùng ven Sông Lý, huyện Quảng Xương)

có quy mô 600 ha Chuẩn bị đầu tư dự án nâng cấp 5 dự án nuôi tôm công nghiệp chuyển sang nuôi tôm chân trắng; đầu tư 7 khu NTTS (Nga Tân, Nga Thủy, Xuân Lộc, Hoằng Châu, Quảng Chính, Quảng Khê)

3 Kết quả đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới

Đến tháng 6/2013, bình quân toàn tỉnh đạt 7,79 tiêu chí, tăng thêm 2,99 tiêu chí so với năm 2010; trong đó có 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 160 xã đạt

từ 11-17 tiêu chí, chiếm 27,9%; 327 xã đạt từ 5-10 tiêu chí, chiếm 57,1%; 83 xã đạt dưới 5 tiêu chí, chiếm 14,5% Các tiêu chí cụ thể như sau:

- Hạ tầng kinh tế - xã hội: Đầu tư nâng cấp và xây dựng mới được 3.482

km đường giao thông các loại, trong đó: 787 km đường trục xã, liên xã, 2.009

km đường thôn, xóm, 686 km đường giao thông nội đồng; nạo vét, cải tạo và xây mới 1.010 km kênh mương nội đồng, nâng tổng số km kênh mương của xã được kiên cố hóa 5.401 km (đạt 76,2%); 385 xã có hệ thống điện đạt chuẩn, tỷ lệ

hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn là 67,2%; xây mới, cải tạo nâng cấp 2.609 phòng học các cấp nâng tổng số trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia là

860 trường (đạt 47%); 31 xã có nhà văn hóa, khu thể thao đạt chuẩn, 273 thôn

có nhà văn hóa, khu thể thao đạt chuẩn; 254 chợ nông thôn theo quy hoạch đạt chuẩn (đạt 44%); 506 xã đạt chuẩn về điểm bưu chính, viễn thông (đạt 88,3%); 78% số nhà được cải tạo nâng cấp, làm mới đạt chuẩn

- Kinh tế và tổ chức sản xuất: 95 xã đạt chuẩn nông thôn mới về thu nhập đạt 16,6%; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 15%; tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 48%, tỷ lệ lao động nông thôn thường xuyên có việc làm chiếm 93%; có 22.932 tổ hợp tác và 540 hợp tác xã đang hoạt động, tỷ lệ hợp tác xã hoạt động đạt hiệu quả là 67,8%;

- Văn hóa, xã hội, môi trường: 1.295 lao động được đào tạo nghề nông nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 45%; tỷ lệ học sinh nhập học trong độ tuổi

là 90,5%; 100% số xã hoàn thành phổ cập THCS; 47 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (đạt 8,2%); 2.415 số làng, thôn, bản văn hoá đạt chuẩn (đạt 43,5%);

217 xã có Trung tâm - Văn hoá thể thao đạt chuẩn (đạt 37,8%); 1.935 thôn có Nhà văn hoá - Khu thể thao đạt chuẩn (đạt 34,9%); cải tạo, nâng cấp được 57 trạm y tế xã; 381 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (đạt 66,5%); tỷ lệ người dân

Trang 5

tham gia BHYT là 71%; 43 xã đạt chuẩn NTM về môi trường và tổ chức thu gom, xử lý rác (đạt 7,5%)

- Hệ thống chính trị: Có 11.625 cán bộ xã đạt chuẩn (đạt 85,9%); 460 xã đạt chuẩn NTM về hệ thống chính trị vững mạnh (đạt 80,3%); 504 xã đạt chuẩn NTM về an ninh trật tự xã hội (đạt 88%)

4 Về đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn

a) Trang trại:

Thực hiện rà soát các tiêu chí trang trại theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011, tính đến ngày 31/12/2012, toàn tỉnh có 530 trang trại; trong đó: 50 trang trại trồng trọt (chiếm 9,4%), 324 trang trại chăn nuôi (chiếm 61%), 130 trang trại thủy sản chiếm 24,5%; 9 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,7%), 17 trang trại tổng hợp (chiếm 3,2%); diện tích các trang trại quản

lý, sử dụng là 2.943 ha; sử dụng 5.036 lao động bình quân 1 trang trại sử dụng 9,5 lao động, trong đó: 2.093 lao động thường xuyên; giá trị thu từ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 969,4 tỷ đồng; giá trị sản phẩm và dịch vụ nông lâm thủy sản bán ra 952,8 tỷ đồng

b) Hợp tác xã:

Đến 31/12/2012, toàn tỉnh có 522 HTX nông nghiệp, tăng 26 trang trại so với năm 2008; có 251.519 xã viên tham gia (20.880 xã viên lao động thường xuyên); doanh thu bình quân/HTX là 600 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân/HTX là 50 triệu đồng/năm Các khâu dịch vụ HTX nông nghiệp cung cấp cho các hộ đều kịp thời, có chất lượng, giá cả hợp lý, đã trực tiếp giúp đỡ tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, tạo được năng lực sản xuất kinh doanh, kinh tế HTX đã tạo ra một khối lượng hàng hoá, dịch vụ đa dạng, phong phú, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu ở từng địa phương, cơ sở

c) Tổ hợp tác:

Toàn tỉnh có 22.932 tổ hợp tác hoạt động lĩnh vực nông nghiệp Hoạt động của các THT đã góp phần hỗ trợ và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các hộ thành viên, tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận lao động, giúp kinh tế hộ khắc phục một số hạn chế, yếu kém về vốn, công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực về đất đai, nguyên liệu, vốn, lao động tại địa phương, góp phần mở mang ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo

5 Kết quả nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ

- Lĩnh vực trồng trọt: Diện tích sản xuất hạt giống lúa lai F1 hàng năm gần

800 ha, lớn nhất cả nước, đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu trong tỉnh Trung tâm NCƯD KHKT giống nông nghiệp lai tạo thành công và được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức giống lúa lai 2 dòng Thanh ưu 3 và công

Trang 6

nhận sản xuất thử giống lúa lai 2 dòng Thanh ưu 4; chọn tạo xác định được 8 cặp lai triển vọng; đã chọn tạo được nhiều giống lúa thuần có triển vọng Đã ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô để để nhân giống hoa đồng tiền, hoa lan; sản xuất giống mía sạch bệnh; giống bưởi Luận Văn sạch bệnh Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn đã ứng dụng thành công công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho mía (theo công nghệ Israel) trên diện tích 650 ha, năng suất đạt từ 130-150 tấn/ha cao gấp 2,5 lần so với bình quân chung cả tỉnh

- Lĩnh vực chăn nuôi: Xây dựng thành công các mô hình trang trại chăn nuôi tập trung với quy mô lớn, ứng dụng công nghệ tiến tiến đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Dự án cải tạo và nâng cao chất lượng giống bò thịt, đã phối giống có chửa hàng năm từ 30.000 - 40.000 bò cái nền

- Lĩnh vực lâm nghiệp: Trung bình hàng năm sản xuất được gần 1 triệu cây mô, hom và gần 7 triệu cây giống từ hạt Đã triển khai thực hiện đề tài Bảo tồn nguồn zen Sến mật tại rừng Sến Tam Quy-Hà Trung; Đề tài Nghiên cứu diễn thế Lim - Sến dưới rừng Sến hỗn giao Sến - Lim tại Tam Quy - Hà Trung; Đề tài Nghiên cứu đặc tính sinh thái, sinh lý, quy luật phát sinh, phát triển của sâu róm

4 túm lông

- Lĩnh vực thuỷ sản: Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống thuỷ sản đã tiếp nhận công nghệ sản xuất thành công giống và nuôi thương phẩm Cua Xanh góp phần hình thành và phát triển nghề nuôi Cua Xanh tại Thanh Hóa; đã nghiên cứu thành công quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống Ngao Bến Tre trong điều kiện ao; đã triển khai thực hiện một số đề tài khoa học: Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm cá Hồi Vân tại xã Phú Lệ, Quan Hoá; nghiên cứu công nghệ sản xuất nhân tạo giống ngao Bến Tre trong ao đất

Phần thứ hai MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN

NGHỊ QUYẾT ĐẾN NĂM 2015

I MỤC TIÊU CHỦ YẾU

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản bình quân hàng năm giai đoạn 2013-2015 đạt 5,3% trong đó: nông nghiệp 3,9%, lâm nghiệp 9,3%, thủy sản 10%

- Giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GDP toàn tỉnh xuống 14,4%

- Tỷ lệ giá trị sản phẩm ứng dụng công nghệ cao chiếm 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 52%

- Hoàn thành tiêu chí nông thôn mới cho 117 xã (tương ứng với 20% tổng

số xã) đạt tiêu chí nông thôn mới

II NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Trang 7

1 Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước đột phá trong phát triển một

số cây trồng, vật nuôi nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp gắn với đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn

Tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản gắn với nhu cầu thị trường và phát huy lợi thế của từng vùng; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đổi điền, dồn thửa, tập trung ruộng đất xây dựng cánh đồng mẫu lớn, tạo điều kiện đưa cơ giới hóa, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích; đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thú y, bảo vệ thực vật; xây dựng một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao để rút kinh nghiệm và nhân rộng, từng bước hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao

và vùng nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là gia súc, gia cầm và thuỷ sản

Chuyển diện tích trồng cây lương thực năng suất thấp sang gieo trồng các loại cây con khác; mở rộng diện tích trồng cao su theo quy hoạch; hình thành các vùng chuyên canh lạc, cói, đậu tương, hoa, cây cảnh, rau quả gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ

Phát triển mạnh chăn nuôi, chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ và một số con đặc sản ở khu vực trung du, miền núi; cùng với việc tiếp tục thực hiện chương trình sind hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn, nghiên cứu nhập ngoại một

số giống bò phù hợp với điều kiện của tỉnh để phát triển đàn bò thịt chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Đẩy mạnh phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi; chấn chỉnh hoạt động giết mổ theo hướng tập trung, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường

Tiếp tục thực hiện rà soát quy hoạch 3 loại rừng, bảo đảm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường, mở rộng rừng sản xuất; chuyển diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, xây dựng các vùng nguyên liệu luồng, gỗ gắn với công nghiệp chế biến; đẩy mạnh thực hiện các biện pháp thâm canh rừng, nhân rộng các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp có hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng

Quy hoạch mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước lợ, nước ngọt

và nước mặn; kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống và thức ăn thuỷ sản Kết hợp hài hòa giữa đầu tư tăng năng lực đánh bắt xa bờ với tổ chức khai thác hợp lý các khu vực gần bờ nhằm nâng cao sản lượng khai thác

Đẩy mạnh đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn, nhất là các

hộ gia đình bị thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và các cơ

sở phi nông nghiệp; quan tâm phổ biến, hướng dẫn kiến thức tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, khắc phục nếp nghĩ, cách làm của người nông dân sản xuất nhỏ, hướng tư duy của kinh tế hộ vào sản xuất hàng hóa lớn

2 Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân

Trang 8

Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động cũng như vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tổ chức tuyên truyền thường xuyên, đa dạng về hình thức, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội; nội dung tuyên truyền phải phong phú, cập nhật những chủ trương, chính sách mới của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; những điển hình tiên tiến, những gương người tốt, việc tốt trong phong trào xây dựng NTM để phổ biến, vận động nhân dân tự giác tham gia xây dựng NTM, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động về vai trò, vị trí của Chương trình xây dựng NTM

3 Tổ chức thực hiện tốt cơ chế, chính sách của Trung ương, đồng thời rà soát, bổ sung, điều chỉnh các cơ chế, chính sách của tỉnh để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân

Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất lúa; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản; khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa; chính sách

hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại

do thiên tai, dịch bệnh; theo các quyết định, nghị định của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành

Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đã được UBND tỉnh ban hành

4 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn

Các cấp uỷ Đảng tăng cường tổng kết thực tiễn, xác định cụ thể nội dung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; lấy kết quả lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và chăm lo đời sống cho nhân dân làm thước đo mức độ hoàn thành nhiệm vụ

Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân và các tổ chức chính trị - xã hội nâng cao vai trò, trách nhiệm của mình, tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát thực hiện luật pháp, các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nhà nước của tỉnh và từng địa phương

III ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

1 Đối với tỉnh

Trang 9

- Bố trí đủ kinh phí để hoàn thành xây dựng Chương trình xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng hiệu quả cao Trong năm 2013, Tỉnh chưa

hỗ trợ cho các địa phương nên chưa tổ chức thực hiện được; vì vậy, đề nghị UBND tỉnh cho kéo dài thời gian thực hiện Chương trình đến năm 2015

- Đề nghị UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông, điện lưới quốc gia đến các xã còn gặp nhiều khó khăn về xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ, triển khai hạ tầng thông tin và truyền thông

- Sửa đổi, ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, chính sách đặc thù cho cán

bộ khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa; chính sách thu hút, ưu đãi với bác sỹ công tác tại trạm y tế xã

2 Đối với Trung ương

- Đề nghị Trung ương tăng mức hỗ trợ hàng năm của các chương trình, dự

án xóa đói giảm nghèo, nhất là hỗ trợ sản xuất và đầu tư kết cấu hạ tầng của Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ

- Tỉnh Thanh Hóa có số xã đăng ký xây dựng nông thôn mới là rất lớn (573 xã); tuy nhiên, nguồn vốn Trung ương hỗ trợ hàng năm cho tỉnh còn thấp

Đề nghị Trung ương tăng mức hỗ trợ hàng năm theo đầu xã của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để hỗ trợ các xã triển khai thực hiện; đồng thời có cơ chế lồng ghép vốn từ các chương trình, dự án đang triển khai trên địa bàn để tập trung cho Chương trình xây dựng NTM hoàn thành mục tiêu

kế hoạch đã đề ra

- Đề nghị Trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; sửa đổi Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; sửa đổi Thông tư số 54/2009/TT-BNN&PTNT ngày 21/8/2009 về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về NTM

- Xã Mường Chanh, huyện Mường Lát được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo xây dựng thành xã điểm thoát nghèo gắn với xây dựng nông thôn mới vào năm 2015; ngày 02/3/2012, tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Đề án xây dựng xã Mường Chanh thành xã điểm thoát nghèo tại Quyết định số 573/QĐ-UBND, với tổng kinh phí là 243 tỷ đồng Để có kinh phí thực hiện đề án, đề nghị Trung hỗ trợ cho tỉnh 218 tỷ đồng giai đoạn 2013-2015; trước mắt, đề nghị hỗ trợ

100 tỷ đồng trong năm 2013 để hỗ trợ phát triển sản xuất và đầu tư xây dựng hệ thống công trình thủy lợi và hệ thống đường giao thông xã Mường Chanh

- Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ ngành Trung ương sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định về chính sách khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; thay thế cho Nghị định số

Trang 10

61/2010/ND-CP ngày 4/6/2010, sửa đổi Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Để giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, đề nghị các Bộ, ngành Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ sớm ban hành quyết định kéo dài thời gian thực hiện và tăng mức vốn hỗ trợ để thực hiện Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn đến hết năm 2015 (Chương trình 134 kéo dài)

- Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và PTNT sớm báo cáo, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ nguồn vốn hỗ trợ thực hiện dự án đầu tư nâng cấp tuyến đê tả, hữu sông Chu như kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với tỉnh Thanh Hóa (Thông báo số 55/TB-VPCP ngày 04/02/2013 của Văn phòng Chính phủ)

- Đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT tiếp tục đề xuất, kiến nghị với Trung ương tiếp tục ban hành chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới, thay máy có công suất từ 90CV trở để vươn khơi bám biển và bảo vệ vùng biển, đảo Việt Nam./

Nơi nhận:

- Như trên;

- Lưu: VT, KHTC, ndt.

KT GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC

Mai Bá Luyến(đã ký)

Ngày đăng: 16/11/2021, 15:08

w