Một người có nhân cách trong sáng, cao đẹp; - Khuyên quản ngục giữ gìn thiên lương, tránh nơi u tối.. Cái tâm cao khiết, đáng cảm phục...[r]
Trang 1Phụng-Giáo viên: Phan Thu Hường
Phố Hàng Bạc - Hà Nội xưa.
Trang 2Vũ Trong Phụng ( 1912- 1939)
a Cuộc đời:
- Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939)
- Sinh ra tại Hà Nội trong một gia
đình " nghèo gia truyền"
=> Hiểu rõ bản chất xã hội, căm
giận nó và gửi vào trang viết Phố Hàng Bạc - Hà Nội xưa.
- Sống chật vật, bấp bênh bằng
nghề viết báo, viết văn chuyên
Trang 3b Sự nghiệp
* 37 tác phẩm truyện ngắn.
• 9 tập tiểu thuyết.
* 9 tập phóng sự.
* 7 vở kịch.
* 1 bản dịch thuật, một số bài
viết phê bình, tranh luận văn
học và hàng trăm bài báo về
chính trị, xã hội, văn hóa.
=> Bút lực dồi dào, có tài năng
và nghị lực.
Trang 4c Tác phẩm chính:
Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936);
+ Phóng sự:
+ Tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê (1936),
Lấy nhau vì tình (1937),
=> Không chỉ là nhà tiểu thuyết nổi tiếng, Vũ Trọng Phụng còn được mệnh danh là "ông vua phóng sự đất Bắc".
=> Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO:
"
Đối với vũ trụ vô cùng, vô tận, hai mươi tám tuổi với tám chín mươi tuổi không thể kể là ít với nhiều Vì vậy, Trang Tử mới bảo Bành Tổ là yểu mà đứa con chết đẹn là thọ Thọ hay yểu, không quan hệ ở cái sống nhiều, sống ít, nó quan hệ ở chỗ có gì để cho đời sau hay không Xã hội chỉ thiếu những người làm nên công nghiệp, không thiếu những ông ăn nước thịt ép và uống sữa người Ngoảnh lại mà xem, những ông bú sữa người mà ăn nước ép thịt ngày xưa, đến nay còn có gì là di tích Ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn với mai sau Thế cũng là thọ"
(Ngô Tất Tố, Gia thế ông Vũ Trọng Phụng, trong Vũ Trọng Phụng - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000)
"
Đối với vũ trụ vô cùng, vô tận, hai mươi tám tuổi với tám chín mươi tuổi không thể kể là ít với nhiều Vì vậy, Trang Tử mới bảo Bành Tổ là yểu mà đứa con chết đẹn là thọ Thọ hay yểu, không quan hệ ở cái sống nhiều, sống ít, nó quan hệ ở chỗ có gì để cho đời sau hay không Xã hội chỉ thiếu những người làm nên công nghiệp, không thiếu những ông ăn nước thịt ép và uống sữa người Ngoảnh lại mà xem, những ông bú sữa người mà ăn nước ép thịt ngày xưa, đến nay còn có gì là di tích Ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn với mai sau Thế cũng là thọ"
(Ngô Tất Tố, Gia thế ông Vũ Trọng Phụng, trong Vũ Trọng Phụng - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000)
Trang 62 Tiểu thuyết "Số đỏ"
a Hoàn cảnh sáng tác:
"Số đỏ" được viết năm 1936 -> năm đầu của
chế độ Dân chủ Đông Dương, không khí đấu
tranh dân chủ sôi nổi Chế độ kiểm duyệt
sách báo khắt khe của chính quyền thực dân
tạm thời bãi bỏ -> đã tạo điều kiện cho nhà
văn công khai mạnh mẽ vạch trần thực chất
thối nát, giả dối, bịp bợm của các phong trào
Âu hóa, Thể thao, Vui vẻ trẻ trung, được
bọn thống trị khuyến khích và lợi dụng, từng
lên cơn sốt vào những năm 30 của thế kỉ XX.
- "Số đỏ" được viết năm 1936
b Tóm tắt tác phẩm:
Trang 7Xuân Tóc đỏ
Hạ lưu vỉa hè
Cố Hồng Cố Tổ
Giáo sư tennis Nhà cải cách XH
Trang 82 Tiểu thuyết "Số đỏ"
a Hoàn cảnh sáng tác:
b Tóm tắt tác phẩm:
- Gía trị nội dung: " nhà văn đả kích sâu
cay cái xã hội tư sản thành thị đang chạy
theo lối sống nhố nhăng đồi bại đương thời"
(Nguyễn Hoành Khung)
- Gía trị nghệ thuật: Với nghệ thuật trào
phúng bậc thầy, Số đỏ có thể " làm vinh
dự cho mọi nền văn học" (Nguyễn Khải).
Nghệ thuật trào phúng là tóm lấy trong đời sống hiện thực một mâu thuẫn gây cười và có ý nghĩa phê phán xã hội, rồi phóng đại, tô đậm nó lên trước mắt độc giả để gây ra tiếng cười.
Nghệ thuật trào phúng là tóm lấy trong đời sống hiện thực một mâu thuẫn gây cười và có ý nghĩa phê phán xã hội, rồi phóng đại, tô đậm nó lên trước mắt độc giả để gây ra tiếng cười.
Nghệ thuật trào phúng là gì?
Trang 9II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Vị trí đoạn trích:
- Thuộc chương XV của tác phẩm.
2 Ý nghĩa nhan đề: " Hạnh phúc của một tang gia"
-Nhan đề lạ, giật gân-> vừa kích thích trí tò mò của độc giả, vừa phản ánh một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng hạnh phúc khi cụ cố tổ chết=> Đây là hạnh phúc của gia đình vô phúc, con cháu đại bất hiếu
3 Niềm vui hạnh phúc khi cụ Cố Tổ chết:
Trang 10II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
3 Niềm vui hạnh phúc khi cụ Cố Tổ
chết:
a Con cháu cụ Cố Tổ
*Niềm vui chung:
- Tờ di chúc của cụ cố tổ đã đến
lúc được thực hiện -> gia tài kếch
xù của cụ sẽ được chia cho con
cháu.
Trang 11Tiết 45,46
Văn bản:
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG
GIA (Vũ Trọng Phụng)
3 Niềm vui hạnh phúc khi cụ Cố Tổ
chết:
a Con cháu cụ Cố Tổ
- Cụ cố Hồng:
Tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay vẫn mơ ước
được gọi là cụ cố.
+ Cụ cố Hồng nhắm nghiền mắt lại để mơ
màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ
chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để
cho thiên hạ phải chỉ chỏ: “Úi kìa, con giai
nhớn đã già đến thế kia kìa!”
+ Thằng bồi tiêm đã đếm được đúng 1872
câu gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”
*Niềm vui riêng:
- Tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay vẫn mơ
ước được gọi là cụ cố
-Hay nói “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng
chẳng biết gì.
-> loại người ngu dốt háo danh
Trang 12Tiết 45,46
Văn bản:
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG
GIA (Vũ Trọng Phụng)
3 Niềm vui hạnh phúc khi cụ Cố Tổ
chết:
a Con cháu cụ Cố Tổ
*Niềm vui riêng
- Vợ chồng Văn Minh:
Được dịp lăng xê những mốt y phục
táo bạo nhất:
“Bà Văn Minh sốt ruột vì mãi không
được mặc những đồ xô gai tân thời, cái
mũ mấn viền đen…có thể ban cho
những ai đó có tang đương đau đớn vì
kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh
phúc ở đời.” -> cơ hội để biểu diễn thời
trang, quảng cáo, bán hàng kiếm tiền
Được dịp lăng xê, trình diễn những mốt
y phục táo bạo nhất dành cho người có
tang -> cơ hội quảng cáo bán hàng kiếm
tiền
Trang 13Tiết 45,46
Văn bản:
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG
GIA (Vũ Trọng Phụng)
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
3 Niềm vui hạnh phúc khi cụ Cố Tổ
chết:
a Con cháu cụ Cố Tổ
*Niềm vui riêng
- Ông phán mọc sừng:
Hả hê vui sướng vì không ngờ cái sừng trên
đầu mình lại có giá trị như thế.
Trang 16-Vang bóng một thời (1940)
-Một chuyến đi (1938)
-Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
Trang 17NGUYỄN TUÂN
-CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
- Xuất bản: xuất bản năm 1940
- Dung lượng: 11 truyện ngắn
- Đề tài: một thời đã qua nay chỉ còn vang
bóng
- Chủ đề: viết về những thú vui tao nhã
phong lưu đậm chất nghệ thuật (uống trà
trong sương, đanh bạc bằng thơ, thả thơ,
thưởng hoa…)
- Hình tượng nghệ thuật chính: Các nhà Nho
lỡ vận nhưng vẫn giữ vững khí tiết với đạo
sống của người quân tử; Những người có tài
năng phi thường.
Tập truyện là kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước Cách mạng
Trang 182 Truyện ngắn “Chữ người tử tù”
a Xuất xứ: in trong tập “Vang bóng một thời”
b Nhan đề:
+ Lúc đầu: Dòng chữ cuối cùng (1938)
+ Sau đó: “Chữ người tử tù”.
c Nhân vật chính: Huấn Cao - nguyên mẫu Cao
Bá Quát - nhà Nho yêu nước, có nghĩa khí, nhân
cách cứng cỏi
=> Là truyện ngắn xuất sắc nhất, tiêu biểu nhất
của tập truyện, được đánh giá là “Một văn
phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ
Ngọc Phan)
Trang 19Quản ngục là người phục vụ cho triều đình phong kiến, vốn say mê chữ đẹp, từng ao ước có được chữ của ông Huấn.
Viên quản ngục đã biệt đãi với Huấn Cao với tấm lòng đầy ngưỡng mộ nhưng thái độ lạnh nhạt, khinh bạc của Huấn Cao làm cho quản ngục rất khổ tâm, ao ước được chữ của Huấn Cao treo trong nhà ngày càng cháy bỏng.
Vào một buổi chiều lạnh, hiểu được nỗi lòng và sở nguyện của quản ngục, Huấn Cao đồng ý cho chữ vào đêm hôm ấy và khuyên ngục quan bỏ nghề, về quê để giữ lấy thiên lương cho lành vững, tránh xa chốn nhơ nhuốc, bẩn thỉu.
Trang 20II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Tình huống truyện:
Diễn ra nơi tù ngục, trước ngày Huấn Cao ra pháp trường.
Nơi cả quản ngục và Huấn Cao phải thể hiện đúng vị thế của mình; Không phải là nơi sản sinh và lưu giữ cái đẹp.
Yêu thích cái đẹp, mong muốn có
được chữ của Huấn Cao; là người lưu giữ cái Đẹp.
Có tài viết chữ đẹp, là người sáng tạo cái Đẹp.
Quan coi ngục, đại diện cho triều đình, cho quyền uy, cho trật tự xã hội đương thời
Kẻ tử tù, phản nghịch, chống phá chế độ (theo quan điểm của chế độ thời đó).
- NGUYỄN TUÂN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
- Cuộc gặp gỡ đầy éo le, ngang trái của hai con người cùng yêu cái đẹp nhưng lại ở hai phía đối lập nhau =>Tạo tình huống kịch tính để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục và góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Trang 211 Tình huống truyện
- Cuộc gặp gỡ kì lạ giữa hai con người có tâm hồn nghệ sĩ là Huấn Cao, một tử tù, với viên quản ngục, đại diện cho trật
tự xã hội đương thời, tại chốn lao tù tăm tồi.
-> Tạo tình huống độc đáo: quan hệ éo le giữa những tâm hồn tri âm, tri kỉ trong tình thế đối địch.
=> Làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng của viên quản ngục và thể hiện chủ đề tác phẩm.
Trang 24- “Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”
- “Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”.
- “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm.”
- “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”.
I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Tình huống truyện:
2 Nhân vật Huấn Cao:
- NGUYỄN TUÂN
-a Một nghệ sĩ tài hoa:
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Trang 27Một số hình ảnh về nghệ thuật thư pháp
Trang 28Một số hình ảnh về nghệ thuật thư pháp
Nội dung: Hoài Đức Dịch nghĩa: Hoài mong cái Đức
Trang 31CHỮ CHÂN PHƯƠNG
Trang 32CHỮ CÁCH ĐIỆU
Trang 33CHỮ MÔ PHỎNG
Trang 34CHỮ TẠO HÌNH
Trang 35I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Tình huống truyện:
2 Nhân vật Huấn Cao:
Chữ viết nhanh:
bút pháp-> thể hiện
sự uyên bác, uyên thâm.
Chữ viết nhanh:
bút pháp- > thể hiện
sự uyên bác, uyên thâm.
Chữ cần
- “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm , vuông lắm ”
- “Có được chữ ông Huấn mà treo là có
một vật báu trên đời ”.
Chữ viết đẹp, vuông: thư pháp -> Chữ tượng hình.
Chữ viết đẹp, vuông: thư pháp
-> Chữ tượng hình.
Là tài năng hiếm có trong nghệ thuật thư pháp: biết sáng tạo chữ, sáng tạo nghệ thuật, có hiểu biết rộng và có tâm hồn nghệ sĩ.
Là tài năng hiếm có trong nghệ thuật thư pháp: biết sáng tạo chữ, sáng tạo nghệ thuật, có hiểu biết rộng và có tâm hồn nghệ sĩ.
=>Bằng bút pháp lãng mạn hóa, tác giả đã thể hiện quan niệm liên tài của mình Cái tài là thứ quý hiếm đáng được tôn thờ và ngưỡng mộ, phải là cái tài ở đỉnh cao
Trang 36- “Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”
-“Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”.
-“Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm.” -“Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời ”.
I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Tình huống truyện:
2 Nhân vật Huấn Cao:
- NGUYỄN TUÂN
-a Một nghệ sĩ tài hoa:
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
- Chữ viết: rất nhanh, rất đẹp,
đẹp lắm, vuông lắm, có chữ …
có báu vật
-> Là nghệ sĩ tài hoa nổi tiếng,
được mến mộ với tài viết chữ
->Cách giới thiệu gián tiếp nhằm khẳng định, ca ngợi tài năng của Huấn Cao đã tạo nên danh tiếng trong lòng dân gian như một huyền thoại Cái tài khiến kẻ thù ngợi ca, ngưỡng mộ, kính trọng và muốn sở hữu nó.
=> Quan niệm của tác giả: cái tài cần được tôn thờ, ngưỡng mộ phải là cái tài đạt đến đỉnh cao
Trang 37II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
2 Nhân vật Huấn Cao:
- NGUYỄN TUÂN
-CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
- “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ ”
- “Không vì vàng ngọc hay quyền thế mà
ép mình viết câu đối”
Là người chính trực, trọng tình nghĩa, khinh thường danh lợi
- Vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của Viên quản ngục, Huấn Cao cảm động mà đồng ý.
- “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”
-> Huấn Cao chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và yêu quý cái đẹp ->Huấn Cao còn là người có tấm lòng bao dung, độ lượng, có khí chất thanh cao
Bộc lộ lẽ sống: không nên phụ tấm lòng cao đẹp của người khác dành cho mình.
b Một người có nhân cách
trong sáng, cao đẹp;
- Không bao giờ vì vàng ngọc hay
quyền thế mà ép mình cho chữ.
-> Chính trực, trọng tình nghĩa,
khinh thường danh lợi
- Trước khi ra pháp trường, Huấn
Cao cho chữ quản ngục để đáp lại
một tấm lòng, để khỏi: phụ một
tấm lòng trong thiên hạ
-> bao dung, độ lượng, khí chất
thanh cao
Trang 38I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
2 Nhân vật Huấn Cao:
Quan niệm: Cái đẹp không thể chung sống với cái xấu xa, thấp hèn và con người chỉ có thể thưởng thức được cái đẹp nếu giữ được bản chất trong sáng.
Qua lời khuyên của Huấn Cao, tác giả bày tỏ quan niệm gì?
Qua lời khuyên của Huấn Cao, tác giả bày tỏ quan niệm gì?
- Khuyên quản ngục giữ gìn thiên
lương, tránh nơi u tối.
Cái tâm cao khiết, đáng cảm phục.
Trang 39I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
2 Nhân vật Huấn Cao:
- NGUYỄN TUÂN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
-c Một người có khí phách
hiên ngang.
-Hành động: “lạnh lùng chúc mũi gông nặng , khom mình thúc mạnh đầu thanh gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái” -> phớt đời, ngạo mạn;
- Lời nói: “Ta muốn người đừng đặt chân vào đây”
->Cố ý làm ra khinh bạc, coi thường, miêt thị quản ngục => Thái độ ung dung, làm chủ ngục tù.
- Là người nổi tiếng: chọc trời khuấy
nước, văn võ toàn tài.
- Hành động: lạnh lùng chúc mũi
gông trước mặt bọn lính.
- Thái độ khinh bạc với viên quản
ngục
- Ung dung, đĩnh đạc, đường hoàng
trong những ngày sống trong ngục.