- Bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng cổ điển, nhà thơ đã mượn những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên để gợi vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều:.. “Mai cốt cách tuyết tinh thần”.[r]
Trang 1CHỊ EM THÚY KIỀU
I, Khái quát về đoạn trích:
1 Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần thứ nhất của kiệt tác “Truyện Kiều” – Gặp gỡ và đính ước
2 Nội dung của đoạn trích: Miêu tả về sắc đẹp của chị em Thúy Kiều và lời dự báo về một kiếp người tài hoa bạc mệnh
3 Bố cục đoạn trích: Từ khái quát đến cụ thể theo bốn phần:
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu – Vẻ đẹp chung của hai chị em Thúy Kiều.
- Phần 2: Bốn câu thơ tiếp theo – Vẻ đẹp của Thúy Vân.
- Phần 3: Tám câu thơ tiếp theo – Sắc đẹp và tài năng của Thúy Kiều.
- Phần 4: Bốn câu thơ cuối – Đức hạnh của hai chị em Thúy Kiều.
II, Phân tích đoạn trích:
1 Bốn câu thơ đầu: Vẻ đẹp chung của hai chị em Thúy Kiều
- Sau những dòng thơ giới thiệu về gia cảnh của Kiều, giới thiệu về những người trong gia
đình của Kiều nhà thơ đã giới thiệu chung về vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều: “Đầu lòng hai ả
Tố nga” “Tố nga” là từ chỉ người con gái đẹp qua đó nhà thơ đã giới thiệu về Thúy Vân, Thúy
Kiều là hai thiếu nữ xinh đẹp như tiên giáng trần, đẹp tự Hằng Nga Tử “ả” làm cho lời giới thiệu
trở nên giản dị, tự nhiên
- Ngay sau đó nhà thơ đã giới thiệu ngắn gọn về thứ bậc của hai chị em trong gia đình:
“Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”.
- Bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng cổ điển, nhà thơ đã mượn những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên để gợi vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều:
“Mai cốt cách tuyết tinh thần”
+ Hình tượng “mai cốt cách”: cốt cách của mai là mảnh dẻ và thanh tao.
+ Hình tượng “tuyết tinh thần”: tinh thần của tuyết là trong sạch và thanh cao.
+ Câu thơ có cách ngắt nhịp 3/3 kết thuật với nghẹ thuật đối gợi tả chị em Thúy Kiều đẹp từ vóc dáng đến tâm hồn Thúy Vân, Thúy Kiều có dáng vẻ yêu kiều, thướt tha; tâm hồn trong sạch, thanh cao
- Câu thơ cuối là lời khẳng định, đề cao tôn vinh nhan sắc của chị em Thúy Kiều: “Mỗi
người một vẻ mười phân vẹn mười.” Thành ngữ “mười phân vẹn mười” đã được nhà thơ khéo
léo sử dụng, tôn vinh hai nàng là những tuyệt sắc gia nhân hội tụ những nét đẹp hoàn hảo Nhưng
mỗi nàng lại có những nét đẹp riêng làm nên những bức chân dung tuyệt vời: “Xuân lan thu cúc
mặn mà cả hai.”
Trang 2 Bằng những vần thơ lục bát giản dị, hàm xúc nhà thơ đã giới thiệu thật ngắn gọn và vô cùng ấn tượng tạo tâm thế say mê cho độc giả.
2 Bốn câu thơ tiếp theo: Vẻ đẹp của Thúy Vân
- Sau những lời giới thiệu về vẻ đẹp chung của hai chị em Thúy Kiều nhà thơ đã miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời”
+ Nàng Vân có một vẻ đẹp trang trọng, khác vời gợi vẻ đẹp cao sang, quý phái, kiêu xa, đài các của một trang quốc sắc thiên hương
+ Từ “xem” kết hợp với cụm từ “khác vời” gắn với cái nhìn ngưỡng mộ, ngợi ca của nhà thơ.
- Bằng những hình tượng nghệ thuật ước lệ của nhà thơ Nguyễn Du khéo léo lựa chọn ông
đã gợi tả vô cùng sống động bức chân dung của Thúy Vân Bóng dáng nàng Vân thấp thoáng hiện lên qua những vần thơ tuyệt bút
+ Những nét vẽ đầu tiên thật ấn tượng: “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” Hai hình tượng nghệ thuật ước lệ tượng trưng “khuôn trăng” và “nét ngài” kết hợp với các tính từ “đầy đặn” ,
“nở nang” gợi tả nàng Vân có một gương mặt tròn, sáng đẹp tựa án trăng rằm và nét lông mày
thanh tú “mắt phượng mày gài”
+ Nàng Vân còn đẹp từ nụ cười đến giọng nói: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang” Miệng nàng
cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc hé mở cử chị dịu dàng đoan trang
+ Tô điểm cho bức chân dung nàng Vân còn là nét vẽ của nước tóc và màu da: “Mây thua nước
tóc tuyết nhường màu da”.
Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa gắn cho “mây” và “tuyết” những hàng động của con người làm cho “mây” và “tuyết” sống động, có tâm hồn “Nước tóc” của nàng Vân mềm, óng mượt đẹp hơn áng mây; “màu da” trắng, xinh tươi đẹp hơn cả tuyết.
Vẻ đẹp của Thúy Vân được thiên nhiên ưu ái, sẵn lòng nhường nhịn, hòa hợp với thiên nhiên
dự cảm cho một tương lai êm đềm, bình yên sẽ đến với cuộc đời của nàng Vân
Qua những hình tượng nghệ thuật ước lệ tuyệt diệu được nhà thơ liệt kê chi tiết kết hợp
với các tính từ “trang trọng”, “khác vời”, “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang” nhà thơ
không chỉ miêu tả dung nhan Thúy Vân mà còn hé mở tính cách, cuộc đời, số phận của nàng Điều đó đã tôn vinh nghệ thuật tả người bậc thầy của Nguyễn Du Tấm lòng người nghệ sĩ với cảm hững ngưỡng mộ, ngợi ca cũng được thể hiện qua những nét vẽ.
3 Tám câu thơ tiếp theo: Sắc đẹp và tài năng của Thúy Kiều
Trang 3a Sắc đẹp của Thúy Kiều:
- Thúy Vân đã đẹp Thúy Kiều lại càng đẹp hơn một vẻ đẹp sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm
hồn:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.”
+ Nhà thơ đã chọn hai tính từ “sắc sảo” và “mặn mà” để khái quát vẻ đẹp của Thúy Kiều – một
nhan sắc đằm thắm, kiêu sa, lộng lẫy
+ Bên cạnh đó nhà thơ còn khéo léo lựa chọn các từ “càng”, “so bề”, “lại”, “phần hơn” để so
sánh vẻ đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều
+ Khi giới thiệu về thứ bậc của hai chị em trong gia đình Nguyễn Du viết: “Thúy Kiều là chị em
là Thúy Vân” nhưng khi miêu tả nhan sắc nhà thơ lại tả Thúy Vân trước bằng bút pháp vẽ mây
nảy trăng Nhan sắc của Thúy Vân là bức phông nền làm nổi bật nhan sắc “nghiêng nước
nghiêng thành” của Thúy Kiều
- Khi miêu tả Thúy Vân, nhà thơ đã đi khắc họa từng đường nét cụ thể, từ khuôn mặt đến nụ cười, giọng nói, mái tóc, làn da nhưng với Thúy Kiều Nguyễn Du chỉ đặc tả vẻ đẹp của đôi mắt
bằng hình tượng nghệ thuật ước lệ tượng trưng: “Làn thu thủy nét xuân sơn,”.
+ “Làn thu thủy” là làn nước mùa thu trong trẻo, tươi sáng, thăm thẳm tựa trời xanh, mềm mại vô cùng Nguyễn Du đã mượn “làn thu thủy” để gợi tả đôi mắt giai nhân Đôi mắt của nàng Kiều
đẹp tựa mặt hồ mùa thu trong sáng, long lanh, đằm thắm, mênh mang, sâu thẳm Đôi mắt vốn là cửa sổ tâm hồn của con người nơi thể hiện tất cả những tâm tư, tình cảm của con người, đôi mắt không nói mà nói được biết bao nhiều điều:
“Mắt em là một dòng sông, Thuyền anh bơi lội giữa dòng mắt em.”
(“Đôi mắt” – Lưu Trọng Lơ)
+ “Nét xuân sơn” là nét núi mùa xuân gợi tả nét lông mày mềm mại, thanh thoát, tươi trẻ của
nàng Kiều, một vẻ đẹp tràn đầy sức sống
+ Nhà thơ đã chọn hai mùa đẹp nhất trong năm để đặc tả đôi mắt nàng Kiều đẹp tựa như một bức tranh sơn thủy hữu tình
- Vẻ đẹp của Thúy Vân được thiên nhiên sẵn lòng nhường nhịn: “Mây thua nước tóc tuyết
nhường màu da” Nhưng vẻ đẹp của Thúy Kiều không được thiên nhiên ưu ái, ca tụng: “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
Trang 4+ Theo quan niệm của người xưa không gì đẹp bằng thiên nhiên, tạo hóa vậy mà Nguyễn Du còn
miêu tả nàng Kiều đẹp hơn cả thiên nhiên: Hoa đã tươi thắm, rạng ngời vậy mà “thua thắm”; liễu
đã yêu kiều, yểu điệu, thướt tha vậy mà “kém xanh” Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa gắn với “hoa” và “liễu” những hành động của con người: “hoa ghen”, “liễu hờn” làm cho sự
vật vô tri vô giác trở nên gần gũi với con người Qua đó nhà thơ Nguyễn Du đã hé mở cuộc đời truân chuyên, sóng gió, đoạn trường của nàng Kiều - thiên nhiên ghen ghét, hờn tủi, đố kị với nhan sắc của nàng Kiều dự báo một cuộc đời tài hoa bạc mệnh:
“Một vừa hai phải ai ơi, Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.”
+ Và quả thực là vậy nếu ta đọc hết ba nghìn hai trăm năm mươi tư câu Kiều ta sẽ thấy được cuộc đời của Thúy Kiều phải chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc bể dâu với đủ thăng trầm, biến cố: “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”
- Nàng Kiều là một tuyệt thế giai nhân và nhà thơ Nguyễn Du đã hân hoan ca tụng nhan sắc kiều diễn của nàng:
“Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai.”
+ Nhà thơ đã chọn thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành” để gợi tả nhan sắc đẹp tuyệt vời của
nàng: quay lại nhìn một lần thì nghiêng thành người, quay lại nhìn lần nữa thì đổ nước người Sắc đẹp tuyệt vời của nàng khiến người ta say mê đến nỗi mất thành mất nước
+ Cùng với đó nhà thơ sử dụng biện pháp nói quá để nhấn mạnh vẻ đẹp sắc nước hương trời của nàng Kiều Trên trần thế này nàng là người đẹp nhất còn tài năng họa chăng mới có người thứ hai sánh kịp với nàng
b Tài năng của Thúy Kiều:
- Nàng Kiều không những là một thiếu nữ tuyệt sắc mà còn là một thiếu nữ tuyệt tài Tài năng phong phú là tạo hóa đã ban tặng riêng cho nàng:
“Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ ngùi ca ngâm.”
+ Ở nàng hội tụ để tứ thú thanh cao, tao nhã của người xưa: cầm kì thi họa Những tiếng nói cao nhã là tiếng nói của một trái tim giàu cảm xúc
+ Nhà thơ đã liệt kê gợi tả những tài năng của nàng Kiều đặc biệt là tài ca hát Nhịp thơ nhanh, giọng thơ sôi nổi, thiết tha, tràn đầy sức sống
Trang 5- Nàng rất giỏi cầm luật:
“Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.”
+ Nàng thuộc lòng năm nốt nhạc: cung, thương, giốc, trủy, vũ trong âm vang của giàn nhạc cổ
+ Nhà thơ đã chọn những từ rất bình thường, dân dã ngón đàn tuyệt diệu của nàng Kiều: “pha
nghề”, “đủ ngùi”, “làu”, “nghề riêng”, “ăn đứt”
- Nàng chọn cây đàn hồ cầm soạn một bản đàn tên là “Bạc mệnh” phản vào đó trăm vần thê lương khiến lòng người sầu khổ, ảm não: “Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”.
+ Cung đàn “Bạc mệnh” ấy đã vang vọng trong suốt những năm tháng lưu lạc, đoạn trường của
Thúy Kiều:
“Bốn dày như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.”
“Một cung gió thảm mưa sầu, Bốn dày nhỏ máu năm đầu ngón tay.”
+ Cung đàn “Bạc mệnh” đã khiến Kim Trọng “ngơ ngẩn sầu”, Mã Giám Sinh “mặn nồng”, Thúc
Sinh “tan nát lòng”, Hồ Tôn Hiến “ngây vì tình”
+ Lời dự cảm của nhà thơ về một kiếp người tài hoa bạc mệnh cũng được dự cảm qua khung đàn
“Bạc mệnh”.
Kiều là một đóa hoa nhưng không phải đóa hoa hải đường, cũng không phải đóa hoa phù dung hữu sắc vô hương mà nàng Kiều là một đóa hoa hữu sắc hữu hương, vừa thắm lại vừa tươi Vẻ đẹp của nàng Kiều sự hội tụ của sắc đẹp, tài năng và tâm hồn.
4 Bốn câu thơ cuối: Đức hạnh của hai chị em Thúy Kiều
- Chị em Thúy Kiều có tâm hồn trong sáng, thanh cao, duyên dáng Hai nàng sống trong
cảnh “phong lưu” là hai tiểu thư khuê các: “Phong lưu hết mực hồng quần” Từ Hán Việt
“phong lưu” kết hợp với hình ảnh hoán dụ “hồng quần” làm cho lời thơ trở nên trang trọng .
- Hai nàng đang ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người sắp đến “cập kê” nhưng sống rất nề nếp, khuôn phép, coi trọng đức hạnh: “Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê”.
- Thúy Vân và Thúy Kiều sống trong cảnh “êm đềm”: “Êm đềm chướng rủ màn che” Từ láy “êm đềm” kết hợp với thành ngữ “chướng rủ màn che” gợi cuộc sống nhung lụa, phong lưu
Trang 6- Mặc dù đã đến tuổi cập kê nhưng “Tường đông ong bướm đi về mặc ai” Hai nàng là
những bông hoa còn hương phong nhụy vừa thắm lại vừa tươi thơ ơ với những cuộc hẹn hò nơi
“tường đông ong bướm” Thúy Kiều và Thúy Vân vừa có nhan sắc, vừa có phẩm hạnh trắng
trong tựa tuyết
5 Đánh giá đoạn trích:
- Nghệ thuật tả chân dung nhân vật tài hoa và điêu luyện:
+ Tả người bằng bút pháp ước lệ tượng trưng cổ điển, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp
của con người
+ Bút pháp vẽ mây nẩy trăng miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân làm nền để nổi bật vẻ đẹp của Thúy
Kiều
+ Bút pháp cá thể hóa nhân vật Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên với những nét riêng về nhan sắc + Miêu tả ngoại hình nhà thơ nói lên tính cách, cuộc đời và số phận của mỗi nhân vật.
+ Sáng tạo trong việc sử dụng thể thơ lục bát trau chuốt, mềm mại.
+ Sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ, sử dụng biện pháp tu từ vựng: ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ,
nói quá
- Đặc sắc về nội dung:
+ Người phụ nữ là hiện thân của cái đẹp nên ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ đã đi vào trong kim cổ thi ca Ta đã từng gặp người phụ nữ đẹp như “tấm lụa đào”, như “chẽn lúa đòng đòng” trong ca dao Ta đã từng gặp những thôn nữ, chinh phụ có vẻ đẹp trầm ngư lạc nhạn, bế nguyệt tu hoa Nhưng câu thơ ca ngợi nhan sắc của chị em Thúy Kiều đã khơi vào mạch nguồn cảm xúc không bao giờ vơi cạn
+ Qua bức chân dung chị em Thúy Kiều nhà thơ đã hé mở tính cách, cuộc đời, số phận từ những diện mạo riêng và lời dự đoán về một kiếp người tài hoa bạc mệnh
- Tấm lòng và tài năng của nhà thơ Nguyễn Du:
+ Nhà thơ nhiệt tình trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp nhan sắc, tài năng, tâm hồn của hai chị em Thúy Kiều Khắc hoa hai em trở thành những trang tuyệt sắc gia nhân Cùng với đó là niềm thương cảm, quan tâm lo lắng cho số phận con người Từ giọng điệu, hình tượng thơ đều phản phất mọi
sự lo lắng cho số phận của nàng Kiều dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh
+ Khi tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều nhà thơ Nguyễn Du đã có rất nhiều sáng tạo so với nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân Nhà thơ đã tả Thúy Vân trước, Thúy Kiều sau Sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, lý tưởng hóa nhân vật … Nguyễn Du xứng đáng được tôn vinh là một người bậc thầy để muôn đời sau ngưỡng mộ, ngợi ca
Trang 7 MỘT SỐ CÂU HỎI LUYÊN TẬP CHO ĐOẠN TRÍCH:
Câu 1 Hình ảnh nàng Kiều qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” (trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) Câu 2 Cảm hứng nhân văn của nhà thơ Nguyễn Du qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” (trích
“Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
Câu 3 Nói về nghệ thuật miêu tả nhân vật trong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du có ý
kiến cho rằng: Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã rất tài tình khi khắc họa nhân vật, tác giả
không chỉ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài mà với ông tả ngoại hình là để giúp người đọc hình dung được bản, tích cách của nhân vật
Bằng hiểu biết của em về hai nhân vật Thúy Kiều và Thúy Vân trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
CẢNH NGÀY XUÂN
I, Khái quát về đoạn trích:
1 Vị trí đoạn trích:
- Đoạn trích thuộc phần đầu của tuyệt tác “Truyện Kiều” – Gặp gỡ và đính ước
- Sau khi miêu tả tài sắc của hai chị em Thúy Kiều đoạn trích đã tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh Minh và cảnh chị em Thúy Kiều đi du xuân
2 Nội dung đoạn trích: là bức tranh lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng
3 Bố cục đoạn trích: theo trình tự thời gian, theo hành trình du xuân của hai chị em Thúy Kiều
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu – Bức tranh thiên nhiên mùa xuân
- Phần 2: Tám câu thơ tiếp – Bức tranh lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng
- Phần 3: Sáu câu thơ cuối – Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về
II, Phân tích đoạn trích:
1 Bốn câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân
- Mùa xuân là mùa của hoa thơm, cỏ lạ, mùa của lễ hội văn hóa dân gian Trên mỗi chặng đường thi ca mùa xuân để lại những dấu ấn khác nhau, kí thác những tâm hồn, những nỗi niềm riêng Mùa xuân đã hơn một lần đi vào trong thơ ca của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bính, Hồ Chí Minh:
“Trong tiếng cuốc kêu đã muộn Đầy xuân mưa bụi nở hoa xuân.”
(“Cuối xuân tức sự” – Nguyễn Trãi)
“Mùa xuân là cả một mùa xanh”
(“Mùa xuân xanh” – Nguyễn Bính)
“Xuân giang xuân thủy tiếp xuân sơn”
(“Nguyên Tiêu” – Hồ Chí Minh)
- Và đến đoạn trích “Cảnh ngày xuân” người đọc đến với một bức tranh mùa xuân tràn đầy sức sống với một hương sắc mới Mùa xuân được mở ra theo chiều cao của không gian, một
không gian bất tận trong ánh nắng ban mai ấm áp của đất trời: mùa xuân đã bước vào tháng ba,
Trang 8bầu trời chưa hẳn trong xanh như trời mùa thu nhưng cũng đủ để in hình những cánh én rộn rằng bay lượn:
“Ngày xuân con én đưa thoi”
+ Nhà thơ đã chọn hình ảnh cánh én để gợi mùa xuân Hình ảnh “con én đưa thoi” vừa quen lại
vừa lạ qua nghệ thuật ẩn dụ, những cánh chim én như những con thoi bay qua bay lại ríu rít dệt lên những sợi tơ óng ánh cho bầu trời xuân Hình ảnh đã gợi vẻ đẹp của không gian và bầu trời xuân đẹp tựa khung cửa dệt vải để những cánh chim én trao liệng rộn ràng
+ Cái “thoi đưa” của cánh chim én gợi thời gian mùa xuân trôi qua mau Ngày xuân đã bước qua
tháng giêng, tháng hai và chạm đến tháng ba, tháng cuối cùng của mùa xuân để lại sự lưu luyến trong lòng người
- Không gian của mùa xuân ngập tràn ánh sáng đẹp thấm đẫm trong cỏ cây hoa là:
“Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”
+ Thiều quang là ánh sáng đẹp của ngày xuân, là hương sắc riêng của mùa xuân Có chín mươi ngày xuân có ánh thiều quang nay đã trôi qua sau mươi ngày chỉ còn ba mươi ngày nữa là mùa xuân khép lại
+ Câu thơ đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ nhà thơ đã mượn khoảng cách ánh sáng thời gian trong một ngày để gợi mùa xuân trôi nhanh trong sự luyến tiếc Nghệ thuật hoán dụ đã làm tăng sức gợi hình, gợi tả cho câu thơ
- Trên nền không gian thiên nhiên ấy là bức tranh chấm phá về mùa xuân đẹp tựa như một
bức họa dệt gấm thuê hoa: “Cỏ non xanh tận chân trời”
+ Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được họa lên bởi màu xanh non tươi mát của thảm cỏ Sắc
cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn, mềm mượt, êm ái Màu xanh ấy ta đã từng bắt gặp trong thơ của Nguyễn Trãi: “Cỏ xanh như khói bến xanh tươi”
+ Hình ảnh gợi tả cho trang thơ của Nguyễn Du đã gợi cảm hứng để hơn một thế kỉ sau thi sĩ Hàn Mặc Tử viết lên vần thơ tuyệt bút: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”
- Trên nền xanh của cỏ điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng: “Cành lê trắng điểm một vài
bông hoa”
+ So sánh với thơ cổ Trung Hoa: “Lê chi sổ điểm hoa” thì nhà thơ Nguyên Du đã có sự sáng tạo thêm sắc trắng tinh khôi của hoa lê đã nở lác đác trên cành Bàn tay của tạo hóa đã khéo léo tô điểm cho bức tranh thiên nhiên mùa xuân một nét vẽ tươi tắn, nhẹ nhàng, thanh khiết, đậm chất hội họa Á Đông
+ Cảnh gợi tả của thi sĩ rất tuyệt vời qua nghệ thuật đảo ngữ: nhà thơ đã chọn tính từ “trắng” đặt trước động từ “điểm” để nhấn mạnh sắc trắng của hoa lê hòa với màu xanh non của cỏ tháng ba + Quả thực Nguyễn Du đã vô cùng sáng tạo khi chọn sắc màu cho bức họa: không phải sắc hồng của hoa đào, sắc trắng của hoa mai mà là sắc trắng của hoa lê
Bằng bút pháp tả cảnh ước lệ tượng trưng, ngôn ngữ thơ giàu chất tạo hình Nhà thơ đã chọn hai gang màu chủ đạo là màu xanh non của cỏ hòa cùng sắc trắng của hoa lê để vẽ một bức tranh mùa xuân vô cùng trang nhã làm nền cho khung cảnh lễ hội Qua những vần thơ lục bát mùa xuân vừa mát mẻ, tinh khôi, thanh khiết, trong trẻo và tràn đầy sức sống Nhà thơ đã tả cảnh thiên nhiên ngày xuân bằng một tình yêu đắm say.
2 Tám câu thơ tiếp: Bức tranh lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng
Trang 9a. Lời giới thiệu: Giữa khung cảnh thiên nhiên bao la, sống động, say đắm lòng người là bức
tranh lễ hội dân gian:
“Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.”
- Giữa hai dòng thơ nhà thơ liên tiếp sử dụng các từ Hán Việt: “thanh minh”, “tảo mộ”, “đạp
thanh” tạo sắc thái trong trọng trong lời giới thiệu về hoạt động diễn ra trong tiết thanh minh
- Lễ “tảo mộ” là lễ đi thăm viếng lăng, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân.
- Hội “đạp thanh” là lễ hội du xuân nơi đồng quên của những chàng trai cô gái tộ tuổi xuân xanh.
b. Cảnh trẩy hội mùa xuân đông vui, tưng bừng, náo nhiệt:
- Mở đầu cho khung cảnh lễ hội là dòng người đi trẩy hội mùa xuân: “Gần xa nô nức yến anh” + Tính từ “gần xa” kết hợp với hình ảnh ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi đoàn người đông vui Chim
én và chim oanh thường bay rúi rít trên bầu trời xuân trong sáng nay nhà thơ mượn để chỉ cảnh
từng người nhộn nhịp du xuân
+ Tính từ “nô nức” qua nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh tâm trạng háo hức của người đi du
xuân
- Trong dòng người trảy hội mùa xuân ấy có chị em Thúy Kiều: “Chị em sắm sửa bộ hành
chơi xuân” Niềm vui của chị em Thúy Kiều đã hòa trung với niềm vui của mọi người Đây là
lần đầu tiên chị em Thúy Kiều đi du xuân bởi vậy cảnh vật trở nên lung linh, tươi sáng qua ánh
nhìn của các thiếu nữ tuổ xuân xanh Đằng sau lời kể là niềm vui của hai chị em Thúy Kiều
- Trong hình ảnh “nô nức yên anh” là hình ảnh của biết bao “tài tử giai nhân” họ chính là linh hồn của lễ hội, lễ hội văn hóa dân gian, lễ hội của tuổi trẻ và tình yêu: “Dập dìu tài tử gian nhân” + Từ láy “dập dìu” gợi dáng vẻ khoan thai, phong lưu, những bước chân chậm rãi, những khuôn
mặt rạng rỡ của biết bao tài tử gian nhân trong ánh sáng hồng ấm áp của ngày xuân, vai kề vai
dạo bước trên thảm cỏ xanh mướt
+ Cụm từ Hán Việt “tài tử giai nhân” đã tạo cho câu thơ sắc thái trang trọng.
- Bức tranh lễ hội còn được nhà thơ gợi tả qua hình ảnh rất đặc sắc: “Ngựa xe như nước áo
quần như nêm”.
+ Hình ảnh “ngựa xe như nước” gợi hình ảnh qua lại hết lớp này đến lớp khác như dòng nước
chảy kéo dài mãi không dứt Hình ảnh “áo quần như nêm” gợi những bộ trang phục rực rỡ sắc
màu của dòng người trảy hội du xuân Trên khắp nẻo đường quê cảnh sắc thiên nhiên hòa cùng
với niềm vui trảy hội
+ Câu thơ có nhịp ngắt 4/4 hòa trong nghệ thuật tiểu đối gợi vẻ đẹp cân xứng hài hòa Cùng với
đó là các hình ảnh hoán dụ: “ngựa xe” là phương tiện của dòng người trảy hội, “áo quần” là
trang phục của dòng người trảy hội đã góp phần khắc họa bức tranh lễ hội tưng bừng, náo nhiệt,
rộn ràng
Bức tranh lễ hội mùa xuân đã thể hiện nghệ thuật tả cảnh tuyệt vời của nhà thơ Nguyễn
Du tài nghệ trong việc sử dụng từ ghép, từ láy, các danh từ, tính từ, động từ Với các
biện pháp tu từ: so sánh, hoán dụ, ẩn dụ Điều đó đã giúp nhà thơ tái hiện không khí
tưng bừng, náo nhiệt của hội đạp thanh.
c Lễ tảo mộ: Sau hội đạp thanh náo nhiệt, tưng bừng, rộn ràng là lễ tảo mộ Nhịp thơ trở nên
chậm, sâu lắng, mênh mang Một nghi lễ truyền thống của người Á Đông: thanh minh, tiết đầu
Trang 10đã sống giành cho người đã chết thể hiện qua nghi thức cúng lễ: “Thoi vàng vó rắc cho tiền
giấy bay” Không khí có phần ảm đạm phù hợp với tâm trang của người đi tảo mộ: cõi âm và
cõi dương giao hòa trong nén tâm hương thành kính
Bằng những vần thơ lục bát bình dị, kết hợp tự sự, miêu tả nhà thơ đã vẽ một bức tranh
lễ hội với những ngang màu tươi sáng bởi cảnh được nhìn qua đôi mắt của những cô gái trẻ “Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê”