Kiểm tra việc chấp hành quy định về chuyên môn, thực thi chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, giáo viên, nhân viên; đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, học sinh; công tác tuyển [r]
Trang 1UBND HUYỆN HÒA BÌNH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Phần thứ nhất KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ
NĂM HỌC 2016-2017
Căn cứ Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/8/2016 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016-2017 của ngành Giáo dục; căn cứChỉ thị số 07/CT-UBND ngày 31/8/2016 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc thựchiện nhiệm vụ năm học 2016-2017; căn cứ phương hướng, nhiệm vụ năm học2016-2017 của Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu; căn cứ Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện Hòa Bình về việc thực hiện nhiệm vụnăm học 2016-2017; căn cứ Phương hướng nhiệm vụ năm học 2016-2017 củaPhòng Giáo dục và Đào tạo Hòa Bình, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hoà
Bình báo cáo tổng kết năm học 2016-2017 như sau:
I Quy mô trường, lớp, học sinh:
Toàn huyện có 35 trường: 09 trường Mầm non - Mẫu giáo (MN-MG), 19trường Tiểu học (TH), 07 trường Trung học cơ sở (THCS) với 552 lớp (MN:
104, TH: 316, THCS: 132), so với cùng kỳ năm học trước giảm 05 lớp
Năm học 2016-2017, số học sinh đến trường là 17.737 học sinh (so vớicùng kỳ năm học trước giảm 15 học sinh); trong đó, trẻ MN có 3.336 (nhiều hơn
457 cháu), học sinh TH 9.137 em (ít hơn 429 em), học sinh THCS 5.264 em (íthơn 43 em) Đến cuối năm học năm học 2016-2017, tổng số học sinh các cấphọc còn 17.400 em cụ thể như sau:
- MN-MG: 3.395 cháu (chuyển đến 59 cháu)
- TH: 9.012 em giảm 125 em (chuyển đến 75 em; chuyển đi 197 em; bỏhọc 03 em)
- THCS: 4.993 em giảm 271 em (chuyển đến 06 em; chuyển đi 244 em;
Trang 2- Các trường MN-MG đều tổ chức thực hiện chương trình theo đúng quyđịnh, chú trọng đổi mới hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ theo quan điểm giáodục toàn diện, tích hợp, lấy trẻ làm trung tâm; tăng cường hoạt động vui chơi,tạo cơ hội để trẻ được trải nghiệm, khám phá; giáo dục hình thành và phát triển
kỹ năng sống phù hợp các nội dung giáo dục an toàn giao thông, giáo dục bảo vệmôi trường, giáo dục tài nguyên môi trường, biển hải đảo, giáo dục biến đổi khíhậu
- Số trẻ 5 tuổi huy động ra lớp đạt 100% (1.738/1.738 trẻ trong địa bàn);trong đó, số cháu được học 2 buổi/ngày là 1.770/1.770 trẻ (có 32 trẻ ngoài địabàn huyện Hòa Bình đến học) đạt tỷ lệ 100% Các trường đã thực hiện tốt việcgiáo dục cho trẻ về chăm sóc vệ sinh răng miệng, giáo dục sức khỏe, giáo dụcdinh dưỡng và giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và chú trọng giáo dụcthói quen tốt, hành vi văn minh có lợi cho sức khỏe của trẻ Ở những trường có
tổ chức cho trẻ ăn bán trú thực hiện đúng các quy định về vệ sinh an toàn thựcphẩm; trong nuôi dưỡng sử dụng phần mềm Nutrikids trong việc tính khẩu phần
ăn của trẻ đủ theo nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng theo quy địnhcủa từng độ tuổi
- Toàn huyện có 09/09 trường tổ chức cho trẻ ăn bán trú với 76 nhóm,lớp/2582 trẻ (so với năm học trước số trẻ được ăn bán trú tăng 450 trẻ) Có09/09 bếp ăn bán trú được Trung tâm Y tế kiểm tra đạt tiêu chuẩn bếp bảo đảm
vệ sinh an toàn thực phẩm Trẻ đến trường được bảo đảm an toàn tuyệt đối vềthể chất lẫn tinh thần, không xảy ra tai nạn thương tích; trẻ được tổ chức cân đo,
chấm biểu đồ theo giai đoạn và được khám sức khỏe định kỳ đúng quy định Trẻ
suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là là 28 trẻ, tỷ lệ 0.82% (giảm 147 trẻ so với đầunăm), suy dinh dưỡng thể thấp còi là 68 trẻ tỷ lệ 1.91% (giảm 110 trẻ so với đầunăm)
- Toàn huyện có 299 trẻ dân tộc vào học ở các trường MN-MG Tất cả trẻđến trường đều được dạy tiếng Việt theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đàotạo, đồng thời giáo viên tạo điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ qua các hoạtđộng học tập, vui chơi, giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ…
- Kết quả theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở mức độ đạt:Lĩnh vực phát triển thể chất đạt 99,03%, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ đạt97.70%, lĩnh vực tình cảm, xã hội đạt 98.60%, lĩnh vực phát triển nhận thức đạt97.03%, lĩnh vực phát triển thẩm mỹ đạt 94.20% Nhìn chung, các cơ sở GDMN
đã có nhiều biện pháp tác động giáo dục phù hợp để trẻ được phát triển hài hòa
về thể chất, tinh thần, trí tuệ, tình cảm theo kết quả mong đợi của chương trìnhGDMN
- Đầu năm học Phòng Giáo dục và Đào tạo thành lập 2 cụm trường, hoạtđộng chuyên môn của cụm trường thực hiện đúng theo kế hoạch đã đề ra, việc tổchức sinh hoạt chuyên môn cụm đem lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao nănglực, tay nghề, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý vàgiáo viên
Trang 3- Chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch “Xây dựng trường mầm non lấytrẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020; Phòng Giáo dục và Đào tạo chọn thíđiểm Trường MN Hoa Hồng và Trường MG Hoa Sen để chỉ đạo toàn diện chochuyên đề.
Nhìn chung, giáo dục mầm non đã có những chuyến biến rất tích cực về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, các chỉ tiêu cơ bản đều đạt, hoạt động chuyên môn các trường dần đi vào nền nếp Cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước được cải thiện, đáp ứng cho nhu cầu giảng dạy và học Tuy nhiên có nhiều cố gắng trong việc thực hiện đổi mới hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, trong thực tế một số cơ sở GDMN thực hiện chưa tốt việc chỉ đạo giáo viên áp dụng đa dạng các hình thức và phương pháp giáo dục vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp và khả năng của trẻ; cơ sở vật chất, thiết bị,
đồ dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho chương trình GDMN vẫn chưa bảo đảm các điều kiện để thực hiện tốt chương trình; một số giáo viên thực hiện việc đánh giá trẻ hàng ngày, cuối chủ đề vẫn còn mang tính đối phó, hình thức một
số trường quản lý việc thực hiện quy chế chuyên môn chưa tốt, một số trường có phát triển nhưng còn chậm, chưa theo kịp bước tiến chung của cấp học Cơ sở GDMN ngoài công lập chưa thu hút được nhiều phụ huynh gửi con đến học, một phần do mức học phí cao so với thu nhập hiện có của người dân, do đó trường mầm non Hoa Hồng vẫn luôn trong tình trạng quá tải.
2 Giáo dục tiểu học:
- Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cấp quản lý, PhòngGiáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn, chỉ đạo các trường thực hiện một cáchnghiêm túc với 2 hình thức, bao gồm phân hóa lớp cùng trình độ với 86lớp/2685 học sinh và phân hóa lớp nhiều trình độ với 230 lớp/6327 học sinh Chỉđạo các trường thực hiện việc dạy học phân hóa trên cơ sở chuẩn kiến thức kỹnăng các môn học, bài học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định được cụ thểhóa, tự chủ chương trình trong bài soạn và từng tiết dạy trên lớp bảo đảm phùhợp với trình độ của từng nhóm đối tượng học sinh Các trường đã lựa chọn,phân công giáo viên phụ trách các lớp phù hợp với trình độ đào tạo và năng lựcchuyên môn nên từ đó đã phát huy được hiệu quả trong quá trình thực hiện Để
tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực học sinh có hiệu quả, các trường, cụmtrường đã tổ chức nhiều chuyên đề, tiết dạy minh họa… qua đó tạo điều kiện đểgiáo viên tham gia trao đổi, thảo luận để học tập kinh nghiệm và thống nhất một
số vấn đề cơ bản trong quá trình thực hiện Kết quả học tập và rèn luyện đối vớihoạt động dạy học phân hóa theo năng lực học tập của học sinh đạt khá tốt Kếtquả cuối năm đối với các lớp nhiều trình độ từ lớp 1 đến lớp 5 (môn Toán điểm
5 trở lên 6248/6327 (98,75%); môn Tiếng Việt 6233/6327 (98,51%))
- Đầu năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành lập 4 cụm trường và các
tổ liên trường (10 trường nhân rộng toàn phần VNEN ở khối lớp 2,3 được sinhhoạt chung một tổ khối lớp 2,3 với trường TH Vĩnh Thịnh C); hoạt động chuyênmôn của các trường và cụm trường thực hiện đúng theo kế hoạch đã đề ra Nhìn
Trang 4chung, các trường, cụm trường tổ chức sinh hoạt nội dung phong phú, thiết thựctrọng tâm nhằm giúp CBQL, GV trao đổi học tập kinh nghiệm vận dụng vàothực tế giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tổ chức các chuyên đề:Thực hiện Văn bản số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28/9/2016 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học; dạy phân hóa theo nănglực học sinh; phương pháp bàn tay nặn bột; áp dụng phương pháp Mĩ thuật mới(có sự tham gia của giáo viên THCS); cách sử dụng, khai thác TBDH; biện phápnâng cao chất lượng các cuộc thi trên mạng, cách sử dụng và làm đồ dùng dạyhọc việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn cụm, tổ liên trường… đã đem lại hiệuquả tích cực, góp phần nâng cao năng lực, tay nghề, bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ cho đội ngũ CBQL và GV.
- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện học sinh được thựchiện nghiêm túc theo đúng văn bản hướng dẫn của cấp trên Giáo viên được tậphuấn, triển khai, nghiên cứu và thực hiện đúng theo quy định Thông tư22/2014/TT-BGDĐT trong soạn bài, lên lớp dạy, ra đề kiểm tra đánh giá, nhậnxét học sinh, thực hiện đánh giá thường xuyên dưới các hình thức như nhận xétbằng lời hoặc ghi nhận xét vào vở của học sinh một cách thiết thực Đa số giáoviên nhận xét cụ thể, chỉ ra được lỗi sai cần khắc phục để học sinh sửa chữa vànội dung nhận xét thể hiện được quá trình học tập, sự tiến bộ, kết quả học tậpcủa học sinh, những năng lực, phẩm chất mà học sinh đạt được Chỉ đạo tổ chứctốt việc nghiệm thu, nhận bàn giao chất lượng giáo dục học sinh lớp 5 hoànthành chương trình tiểu học lên lớp 6 giữa trường TH và THCS
- Việc dạy học tiếng Anh được đa số các trường tiếp tục duy trì và pháttriển, đặc biệt là hình thức vận động xã hội hóa; bước đầu đã tổ chức cho họcsinh lớp 1,2 làm quen tiếng Anh Hiện có 18 trường dạy học tiếng Anh với tổng
148 lớp/ học sinh 4538 em (so với năm trước tăng 10 trường, tăng 60 lớp, tăng
1526 em); có 2 trường năm đầu tiên dạy tiếng Anh cho học sinh lớp 1,2 (10lớp/220 em); có 10 trường tổ chức dạy bằng hình thức vận động xã hội hóa;
100% các trường dạy theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Điểm
kiểm tra môn tiếng Anh lớp 3,4,5: 4318 em/138 lớp (điểm 9-10: 1705/4318(39,5%); điểm 7-8: 1287/4318 (29,8%); điểm 5-6: 1322/4318 (30,6%); điểmdưới 5: 4/4318 em (0,1%)
- Năm đầu tiên có 4 trường tổ chức dạy Tin học có 30 lớp với 848 em Kết
quả kiểm tra 5 điểm trở lên: 848/848, tỷ lệ 100%
- Chất lượng giáo dục và rèn luyện:
+ Chất lượng giáo dục 02 môn Tiếng Việt và Toán:
Điểm 5 trở lên môn Tiếng Việt: 8902/9012 (98,8%);
Điểm 5 trở lên môn Toán: 8920/9012 (99,0)
+ Hoàn thành chương trình lớp học: 8.898/9.012, đạt tỷ lệ 98,7%; chưahoàn thành chương trình lớp học: 114/9.012, chiếm tỷ lệ 1,3% (riêng lớp 1 chưahoàn thành chương trình 47/1.614, tỷ lệ 2,9%)
Trang 5+ Học sinh được khen thưởng: 4.135/9.012, đạt tỷ lệ 45,8%
+ Hoàn thành chương trình tiểu học: 1.704/1.706 đạt tỷ lệ 99,8%%
- Lớp chất lượng cao có 06 lớp với 171 học sinh đặt tại trường TH Hòa
Bình A Điểm kiểm tra môn Toán: điểm 7 trở lên 170/171 (tỷ lệ 99,4%) mônTiếng Việt điểm 7 trở lên 170/171 (99,4%)
Giáo dục Tiểu học có bước phát triển khá đồng đều, đạt được các chỉ tiêu
cơ bản, nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định như:
Một vài trường còn biên chế lớp chưa đúng quy định, còn lúng túng trong việc xếp lớp theo trình độ Hoạt động chuyên môn của một số trường hiệu quả không cao và vẫn còn tình trạng sao chép sáng kiến kinh nghiệm; một số trường quản lý dạy và học 2 buổi/ngày chưa tốt; lãnh đạo và các Tổ trưởng của một số trường còn nể nang, ngại va chạm, chưa kiên quyết xử lý các sai sót Chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh chưa như mong đợi Một số trường có phát triển nhưng còn chậm, chưa theo kịp bước tiến chung của cấp học
3 Giáo dục trung học cơ sở:
- Năm học 2016-2017, các trường đã phát huy tốt tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về việc thực hiện chương trình và tổ chức thực hiện khá tốt việc dạy họcphân hóa theo năng lực học tập của học sinh Ngoài ra, các trường thực hiện tốtviệc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệuquả với tinh thần tích hợp một cách tự nhiên, hiệu quả và không gây thêm áp lựccho học sinh
- Việc đổi mới phương pháp dạy học được các trường quan tâm đúngmức Các lần sinh hoạt chuyên môn cụm được thực hiện định kỳ theo quy định.Các lần sinh hoạt định kỳ như họp tổ, họp hội đồng, dự giờ, thăm lớp, thaogiảng, báo cáo chuyên đề, viết sáng kiến kinh nghiệm được tổ chức nghiêmtúc, có chất lượng Các chuyên đề tốt được triển khai toàn huyện Việc sử dụngthiết bị, đồ dùng dạy học của giáo viên và hoạt động thư viện của các trường học
đã đi vào nề nếp
- Tổ chức nghiêm túc các kỳ kiểm tra, bảo đảm tính vừa sức, khách quan,trung thực từ khâu ra đề, đáp án, chấm trả bài, vào điểm, tính điểm… đúng theoquy định
Các Phong trào “Giúp đỡ học sinh yếu kém”; phong trào “Xanh Sạch Đẹp” và “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được tất cả cáctrường tích cực hưởng ứng và tổ chức thực hiện khá hiệu quả
Trang 6- Lớp chất lượng cao: Hiện có 04 lớp chất lượng cao đặt tại trường THCS Hòa Bình (02 lớp 8, 01 lớp 7 và 01 lớp 6) Kết quả xếp loại cuối năm học của các lớp này đạt chất lượng tốt, cụ thể: Giỏi 93,28%, Khá 6,72%
Nhìn chung, cấp Trung học cơ sở đã gặt hái được nhiều kết quả tốt, nhưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế như: một số cán bộ quản lý làm việc thiếu kế hoạch khả thi, chưa năng động sáng tạo, còn nể nang trong đánh giá hoạt động dạy và học; một số trường chưa cập nhật kịp thời những kiến thức mới và chưa đầu tư thỏa đáng cho các hội thi cấp huyện và cấp tỉnh; chưa đầu
tư cho việc viết sáng kiến kinh nghiệm; một số trường có phát triển nhưng còn chậm, chưa theo kịp bước tiến chung của cấp học
4 Hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ):
Toàn huyện có 8/8 xã (thị trấn) có trung tâm HTCĐ Các trung tâmHTCĐ phối hợp với các ngành liên quan tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghềngắn hạn cho 100 lớp với 3.181 học viên; tuyên truyền pháp luật, an toàn giaothông, chăm sóc sức khỏe nhân dân 62 lượt với 6.226 người tham gia CácTrung tâm đã phát huy được vai trò của mình trong việc tuyên truyền, tư vấn,đưa tiến bộ KHKT vào đời sống
Hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn những tồn tại như: một số thành viên của trung tâm HTCĐ chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động của Trung tâm; sự phối hợp giữa một số trường với Trung tâm chưa thật chặt chẽ
Trang 75.3 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở:
- Toàn huyện có 8/8 xã (thị trấn) đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở mức độ 1 đạt 100% (trong đó, có 6/8 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dụctrung học cơ sở mức độ 2, đạt tỷ lệ 75%)
Trong năm 2016 toàn huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ
3, nhưng vẫn còn một số hạn chế như: các xã (thị trấn) chưa huy động được học sinh ra lớp phổ cập giáo dục; tiến độ cập nhật phần mềm phổ cập còn chậm so với quy định.
6 Giáo dục dân tộc:
Toàn huyện có 2.158 học sinh là người dân tộc Khmer (MN-MG: 351cháu, TH: 1.270 em, THCS: 537 em), có 04 trường TH tổ chức dạy tiếng Khmer(TH Hòa Bình A, TH Hòa Bình C và TH Vĩnh Hậu A) Ngành đã chỉ đạo từngbước nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm đủ chế độ chính sách cho giáo viên
và học sinh, tích cực chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi vào lớp 1
7 Ứng dụng công nghệ thông tin:
Toàn ngành tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng công nghệ thôngtin trong hoạt động quản lý và giảng dạy Các trường MN-MG, TH thực hiệngiảng dạy bằng cách trình chiếu powerpoint, riêng các trường trung học cơ sở đãđược đưa vào quy định giảng dạy của giáo viên Các trường THCS được trang bịphần mềm soạn giảng đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thiết kếbài giảng điện tử
8 Công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục:
8.1 Công tác khảo thí:
Phòng Giáo dục và Đào tạo đã triển khai đầy đủ các văn bản về công táckhảo thí đến các trường; ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản hướng dẫn tổchức tham gia các kỳ thi trong năm học
Các kỳ thi, hội thi các cấp được chuẩn bị khá chu đáo, tổ chức đúng quyđịnh và đã có tác động tích cực trong việc phát động phong trào thi đua dạy tốt-học tốt Trong năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các kỳ kiểm tra,
kỳ thi: kiểm tra tuyển sinh các lớp chất lượng cao (lớp 3, lớp 6); thi văn hay chữtốt; thi giải toán trên máy tính cầm tay; thi chọn học sinh giỏi lớp 8, lớp 9; thiOlympic tiếng Anh trên Internet; giải Toán, Vật lý qua Internet…
Trang 8Công tác xét hoàn thành chương trình tiểu học, xét công nhận tốt nghiệptrung học cơ sở năm học 2016-2017 được chuẩn bị chu đáo; quy trình làm việccủa các hội đồng xét khoa học, đúng quy định
8.2 Công tác kiểm định chất lượng giáo dục:
Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục cấp mầm non, tiểu học, trunghọc cơ sở theo đúng các văn bản hiện hành Các trường đã sắp xếp thông tin,minh chứng theo bộ tiêu chuẩn đánh giá từng cấp học, đồng thời bổ sung hoànthiện dần báo cáo tự đánh giá chất lượng giáo dục Tính đến thời điểm cuối nămhọc 2016-2017, toàn huyện có 15 trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (04trường đạt cấp độ 3, 02 trường đạt cấp độ 2, 05 trường đạt cấp độ 1), trong đó:
- Mầm non: 05 trường (MG Hoa Sen, MG Sơn Ca 3, MG Hoa Mai đạt cấp
độ 1, MN Hoa Hồng đạt cấp độ 2, MG Hoạ Mi đạt cấp độ 3), đạt 62,5%
- Tiểu học: 06 trường (TH Vĩnh Mỹ B1, TH Vĩnh Bình B đạt cấp độ 1, THHòa Bình A, TH Vĩnh Bình A, TH Vĩnh Thịnh A, TH Yên Khánh đạt cấp độ 3),đạt 31,58%
- Trung học cơ sở: 04 trường (THCS Đông Hải, THCS Minh Diệu, THCSVĩnh Hậu đạt cấp độ 1, THCS Hòa Bình đạt cấp độ 2), đạt 57,14%
Trong năm học 2016-2017, các trường có nhiều tiến bộ, nhưng tình trạng đánh giá học sinh chưa thật đúng thực chất vẫn còn tồn tại ở một số trường, đồng thời một số trường lưu trữ hồ sơ chưa khoa học và chưa nắm chắc quy trình cho nên còn lúng túng trong việc làm hồ sơ kiểm định chất lượng giáo dục Còn một số trường chưa thực sự quan tâm đến công tác kiểm định chất lượng giáo dục; chưa đầu tư đúng mức về nhân lực và thời gian cho việc thực hiện công tác này.
9 Công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo:
- Phòng Giáo dục và Đào tạo đã kiểm tra 34/34 trường về việc thực hiện
quy chế chuyên môn với hình thức báo trước và đột xuất Kết quả: đa phần cácđơn vị có đầy đủ hồ sơ theo quy định, việc soạn giảng, thực hiện phân phốichương trình, chấm trả bài được thực hiện khá tốt Tuy nhiên, ở một vài thờiđiểm nhất định, vẫn còn một số trường còn buông lỏng quản lý chuyên môn
- Kiểm tra tiêu chí thi đua cuối năm học cho thấy các trường thực hiệnkhá tốt tinh thần chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo, toàn ngành đã có nhiềuchuyển biến tích cực nhưng vẫn còn một số hạn chế như: một số ít giáo viênthực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, soạn giảng dạy học phân hóa cònhạn chế, công tác chỉ đạo, điều hành của một số cán bộ quản lý trường học cònchưa bắt nhịp với hoạt động của toàn ngành
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo: trong năm học 2016-2017 Phòng Giáo dục
và Đào tạo đã tiếp nhận 03 đơn khiếu nại và tố cáo về các vấn đề đạo đức nhàgiáo, công tác quản lý, điều hành của một số Hiệu trưởng Phòng Giáo dục vàĐào tạo đã thụ lý đơn thưa và giải quyết kịp thời, đúng luật định, không để tìnhtrạng dây dưa kéo dài và vượt cấp Xây dựng được nề nếp và tinh thần đoàn kếtnội bộ tạo điều kiện cho công chức, viên chức an tâm công tác
Trang 9Công tác kiểm tra bảo đảm đúng quy định, nhưng Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa phân chia thời gian thật hợp lý để kiểm tra các trường; công tác chỉ đạo, điều hành của một số cán bộ quản lý chưa thật sự công tâm nên dẫn đến tình trạng thưa kiện.
10 Công tác tài chính, cơ sở vật chất, thư viện và sách - thiết bị:
10.1 Công tác tài chính:
Ngân sách nhà nước năm 2016, năm 2017 đã cấp cho các trường đầy đủ,kịp thời Phòng và trường đã chủ động trong việc sử dụng các nguồn kinh phí.Việc thu, chi tài chính được công khai, minh bạch Công tác quản lý và sử dụngtài chính ở các đơn vị có thực hiện các biện pháp tiết kiệm chống lãng phí Việcban hành quy chế chi tiêu nội bộ đã góp phần thực hiện tốt các mục tiêu vànhiệm vụ được giao Tuy nhiên, vẫn còn một số trường xây dựng quy chế chitiêu nội bộ chưa xác với thực tế chi cho từng nội dung, cụ thể các trường chicông tác phục vụ chuyên môn và các phong trào hội thao
Bàn ghế giáo viên
+ Xây dựng 10 phòng học Trường Tiểu học Vĩnh Hậu A
+ Xây dựng 08 phòng lầu, hàng rào, sân chơi, nhà bảo vệ Trường Tiểu họcVĩnh Bình C
+ Xây dựng 06 phòng học lầu trường Tiểu học Vĩnh Bình A
- Xây dựng các công trình phụ với số tiền là 4.500.000.000 đồng
10.3 Công tác thư viện và sách - thiết bị trường học:
Trang 10- Toàn huyện có 26 trường có phòng thư viện riêng Trong đó, có 16 thưviện đạt chuẩn, hiện đang đề nghị cấp trên kiểm tra công nhận thêm 03 trường.Công tác mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học được bổ sung vào cuối năm 2016nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu hiện nay
- Hàng năm, ngành đều tiến hành mua sắm bổ sung trang thiết bị dạy họcnhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu Hiện tại, đồ dùng dạy học các trường phổ thôngđược trang bị đã hơn 10 năm nay hư hỏng và xuống cấp nhiều, việc đáp ứng chocông tác thực hành thí nghiệm trong dạy và học thiếu Đồ chơi ngoài trời của cáccháu mầm non còn thiếu, chưa đáp ứng tốt nhu cầu vui chơi của các cháu
10.4 Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia:
Hàng năm, các trường đều tự đánh giá về mức độ đạt chuẩn quốc gia.Nhìn chung, các trường trong huyện đều đạt chuẩn về cán bộ quản lý; đội ngũgiáo viên, nhân viên; chất lượng giáo dục nhưng chưa đạt chuẩn về cơ sở vậtchất (thiếu diện tích đất, thiếu rất nhiều phòng chức năng, phòng học, các côngtrình phụ…) Cuối năm học 2016-2017, có 02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ
2 (Mẫu giáo Sơn Ca 3 và Tiểu học Vĩnh Thịnh A), 02 trường đạt chuẩn quốc giamức độ 1 (Mẫu giáo Măng Non, Tiểu học Vĩnh Mỹ A1), tổng số trường đạtchuẩn quốc gia trong toàn huyện là 16 trường, cụ thể: Mầm non – Mẫu giáo 05trường, Tiểu học 07 trường, Trung học cơ sở 04 trường, đạt tỷ lệ 47,06%
Tuy nhiên, trong công tác hoàn thiện các tiêu chí để đạt chuẩn quốc gia, một số trường còn ỷ lại, trông chờ cấp trên; việc trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu tầm nhìn chiến lược.
10.5 Huy động các nguồn lực cho Giáo dục và Đào tạo:
Đầu năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường trực thuộc đã vậnđộng các lực lượng xã hội giúp đỡ học sinh nghèo, tu sửa, xây dựng trường lớp1.777.074.250 đồng (một tỷ bảy trăm bảy mươi bảy triệu không trăm bảy mươibốn nghìn hai trăm năm mươi đồng) Công tác xã hội hoá tuy còn một số hạnchế nhất định, nhưng hiệu quả mang lại từ các cuộc vận động, các phong trào thiđua đã tạo thêm động lực cho ngành Giáo dục và Đào tạo huyện nhà có điềukiện phát triển vươn lên
Nhìn chung, công tác tài chính cơ sở vật chất, thư viện và sách - thiết bị
đã đi vào nề nếp, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc Song, toàn ngành vẫn còn những tồn tại, khó khăn nhất định như: nguồn vốn xây dựng cơ bản chưa đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất của ngành Giáo dục và Đào tạo; thư viện đạt chuẩn còn ít, sách - thiết bị của thư viện chưa được bổ sung đầy đủ Công tác vận động xã hội hoá chưa tốt về quy trình, về phương pháp…
11 Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục:
11.1 Tình hình đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý:
Tính đến cuối năm học toàn ngành có 1.037 cán bộ, giáo viên, nhân viên;trong đó:
- Biên chế: 993 người
Trang 11- Hợp đồng trong biên chế: 44 người (26 giáo viên và 18 nhân viên).
- Tỷ lệ giáo viên/ lớp của các cấp học:
ổn định, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên từng bước được nâng cao Song,khoảng 10% đội ngũ giáo viên ở các cấp học chưa được trang bị kiến thức tinhọc nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy còn gặp nhiềukhó khăn
- Để xây dựng, bồi dưỡng tốt đội ngũ kế thừa, Phòng Giáo dục và Đào tạo
đã tiến hành quy hoạch bổ sung cán bộ quản lý giai đoạn 2016-2021 của PhòngGiáo dục và Đào tạo và của các trường trực thuộc, đồng thời xây dựng kế hoạchbồi dưỡng và bước đầu tạo điều kiện cho đội ngũ dự nguồn trải nghiệm trongcác hoạt động của ngành
Nhìn chung, cơ cấu đội ngũ giáo viên ở các cấp học trong huyện cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy; tổ chức bộ máy ngày càng ổn định, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên từng bước được nâng cao Thế nhưng, ngành vẫn còn một số hạn chế như:
Số lượng giáo viên mầm non còn thiếu đã ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức bán trú và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Một số ít CBQL trường học thiếu sâu sát, chưa quan tâm đúng mức trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ; năng lực quản lý, điều hành của một số CBQL chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành, chưa tập hợp được đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của đơn vị,
cá biệt có nơi để xảy ra mâu thuẫn giữa CBQL với với CBQL, giữa CBQL với giáo viên, giữa giáo viên với giáo viên, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của đơn vị, của ngành Một số ít giáo viên thiếu ý thức trong thực thi công vụ; chưa làm hết vai trò, trách nhiệm của nhà giáo Vẫn còn một số đơn vị và cá nhân đánh giá, xếp loại giáo viên chưa phản ánh đúng kết quả hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc bố trí, phân công nhiệm vụ.
12 Kết quả thi đua thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu khác:
12.1 Cấp Mầm non – Mẫu giáo (MN-MG):
Trang 12- Vòng huyện:
+ Hội thi “Giáo viên giỏi”: đạt 29 giáo viên Các trường đạt kết quả cao là
MN Hoa Hồng, MG Hoa Sen, MG Sơn Ca 3 và MG Họa Mi
+ Hội thi “Bé khéo tay”: đạt 40 giải Các trường đạt kết quả cao là: MNHoa Hồng (11 giải), MG Họa Mi (07 giải), MG Sơn Ca 3 (06 giải) Giải toànđoàn: Nhất (MN Hoa Hồng), Nhì (MG Hoa Sen), Ba (MG Hoa Mai)
+ Hội thi “Bé khỏe và thông minh”: đạt 12 giải cá nhân và 09 giải đồngđội ở từng nội dung thi Giải toàn đoàn: Nhất (MN Hoa Hồng), Nhì (MG HoaSen), Ba (MG Hướng Dương)
- Vòng tỉnh:
Hội thi “Giáo viên giỏi”: đạt 09 giáo viên Các trường đạt kết quả cao là
MN Hoa Hồng (đạt 03 giáo viên), MG Họa Mi (đạt 02 giáo viên), MG Hoa Sen(đạt 01 giáo viên), MG Sơn Ca 3 (đạt 01 giáo viên), MG Hoa Mai (đạt 01 giáoviên) và MG Hướng Dương (đạt 01 giáo viên)
+ Thi giải Toán qua Internet: đạt 118 giải (02 giải nhất, 10 giải nhì, 21 giải
ba, 85 giải khuyến khích) Các trường đạt kết quả cao là: TH Hòa Bình A (53giải), TH Minh Diệu A (11 giải), TH Yên Khánh (09 giải), TH Vĩnh Hậu A (09giải), TH Vĩnh Bình A (08 giải) và TH Vĩnh Thịnh A (06 giải)
+ Thi giải Toán bằng tiếng Anh qua Internet: đạt 41 giải (03 giải nhất, 06giải nhì, 11 giải ba, 21 giải khuyến khích) Các trường đạt kết quả cao là: THHòa Bình A (24 giải), TH Vĩnh Hậu A (09 giải) và TH Yên Khánh (04 giải)
- Vòng tỉnh:
+ Thi vở sạch, chữ đẹp của học sinh: đạt 22 giải (06 giải nhì, 04 giải ba,
12 giải khuyến khích) Các trường đạt kết quả cao là: TH Hoà Bình A (07 giải),
TH Vĩnh Thịnh A (07 giải)